LUẬN VĂN:
Một số biện pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và
quản lý mạng lưới kênh phân phối dược
phẩm trong nước tại Công ty Dược Phẩm
Trung Ương I
Trên thị trường ở Việt Nam hiện nay, số lượng doanh nghiệp sản xuất dược phẩm
thì ít nhưng nhu cầu dược phẩm lại lớn nên hệ thống kênh phân phối của ngành dược
phẩm rất đa dạng, từ kênh dài tới kênh ngắn, trực tiếp tới gián tiếp, đặc biệt các cửa
hàng bán lẻ thuốc rất phát triển do người tiêu dùng thường mua thuốc ở đây. Để cho hệ
thống này hoạt động thông suốt, hiệu quả thì các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh
dược phẩm cần phải tổ chức các kênh phân phối của mình một cách hợp lý và quản lý
chúng chặt chẽ.
Trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường dược trong nước, để có thể
tồn tại và giữ vững vị trí của mình thì công ty dược phẩm TW1 phải có những biện pháp
tích cực trong công tác quản lý của mình.Một trong biện pháp giúp công ty có thể đạt
được các mục tiêu đã đặt ra chính là quản lý kênh phân phối. Kênh phân phối là một
trong bốn công cụ marketing mix của doanh nghiệp, có vai trò quan trọng trong hoạt
động tiêu thụ sản hàng hoá với chức năng là đường dẫn các nỗ lực marketing tổng thể
của doanh nghiệp tới thị trường mục tiêu. Kênh phân phối sẽ là một lợi thế cạnh tranh
dài hạn và có hiệu quả nếu nó được tổ chức tốt và quản lý đúng phương pháp. Kênh
phân phối là yếu tố khó thay đổi nhất trong marketing mix và lại không dễ dàng bị sao
chép bởi đối thủ cạnh tranh. Việc quản lý tốt hệ thống kênh hiện có sẽ giúp công ty khai
thác tốt tiềm năng thị trường và hạn chế sự đe doạ của đối thủ cạnh tranh cả hiện tại
cũng như tiềm ẩn. Mặc dù công ty đã có rất nhiều biện pháp hoàn thiện kênh phân phối
nhưng từ khi Việt Nam gia nhập WTO tình hình thị trường ngày càng cạnh tranh, trước
đây công ty Dược phẩm TW 1 là 100% vốn nhà nước hoạt động theo cơ chế bao cấp,
bây giờ đã phải thay đổi để đáp ứng với nhu cầu của thị trường. Khi Việt Nam mở cửa
các công ty dược phẩm đa quốc gia đã nhanh chóng nhảy vào Việt Nam để chiếm lĩnh
thị trường. Nếu công ty không tiếp tục hoàn thiện kênh phân phối sẽ dần dần mất thị
trường, các đối thủ cạnh tranh sẽ tìm mọi cách tiếp cận thị trường, sử dụng các chiến
lược marketing kinh doanh để giành giật thị trường với công ty Dược phẩm TW1. Khi
công ty không tìm cách hoàn thiện mình thì sẽ dần dần mất thị trường giảm doanh thu
- Các trung gian các cửa hàng thuốc của công ty dược phẩm TW1 và người
tiêu dùng.
Phương pháp nghiên cứu:
- Tại bàn: nghiên cứu số liệu của công ty và xem thực trạng kinh doanh của công
ty hiện nay từ đó tìm ra được các giải pháp phù hợp
- Thực địa: tìm hiểu nhu cầu sử dụng thuốc và tiêu thụ thuốc của công ty trên thị
trường để đánh giá được tình hình phân phối thuốc của công ty và thực trạng
kinh doanh trên thực tế
Phạm vi nghiên cứu: Trên địa bàn Hà nội
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2007 đến tháng 4/2007.
4.Những nội dung cơ bản của chuyên đề:
Qua quá trình nghiên cứu em xin trình bày chuyên đề của mình
Chương 1:Tổ chức và quản lý kênh phân phối các sản phẩm dược phẩm ở
Việt Nam
Chương 2:Thực trạng tổ chức và quản lý mạng lưới kênh phân phối ở công
ty dược phẩm TW1
Chương 3:Một số biện pháp nhằm hoàn thiện việc tổ chức và quản lý mạng
lưới kênh phân phối dược phẩm tai công ty dược phẩm TW1
lưới kênh phân phối sản phẩm của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay việc hoàn thiện kênh phân phối là điều hết
sức cần thiết .Nếu không tự hoàn thiện mình các doanh nghiệp sẽ tự dần đào thải mình
ra khỏi thị trường
Muốn hoàn thiện được kênh phân phối và tổ chức nó 1 cách hiệu quả thì ta phải
hiểu rõ vai trò của kênh phân phối là gì và thực trang kênh phân phối ở Việt Nam hiện
nay như thế nào ?
