LUẬN VĂN: Năng lực của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong thực hiện chức năng quyết định - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Năng lực của đại biểu Hội đồng nhân dân
tỉnh Hà Tĩnh trong thực hiện chức năng
quyết định
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
(XHCN) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay, vấn đề kiện toàn tổ
chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước là một yêu cầu khách
quan. Mục đích đặt ra là làm cho các cơ quan nhà nước ở Trung ương cũng như ở địa
phương thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định
của Hiến pháp và pháp luật.
Điều 119 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi quy định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ

HĐND với định hướng làm thế nào để HĐND thực hiện được đúng vai trò chức năng của
mình, đòi hỏi cần có sự nghiên cứu toàn diện các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến tổ chức,
hoạt động của HĐND.
Hoạt động của HĐND có đạt chất lượng, hiệu quả hay không điều đó phụ thuộc
vào nhiều yếu tố khác nhau. Trong đó, yếu tố năng lực của đại biểu đóng vai trò quan
trọng, bởi hoạt động của HĐND chính là hoạt động của bản thân các đại biểu. Trong
giai đoạn cách mạng hiện nay, khi chúng ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, người đại biểu nhân dân ngoài phẩm chất đạo đức tốt còn phải là người có năng
lực, có hiểu biết về pháp luật, có trình độ nhất định về quản lý nhà nước, quản lý kinh
tế, quản lý xã hội. Có như vậy, họ mới có điều kiện thực hiện tốt chức năng của mình,
đặc biệt khi tham gia thực hiện chức năng quyết định.
Trong các cấp HĐND thì HĐND cấp tỉnh có vị trí, vai trò quan trọng nổi bật. ở
cấp này hoạt động của HĐND được thể hiện một cách bao quát và đầy đủ trên tất cả các
lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương. Vì vậy, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tổ
chức và hoạt động của HĐND cấp tỉnh trong đó có yếu tố năng lực của đại biểu HĐND
trong tham gia thực hiện chức năng quyết định sẽ tạo điều kiện thuận lợi để tìm hiểu
vấn đề này của HĐND ở các cấp khác. Vì không đủ điều kiện thời gian nghiên cứu vấn
đề này trên phạm vi cả nước nên tác giả lựa chọn nghiên cứu năng lực của đại biểu

HĐND cấp tỉnh ở một địa phương cụ thể trong tham gia thực hiện chức năng quyết
định.
Hà Tĩnh là một tỉnh miền trung thuộc diện tỉnh nghèo của Việt Nam. Tỉnh Hà
Tĩnh được tái lập từ năm 1991(tách từ tỉnh Nghệ Tĩnh cũ) trong bối cảnh cả nước bước
vào thời kỳ đổi mới, chủ trương của Đảng và nhà nước là phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần, chuyển từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa còn rất mới mẻ. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Hà
Tĩnh vẫn còn phải đương đầu với những khó khăn, thách thức đáng kể: Cơ sở vật chất
thiếu thốn, sản xuất chậm phát triển, tư tưởng tiểu nông trong cán bộ và nhân dân còn
nặng, đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành đã yếu lại thiếu trầm trọng, mất cân đối, không
đồng bộ giữa các lĩnh vực… Đó là những thách thức lớn đặt ra cho Hà Tĩnh để thực

- Bùi Huyền Mai, Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND thành phố Hà
Nội, luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật, 2004.
- Lê Minh Thông, Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật, số 6/1999.
- Vũ Đức Đán, Vấn đề bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu
HĐND, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 2/2005.
- Bùi Thế Vĩnh, Phương thức và kỹ năng hoạt động của đại biểu HĐND, trong
chương trình tập huấn đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 1999-2004, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2000.
- Hồ Thị Hưng, Nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh Nghệ An trong giai
đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, 2006.
Các công trình trên chủ yếu tiếp cận HĐND từ góc độ tổ chức và hoạt động một
cách chung chung hoặc là bàn về tính chất của HĐND hoặc là đi sâu nghiên cứu chức
năng giám sát của HĐND mà ít đề cập đến vấn đề năng lực của đại biểu HĐND. Đặc
biệt vấn đề năng lực của đại biểu HĐND trong tham gia thực hiện chức năng quyết định
thì hầu như chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu. Đặc biệt sau khi Luật
Tổ chức HĐND và Uỷ ban nhân dân (UBND) năm 2003, Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004 được ban hành thì hoạt động quyết