a. Vai trò của kênh phân phối trong nền kinh tế thị trường hiện nay là thực hiện
công việc chuyển hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Nó vượt qua những
ngăn cách về thời gian, không gian và quyền sở hữu xen giữa hàng hoá và dịch vụ với
những người sẽ sử dụng chúng. Các thành viên trong một kênh phân phối thực hiện một
số chức năng then chốt và tham gia vào những dòng Marketing sau:
-Thông tin: Thu thập và phổ biến thông tin cùng nghiên cứu Marketing về các
khách hàng tiềm ẩn và hiện có, các đối thủ cạnh tranh và những thành viên cùng những
lực lượng khác trong môi trường Marketing.
-Khuyến mãi: Soạn thảo và truyền bá những thông tin về hàng hoá nhằm thu hút
khách hàng.
- Thương lượng: Cố gắng đạt cho được thoả thuận cuối cùng về giá cả và những
điều kiện khác để có thể thực hiện được việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử
dụng hàng hoá, dịch vụ.
- Đặt hàng: Thông tin phản hồi về ý đồ mua hàng của các thành viên kênh phân
phối gửi đến người sản xuất.
- Tài trợ: Tìm kiếm và phân bổ vốn cần thiết để dự trữ hàng hoá ở các cấp khác
nhau của kênh phân phối.
- Chấp nhận rủi ro: Gánh chịu những rủi ro liên quan tới việc thực hiện hoạt
động của kênh.
Lực lợ ng
bán hàng
của doanh
nghiệp
Ng ời
sản
xuất
(tổ
chức
đầu
nguồn)
Ng ời
sử
dụng
sản
phẩm
Ng ời
bán lẻ
Ng ời
Doanh nghiệp
Đ ại lý
Lực l ợ ng bán
hàng của
doanh nghiệp
Khách hàng (ng ời sử dụng)Ngun: Giỏo trỡnh Marketing TM ca TS Nguyn Xuõn Quang
Trong dạng kênh này doanh nghiệp không sử dụng người mua trung gian để phân
phối hàng hoá mà lực lượng bán hàng của doanh nghiệp (kể cả đại lý hoa hồng có hợp
đồng) chịu trách nhiệm trực tiếp bán hàng đến tận người sử dụng hàng hoá (người mua
công nghiệp đối với hàng tư liệu sản xuất và người tiêu thụ cuối cùng đối với hàng tiêu
dùng). Thường áp dụng với hàng công nghiệp vì lượng khách hàng ít, tập trung về mặt
địa lý và mua với số lượng lớn cho mỗi lần mua.
* Kênh phân phối gián tiếp
Là dạng kênh phân phối mà trong đó doanh nghiệp không trực tiếp mà bán hàng
của mình cho người sử dụng sản phẩm thông qua các người mua trung gian là nhà bán
buôn các cấp hay nhà bán lẻ. Tùy theo từng trường hợp mà doanh nghiệp có thể lựa
chọn người mua trung gian phù hợp. Thường áp dụng cho hàng hoá tiêu dùng thông
thường vì khối lượng khách hàng lớn, phân tán về địa lý và mỗi lần thường mua với số
lượng nhỏ.
Sơ đồ 1.3 Dạng kênh phân phối gián tiếp
ng êi mua
trung gian
Kh¸ch hµng
Kh¸ch hµng
Nguồn: Giáo trình Marketing TM của TS Nguyễn Xuân Quang
Đây là một phương án lựa chọn kênh phân phối trên cơ sở sử dụng đồng thời cả
hai dạng kênh phân phối trực tiếp và gián tiếp. Doanh nghiệp vừa tổ chức bán hàng hoá
trực tiếp đến tận tay người sử dụng, vừa khai thác lợi thế trong hệ thống phân phối của
người mua trung gian.
Ngoài ra, có thể phân chia các dạng kênh phân phối theo tiêu thức dài - ngắn. Để
thiết kế kênh phân phối hàng hoá, doanh nghiệp có thể lựa chọn dạng kênh dài hoặc
kênh ngắn và cũng có thể phối hợp cả hai dạng trên để có phương án kênh hỗn hợp.
* Kênh phân phối ngắn
Là dạng kênh phân phối trực tiếp từ doanh nghiệp đến người sử dụng sản phẩm
hoặc có sử dụng người mua trung gian nhưng không có quá nhiều người mua trung gian
xen giữa khách hàng và doanh nghiệp. Thông thường kênh ngắn được xác định trong
trường hợp không có hoặc chỉ có một loại người mua trung gian tham gia vào kênh
phân phối của doanh nghiệp.
Dạng kênh này có ưu điểm là không làm tăng nhiều chi phí trung gian trong bán
hàng. Doanh nghiệp có thể thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc "gần" với khách hàng để
hiểu rõ và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của họ.
Đồng thời với dạng kênh này doanh nghiệp có thể kiểm soát tốt hơn quá trình
bán hàng, kiểm soát và điều chỉnh tốt hơn các mục tiêu và công cụ Marketing của mình.
Tất cả mọi thành viên của kênh đều phải đối mặt với các quyết định tổ chức
kênh. Tuy nhiên đối với người bán lẻ, thiết kế kênh được xem xét từ phương diện đối
lập với những người sản xuất. Những người bán lẻ nhìn lên phía trên kênh trong cố
gắng để có những nhà cung cấp tốt hơn là nhìn xuống phía dưới kênh tới thị trường
người tiêu dùng cuối cùng (như trong trường hợp đối với người sản xuất). Những người
bán buôn đứng giữa đối mặt với các quyết định thiết kế kênh về cả hai phía: thượng
nguồn và hạ nguồn của kênh.
Khi các doanh nghiệp tổ chức kênh phân phối để tiêu thụ sản phẩm, họ có thể
theo nhiều cách khác nhau, nhưng những công việc cơ bản mà doanh nghiệp phải thực
hiện trong quá trình tổ chức kênh là:
1> Nhận dạng nhu cầu thiết kế kênh phân phối của doanh nghiệp
2> Xác định và phối hợp các mục tiêu phân phối
3> Phân loại các công việc phân phối
4> Đánh giá các biến số ảnh hưởng đến cấu trúc kênh
5> Xác định các cấu trúc kênh có thể thay thế
6> Lựa chọn cấu trúc kênh tối ưu
7> Lựa chọn các thành viên tham gia vào kênh
Mỗi công việc trên phải được thực hiện cẩn thận và theo một trình tự phù hợp để
thiết lập được hệ thống kênh phân phối hiệu quả.
Sau khi doanh nghiệp đã lựa chọn loại cấu trúc kênh và các thành viên của kênh,
hoàn thiện tổ chức các quan hệ trong kênh thì một kênh phân phối hoạt động như một
tổng thể hình thành. Hệ thống kênh có thể được xem như là một hệ thống xã hội trong
đó mỗi thành viên phụ thuộc vào những người khác, mỗi thành viên giữ một vai trò nhất
định và họ có những kỳ vọng nhất định vào các người khác. Doanh nghiệp phải thực
hiện chức năng quản lý điều hành hoạt động của các hệ thống kênh phân phối của mình.
Quản lý kênh phân phối được hiểu là toàn bộ các công việc quản lý điều hành
hoạt động của hệ thống kênh nhằm đảm bảo sự hợp tác giữa các thành viên kênh đã
được lựa chọn qua đó thực hiện các mục tiêu phân phối của doanh nghiệp. Quản lý kênh
đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của cơ quan kiểm tra chất lượng Nhà nước
về thuốc với mục đích đảm bảo thuốc được sản xuất ra phải luôn đạt tiêu chuẩn chất
lượng đã quy định và tiêu chuẩn này cũng luôn luôn phải được đảm bảo trong quá trình
lưu thông phân phối thuốc.
Với các sản phẩm dược phẩm, không đảm bảo chất lượng nếu để lưu thông trên
thị trường sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và quyền lợi người tiêu dùng, thậm chí
có thể gây chết người. Vì tính chất đặc biệt này nên việc phòng chống thuốc giả, thuốc
kém chất lượng cần được đặc biệt quan tâm không những từ phía nhà sản xuất kinh
doanh mà còn từ phía cơ quan quản lý Nhà nước về Y tế nói chung và về Dược nói
riêng nhằm đảm bảo an toàn sức khoẻ và tính mạng của người dân, làm lành mạnh thị
trường dược phẩm.