định của HĐND cấp tỉnh đã có nhiều vấn đề mới được đặt ra cả về lý luận và thực tiễn,
trong đó có nhiều vấn đề liên quan đến năng lực của đại biểu HĐND nhưng chưa có
một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về vấn đề này.
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề năng lực của đại biểu HĐND cấp tỉnh trong tham gia thực
hiện chức năng quyết định ở Việt Nam nói chung và ở Hà Tĩnh nói riêng là một yêu cầu
thiết thực hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực của đại biểu HĐND tỉnh Hà
Tĩnh trong tham gia thực hiện chức năng quyết định.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:

HĐND, chức năng quyết định của HĐND; về vấn đề năng lực, vị trí, vai trò của đại
biểu HĐND trong bộ máy nhà nước.
* Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài phương pháp luận của triết học Mác-Lênin, luận văn còn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh, phương pháp chuyên gia, khảo sát điều tra xã hội.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu về năng lực của đại biểu
HĐND tỉnh Hà Tĩnh trong thực hiện chức năng quyết định, bởi vậy luận văn có những
điểm mới sau đây:
- Khái quát những nét cơ bản về chức năng quyết định của HĐND cấp tỉnh.
- Làm rõ khái niệm năng lực của đại biểu HĐND, khái niệm năng lực của đại
biểu HĐND trong tham gia thực hiện chức năng quyết định.
- Đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống thực trạng về năng lực của đại biểu
HĐND tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 1999 - 2004 và từ 2004 đến nay trong tham gia thực hiện
chức năng quyết định.
- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực của đại biểu HĐND
tỉnh Hà Tĩnh trong tham gia thực hiện chức năng quyết định. Trên cơ sở đó có thể nhân

rộng mô hình này cho đại biểu HĐND cấp tỉnh ở các địa phương khác trên phạm vi cả
nước.
7. Kết cấu của luận văn
Với mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra và giới hạn đối tượng, phạm vi nghiên
cứu như trình bày trên đây luận văn được kết cấu như sau: Ngoài phần mở đầu, kết luận
và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.
hoạt động của nó rất hình thức, làm cho bộ máy nhà nước thêm cồng kềnh, tốn kém. Đó
là quan điểm hoàn toàn sai lầm vì nó trái với bản chất của Nhà nước ta - Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; theo đó phải có cơ quan đại diện của nhân dân ở trung

ương cũng như ở địa phương, cơ sở để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Như
vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là phải củng cố, kiện toàn HĐND để HĐND hoạt động thực
chất hơn và ngày càng có hiệu lực, hiệu quả tương xứng với vị trí, vai trò của HĐND
như Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định.
Vị trí, vai trò của HĐND trong bộ máy nhà nước ta được khẳng định dựa trên
những cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây:
- Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, HĐND các cấp đã khẳng định được
vị trí, vai trò, và trách nhiệm của mình. Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở
địa phương, đại diện cho nhân dân địa phương, HĐND có khả năng đoàn kết, tập hợp,
thống nhất ý chí và hành động của quần chúng, động viên được mọi nguồn lực vật chất
và tinh thần của mỗi địa phương góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách
mạng.
- Sự hiện diện của HĐND các cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng có vai trò to lớn
trong việc hình thành nhà nước kiểu mới ở nước ta, thể hiện được tính giai cấp sâu sắc,
tính giai cấp thực sự của nhà nước, tạo niềm tin vững chắc cho nhân dân về một chính
quyền của dân, do dân, vì dân.
- HĐND các cấp đã trở thành trường học về quyền làm chủ của nhân dân. Những
người có đủ năng lực, phẩm chất sẽ tham gia vào HĐND và thông qua họ, HĐND trở
thành diễn đàn để người dân lao động thực hiện quyền làm chủ Nhà nước và xã hội của
mình. Thực tiễn hoạt động của HĐND từ khi ra đời cho đến nay thực sự là tài sản và
kinh nghiệm quý báu cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân.
- HĐND là cầu nối giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương; vừa bảo
đảm sự tập trung thống nhất trong hoạt động của bộ máy nhà nước trên phạm vi toàn quốc,
vừa đảm bảo phát huy được nội lực từng địa phương, cơ sở. Thông qua Quốc hội và
HĐND các cấp, bằng quyền dân chủ trực tiếp của mình, nhân dân thực hiện được quyền

và các khu vực dân cư. Điều này có nghĩa, HĐND không đại diện cho một đảng phái, tổ
chức nào mà đại diện cho toàn thể nhân dân. Thành phần trong HĐND thể hiện khối đại
đoàn kết của toàn dân sống trên địa bàn địa phương. Tính chất đại diện của HĐND khác

với tính chất đại diện của Quốc hội. Hiến pháp năm 1992 xác định: Quốc hội là cơ quan
đại biểu cao nhất của nhân dân (Điều 83); đại biểu Quốc hội là đại diện cho nhân dân cả
nước (Điều 97). Còn HĐND là cơ quan chỉ đại diện cho nhân dân địa phương bầu ra mình,
đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương đó và cơ quan nhà nước cấp trên.
Tuy nhiên, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, cách thành lập HĐND, cơ cấu đại
biểu, hình thức hoạt động…mới chỉ là dấu hiệu về mặt hình thức, còn hiệu quả hoạt
động trong thực tế mới là cơ sở phản ánh đầy đủ nhất tính chất đại diện của HĐND.
Song hiệu quả hoạt động thực tế hiện nay của HĐND chưa thực sự đáp ứng được lòng
mong mỏi của nhân dân, mà mới chỉ phản ánh được phần nào bản chất dân chủ của chế
độ nhà nước ta.
Thứ hai, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, thể hiện ở các mặt
sau đây:
+ Được thành lập bởi các đại biểu do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý
chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân.
+ Có quyền căn cứ vào pháp luật bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức danh của
UBND là cơ quan chấp hành của mình; bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm Hội thẩm nhân dân
của Toà án nhân dân cùng cấp; cũng như có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức
danh do HĐND bầu ra.
+ Có quyền căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật ra nghị quyết để triển khai các
mặt công tác ở địa phương.
+ Có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương đồng thời
chịu sự giám sát, hướng dẫn của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và hướng dẫn, kiểm tra
của Chính phủ.
Như vậy, tính chất quyền lực của HĐND được thể hiện trên nhiều phương diện,
nhưng xét về mặt địa vị pháp lý không giống với Quốc hội. Quốc hội được Hiến pháp
ghi nhận là cơ quan quyền lực cao nhất của cả nước về phạm vi, cấp độ cũng như thẩm

13).
+ Quyết định về quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội (Điều 14).

+ Quyết định về thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo (Điều 15).
+ Quyết định về việc thi hành pháp luật (Điều 16).
+ Quyết định việc xây dựng chính quyền địa phương (Điều 17)
Như vậy, nội dung, chức năng quyết định của HĐND cấp tỉnh rất rộng, bao gồm
tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội, văn hoá, khoa học, quốc phòng, an ninh.
Điều này một lần nữa khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò và tầm quan trọng của HĐND
trong chính quyền địa phương. Mặt khác, đây cũng là những căn cứ pháp lý để tạo ra
môi trường thuận lợi cho chính quyền địa phương khai thác hết mọi tiềm năng, nội lực
sẵn có của mình, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân địa phương,
làm tròn nghĩa vụ đối với cử tri và cấp trên giao cho.
ở đây chúng ta cần lưu ý, theo quy định của pháp luật, trong chức năng quyết
định, HĐND có thẩm quyền rất lớn đối với sự phát triển toàn diện của địa phương. Vì
vậy, khi đưa ra các quyết định đó phải đảm bảo tính dân chủ và tính khả thi trên thực tế,
tránh tình trạng mọi vấn đề được quyết định trước, đến kỳ họp HĐND, đại biểu chỉ giơ
tay biểu quyết một cách hình thức, không có sự bàn bạc, thảo luận. Thực hiện thảo luận
và biểu quyết dân chủ là điều kiện đảm bảo chất lượng đối với các quyết định của Hội
đồng.
Để thực hiện chức năng quyết định, HĐND thông qua các kỳ họp ra các nghị
quyết dựa trên nguyên tắc biểu quyết theo đa số. Để ban hành các nghị quyết quyết định
các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, HĐND phải tiến hành các kỳ họp
để lấy ý kiến của tập thể đại biểu. Kỳ họp chỉ được coi là hợp lệ khi có ít nhất 2/3 số đại
biểu tham dự và các nghị quyết được coi là hợp pháp khi có tối thiểu quá nửa số đại
biểu dự họp tham gia biểu quyết (trừ trường hợp bãi nhiệm đại biểu HĐND). Như vậy,
để ban hành các nghị quyết, HĐND phải phát huy vai trò trí tuệ tập thể, phải được sự
thống nhất ý chí của các đại biểu và phải đạt được sự đồng thuận với ý chí, nguyện
vọng của cử tri và nhân dân địa phương. Bởi vậy, để các nghị quyết đạt được tính khả
thi cao trong thực tế đòi hỏi các đại biểu phải thực sự có năng lực, có kỹ năng hoạt động