2.Dược phẩm - sản phẩm cần có sự chỉ dẫn và định hướng sử dụng của thầy thuốc
Dược phẩm được sử dụng một cách đặc biệt theo sự hướng dẫn của thầy thuốc.
Dược phẩm cho người được sản xuất từ một hoặc nhiều nguyên liệu dược dụng khác
nhau, các nguyên liệu này lại có cấu trúc hoá học có thể tác động lẫn nhau. Vì vậy thuốc
vừa có tác dụng chính trong điều trị bệnh song cũng có thể gây ra những tiêu dùng phụ
không mong muốn. Điều này đòi hỏi bất kỳ người bệnh hoặc người tiêu dùng nào cũng
phải được chỉ định về loại thuốc, số lượng, liều lượng, cách dùng, tác dụng phụ của
thuốc có thể xảy ra trong quá trình dùng thuốc phòng và điều trị bệnh.
3.Dược phẩm - một sản phẩm cần đạt những yêu cầu chặt chẽ
Dược phẩm có quy định chặt chẽ về chất lượng thuốc và thời gian sử dụng hay
còn gọi là "tuổi thọ của thuốc" nên trong quá trình sản xuất kinh doanh dược phẩm,
người sản xuất kinh doanh, cơ quan quản lý Nhà nước về Dược và đặc biệt là người tiêu
dùng cần thiết phải luôn luôn theo dõi chất lượng và tuổi thọ của thuốc. Trong thời hạn
sử dụng, thuốc sẽ phát huy tốt tác dụng, nếu quá thời hạn đó thuốc có thể giảm chất
lượng hoặc không còn tác dụng và sẽ gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng người
III. Tổ chức và quản lý kênh phân phối dược phẩm ở Việt Nam
Hiện tại ở Việt nam, kênh phân phối dược phẩm được quan niệm là là dòng
chuyển giao quyền sở hữu dược phẩm từ doanh nghiệp sang người tiêu dùng cuối cùng
và các đơn vị, doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm khác.
Kênh phân phối dược phẩm được trải khắp các nơi trên toàn quốc để đến được
tay ngưòi tiêu dùng.Việc tổ chức và quản lý kênh phân phối dược phẩm hiện nay cũng
đã được Nhà nước quan tâm đúng mức đang ngày càng hoàn thiện hơn, mặc dù vẫn còn
nhiều khó khăn bất cập trước nền kinh tế thị trường mở cửa đầy biến động
Kênh phân phối dược phẩm ở việt nam mang đầy đủ tính chất của 1 kênh phân
phối trong nền kinh tế thị trường mặc khác nó còn mang 1 số tính chất riêng do dược
phẩm là 1 sản phẩm đặc biệt
Nó chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bên ngoài khiến cho cơ cấu kênh phân phối
việt nam có nhiều dặc điểm. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức và quản lý mạng
lưới kênh phân phối dược phẩm ở các doanh nghiệp có thể kể đến là:
- Môi trường kinh tế: Nền kinh tế ngày càng phát triển đã làm cho cuộc sống của
nhân dân ngày càng được cải thiện, sức khoẻ ngày càng được quan tâm hơn từ đó nhu
cầu sử dụng những loại thuốc tốt, đắt tiền cũng tăng lên theo. Khi Việt Nam hội nhập
kinh tế với các nước trên thế giới, thị trường dược phẩm cũng phải mở cửa để cho nhiều
hãng dược phẩm lớn của nước ngoài xâm nhập và cạnh tranh với các hãng của Việt
Nam.
- Môi trường văn hoá xã hội: Sự thay tăng dân số nhanh chóng và các bệnh nan
y, bệnh lạ ngày càng xuất hiện nhiều đã làm nhu cầu sử dụng thuốc ngày càng tăng lên.
Nhiều người dân vẫn còn xu hướng sính dùng hàng ngoại nên số lượng thuốc nhập
ngoại rất lớn dù trong nước đã sản xuất được gây ảnh hưởng đến sự phát triển ngành sản
xuất dược phẩm trong nước.
- Môi trường kỹ thuật công nghệ: Nhờ công nghệ thông tin phân phối giúp tổ
- Đặc điểm của từng nhóm khách hàng.
- Số lượng các thành viên tham gia vào kênh…
Trước sự ảnh hưởng của các môi trường tác động như thế kênh phân phối dược
phẩm ở Việt Nam thường là kênh hỗn hợp để phù hợp với thực tế.