nâng cao đời sống cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.

1.1.2.2. Chức năng giám sát
Đoạn 3 Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định:
HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của thường trực HĐND,
UBND,TAND,VKSND cùng cấp; giám sát việc thực hiện nghị quyết của HĐND;
giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương [31, tr.10].
Qua quá trình phát triển, vai trò, chức năng giám sát của HĐND ngày càng được
hoàn thiện. Đặc biệt, với sự ra đời của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã
đánh dấu một bước phát triển mới về chức năng giám sát của HĐND cả về mặt lý luận
cũng như thực tiễn, nâng cao được vị thế và vai trò của HĐND hiện nay.
Chức năng giám sát của HĐND bao giờ cũng gắn liền với chức năng quyết định
những vấn dề cơ bản về kinh tế, xã hội của HĐND. Thực hiện tốt chức năng này không
những cho phép HĐND kiểm tra, đánh giá hoạt động của các cơ nhà nước trong việc
tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, các nghị quyết của HĐND mà còn cho phép HĐND phát
hiện được sự không phù hợp, thiếu thực tế của các nghị quyết do HĐND ban hành để
sửa đổi, bổ sung. Kết quả giám sát sẽ là căn cứ để HĐND thực hiện quyền bãi nhiệm,
miễn nhiệm các chức vụ chủ chốt (Chủ tịch, Phó Chủ tich HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ
tịch và các thành viên của UBND, Trưởng ban và các thành viên các ban của HĐND)
hoặc sẽ là căn cứ để HĐND bãi bỏ những quyết định sai trái của UBND cùng cấp và
những Nghị quyết sai trái của HĐND cấp dưới trực tiếp.
Như vậy,
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, vị trí, vai trò và chức năng
của HĐND rất lớn. Vấn đề đặt ra hiện nay chúng ta phải làm thế nào để
HĐND thể hiện và phát huy tốt vị trí, vai trò và chức năng của Hội đồng trên
thực tế; đảm bảo sự phối hợp, hợp tác với nhau giữa các cơ quan nhà nước ở
địa phương nhằm đưa lại cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc cho người
dân [27, tr.141 - 143].

thể là đại biểu của tổ chức phụ nữ, thanh niên, tổ chức nông dân, tổ chức tôn giáo, dân
tộc ít người…

- Đại biểu HĐND thay mặt cho cử tri của mình ghi nhận, phản ánh ý chí, nguyện
vọng của cử tri. Bằng hoạt động của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương đại biểu HĐND biến ý chí và nguyện vọng của cử tri thành các quyết định
mang tính pháp lý của nhà nước. Những nghị quyết được HĐND ban hành sẽ được các
cơ quan quản lý hành chính nhà nước tổ chức thực hiện.
- Đại biểu HĐND về thực chất là người thực hiện quyền lực nhân dân theo
phương thức thay mặt đại cử tri trên phạm vi lãnh thổ. Bản thân quyền lực của người
đại biểu HĐND có được là do nhân dân trao cho. Đại biểu HĐND được hình thành theo
nguyên tắc bầu cử trực tiếp của cử tri.
Qua đó, khẳng định đại biểu HĐND là thành viên của cơ quan quyền lực nhà
nước ở địa phương, là một bộ phận cấu thành không thể tách rời với quyền lực nhà
nước thống nhất trong phạm vi cả nước. Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, họ vừa chịu trách nhiệm
trước nhân dân địa phương, vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên về
mọi mặt kinh tế - xã hội, đảm bảo thực hiện Hiến pháp, Luật và các quyết định của các
cơ quan nhà nước.
Như vậy, đại biểu HĐND cấp tỉnh trong hoạt động của mình là thay mặt nhân
dân toàn tỉnh thực hiện quyền lực nhà nước, quyết định các vấn đề quan trọng để phát
huy các tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, biến ý chí,
quyền lực của nhân dân trên địa bàn trở thành quyền lực nhà nước, thể hiện bằng các
quyết định của nhà nước. Đồng thời, đại biểu HĐND tỉnh thực hiện quyền giám sát hoạt
động tuân theo pháp luật của UBND cùng cấp, của các cơ quan nhà nước, các tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân ở địa phương.
Người đại biểu HĐND cấp tỉnh có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, đại biểu HĐND cấp tỉnh là người đại diện có thẩm quyền của nhân dân
địa phương. Tính đại diện của đại biểu HĐND cấp tỉnh thể hiện ở chỗ:
- Được nhân dân địa phương trao quyền thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân

hệ với các cơ quan nhà nước và với cán bộ các cơ quan nhà nước đó, với các tổ chức xã

hội và nhân dân. Đại biểu có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước về việc thi hành
pháp luật, về những vấn đề thuộc lợi ích chung, các cơ quan nhà nước nhận được kiến
nghị có nghĩa vụ trả lời đại biểu. Đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước,
tổ chức xã hội kịp thời chấm dứt việc làm trái pháp luật. Các cơ quan khi được đại biểu
HĐND cấp tỉnh yêu cầu gặp thì phải tổ chức tiếp đại biểu theo đúng quy định.
Thứ ba, hoạt động của đại biểu HĐND cấp tỉnh không tách rời với hoạt động
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trong quản lý nhà nước.
Đây là hoạt động tất yếu trong chức trách của đại biểu HĐND. Bởi vì, chế độ đại
biểu của nhà nước Việt Nam là không làm cho các đại biểu trở thành các nghị sỹ trong chế
độ đại nghị. Đồng thời để đại biểu hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, pháp luật còn quy định
những điều kiện cần thiết, tạo khả năng thiết thực cho đại biểu thực hiện đầy đủ tính đại
diện nhân dân, thực thi quyền lực nhà nước trong hoạt động của HĐND trong phạm vi địa
phương. Cụ thể:
- Đại biểu HĐND là người đại diện của nhân dân, được cử tri trao quyền từ
quyền lực nhân dân tập hợp thành cơ quan nhà nước ở địa phương.
- Đại biểu HĐND là thành viên của tập thể HĐND tham gia quyết định những vấn đề
quan trọng của địa phương trong phạm vi thẩm quyền của HĐND.
Đại biểu HĐND là người đại diện cho quyền lực nhà nước trong quan hệ với các
cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân.
Đại biểu HĐND cấp tỉnh có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau:
Một là, quyền và nghĩa vụ trong thẩm quyền hoạt động của HĐND và trong cơ
cấu tổ chức của HĐND, gồm có:
+ Tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của HĐND.
+ Quyền bầu cử và ứng cử trong các cơ quan của HĐND;
+ Quyền đề nghị vào chương trình nghị sự của kỳ họp những vấn đề mà đại biểu
HĐND xét thấy cần thiết để HĐND xem xét và quyết định. ý kiến của đại biểu phải
được ghi vào biên bản của kỳ họp;
+ Quyền chất vấn Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, các thành viên của UBND

kiến nghị những biện pháp ngăn chặn vi phạm pháp luật và tiêu cực trong cơ quan, tổ

chức. Kiến nghị truy cứu trách nhiệm đối với những cán bộ, công chức nhà nước có
hành vi vi phạm pháp luật;
+ Quyền giám sát, theo dõi, đôn đốc hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
+ Quyền yêu cầu gặp lãnh đạo các cơ quan, tổ chức. Người có thẩm quyền quản
lý cơ quan có trách nhiệm phải tiếp và giải quyết yêu cầu đó;
+ Các cơ quan hành chính nhà nước và cán bộ nhà nước trong phạm vi thẩm
quyền có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp tư liệu, thông tin, địa điểm tiếp xúc cử tri,
phương tiện giao thông cho hoạt động của đại biểu HĐND;
+ Đại biểu HĐND có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Mặt trận tổ quốc và các
đoàn thể trong hoạt động đại biểu HĐND.
Bốn là, quyền của đại biểu HĐND cấp tỉnh trong tăng cường pháp chế.
Bảo đảm pháp chế là đòi hỏi đối với mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và
mọi công dân. Vì vậy, đại biểu vừa phải tiến hành mọi hoạt động của HĐND theo đúng
quy định của pháp luật, vừa có nghĩa vụ tham gia phát hiện, đấu tranh phòng chống mọi
hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy:
+ Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước về việc thi
hành chính sách, pháp luật và những vấn đề thuộc lợi ích chung của cộng đồng dân cư
địa phương;
+ Đại biểu HDND có quyền yêu cầu các tổ chức, cơ quan nhà nước chấm dứt
những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật hoặc xâm phạm đến quyền lợi của nhân dân;
+ Đại biểu HĐND có quyền giám sát, kiến nghị các cơ quan tư pháp trong việc
thi hành các quyết định, bản án hình sự, dân sự, kinh tế…ở địa phương theo đúng thủ
tục tố tụng tư pháp.
Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết đại biểu HĐND có quyền từ chức, có quyền
đề nghị HĐND xem xét yêu cầu thôi hoạt động HĐND của mình theo quy định của
pháp luật. Khi đại biểu HĐND vi phạm quy chế hoạt động của HĐND hoặc vi phạm
pháp luật thì tuỳ theo mức độ vi phạm, đại biểu HĐND sẽ bị bãi nhiệm, miễn nhiệm và


Kể từ khi nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời cho đến nay, Đảng ta
luôn coi trọng vị trí của HĐND cấp tỉnh là nền tảng cấu trúc chiến lược trong xây dựng
hệ thống chính trị. Vì vậy, vai trò của đại biểu HĐND tỉnh luôn được đổi mới theo
hướng hoàn thiện và nâng cao vị thế thực quyền của cơ quan quyền lực nhà nước địa
phương. Trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hiện nay, đại biểu HĐND cấp
tỉnh đã và đang phát huy vai trò của mình trong thực hiện thắng lợi đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước ở từng địa bàn dân cư. Điều đó
cho thấy đã có sự lớn mạnh và biến đổi sâu sắc về số lượng và nâng lên về chất lượng,
cả về phẩm chất, năng lực, nhận thức của người đại biểu theo yêu cầu nhiệm vụ mới
của cách mạng.
Chính vì vậy, sự hiện diện của đại biểu HĐND tỉnh trong bộ máy nhà nước là
một yêu cầu khách quan không thể thiếu. Đó là một bộ phận cấu thành quyền lực nhà
nước, quyền lực nhân dân để đảm bảo thực thi có hiệu lực, hiệu quả và phù hợp mọi
quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Tính thực quyền thể hiện vai trò của
đại biểu HĐND cấp tỉnh.
Có thể thấy, vai trò của đại biểu HĐND cấp tỉnh trong mọi hoạt động nói chung
và trong thực hiện chức năng quyết định nói riêng luôn được phát huy trong mọi thời
điểm lịch sử. Trong hoạt động của mình gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng,
đại biểu HĐND luôn khẳng định được vị trí quan trọng của mình. Đại biểu HĐND tỉnh
luôn có quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến đời
sống nhân dân, đảm bảo mọi quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Đây chính là nền
tảng góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Theo quy định tại Điều 8 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì hiệu quả
hoạt động của HĐND cấp tỉnh cũng như HĐND các cấp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,
trong đó yếu tố năng lực hoạt động của đại biểu đóng vai trò quan trọng. Trong điều
kiện hiện nay, do đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng như quá
trình hội nhập quốc tế của đất nước, yêu cầu đặt ra đối với người đại biểu HĐND ngày
càng cao. Người đại biểu HĐND trong thời đại mới cần phải đáp ứng được đầy đủ các

Trích đoạn Nguyên nhân yếu kém, tồn tại ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện chức năng quyết định của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu khách quan nâng cao năng lực của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong thực hiện chức năng quyết định Nâng cao năng lực của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh phải bám sát yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong Năng lực của đại biểu Hội đồng nhân dân phải được nâng cao thường Đổi mới nhận thức về vai trò của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status