Nối riêng thì các tác nhân có thể tác động trực tiếp đến kênh phân phối dược phẩm
ở Việt nam hiện nay gồm có
- Người tiêu dùng: Người dân ngày càng nâng cao trình độ văn hoá học vấn việc
đòi hỏi sử dụng thuốc càng phức tạp. Ngưòi tiêu dùng có xu hướng hay mua
thuốc tại các cửa hàng thuốc chính vì thế kênh phân phối gián tiếp cũng đặc biệt
được chú trọng.Thứ hai là rất nhều người chú trọng sử dụng thuốc ngoại vì thế
ảnh hưởng không ít đến sự phát triển của dược phẩm trong nước.
- Các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm: Trước nền kinh tế mở cửa ngày càng
cạnh tranh các doanh nghiệp nước ngoài nhảy vào việt nam gây không ít khó
khăn cho các doanh nghiệp trong nước. Chính vì thế các doanh nghiệp trong
nứơc đã có những điều chỉnh phù hợp để cạnh tranh được., từ đó kênh phân phối
dược phẩm ở việt nam ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp
-Yêu cầu và can thiệp của nhà nước: Vì dược phẩm là một sản phẩm đặc thù mang
tính chất riêng, nó ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dùng,chính vì thế nhà
nước đặc biệt chú trọng đến việc tiêu dùng và phân phối thuốc. Nhà nước xây
dựng các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh
dược phẩm còn phải quan tâm đến việc xây dựng quy định về Y đức, Dược Đức
cho người hành nghề Y và Dược, đồng thời có biện pháp xử phạt nghiêm minh
đối với những người vi phạm quy định về hành nghề đặc biệt là vi phạm về đạo
đức nghề nghiệp. Điều này ảnh hưỏng nhiều đến kênh phân phối dược phẩm ở
việt nam.Nó mang tác động tích cực đến bộ mặt dược phẩm.Sự can thiệp của nhà
nước giúp các doanh nghiệp trong nước có điều kiện phát triển đồng thời cũng
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ MẠNG LƯỚI KÊNH
PHÂN PHỐI Ở CÔNG TY DƯỢC PHẨM TWI
I. Tổng quan về Công ty dược phẩm TW1
1. Công ty dược phẩm TW1
1.1. Giới thiệu về Công ty
Công ty Dược phẩm Trung ương 1 là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, hạch
toán độc lập và là thành viên của Tổng công ty Dược Việt Nam.
Công ty là doanh nghiệp Nhà nước hạng 1, được thành lập lại với tên gọi như
hiện nay theo quyết định số 408-BYT-QĐ ngày 22/4/1993 của Bộ Trưởng Bộ Y tế Việt
Nam.
Tên giao dịch quốc tế là: Central Pharmaceutical Company Number One (CPC
1).
Trụ sở chính: 356 đường Giải Phóng, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Điện thoại: 04.8641342; 6647338 – Fax: 04.8462106.
Tài khoản số: 10201 00000 28055 tại Sở Giao dịch 1 , ngân hàng Công thương
Việt Nam.
Mã số thuế: 01001 08536-1
Ngoài trụ sở chính, công ty còn có các chi nhánh và hiệu thuốc cụ thể như sau:
- Chi nhánh TP Hồ Chí Minh địa chỉ tại 299/23L Lý Thường Kiệt, phường 15,
quận 11, TP Hồ Chí Minh.
- Chi nhánh Bắc Giang: đường Thánh Thiên, TP Bắc Giang.
- Cửa hàng thuốc liên doanh Nghệ An tại đường Nguyễn Thị Minh Khai, TP Vinh,
tỉnh Nghệ An.
- Các hiệu thuốc từ số 1 đến số 10 đặt tại nhiều địa điểm trong TP Hà Nội: 356
đường Giải Phóng, 136 Nguyễn Lương Bằng, 105/106 Nguyễn Công Trứ, Khu
đô thị mới Định Công, số 7 và 8 Ngọc Khánh, 31 Láng Hạ.
thành phố trên cả nước. Hệ thống quản lý chất lượng được hoàn thiện, vận hành theo
tiêu chuẩn của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001-2000, nổi bật là hệ thống kho đạt
tiêu chuẩn thực hành bảo quản tốt -GSP (Good Store Practise) và phòng Kỹ thuật kiểm
nghiệm được trang bị khá hiện đại và hoạt động hiệu quả.
1.2.2. Quá trình phát triển
Trong suốt hơn 60 năm hoạt động trên lĩnh vực phân phối dược phẩm và thiết bị
Y tế, vượt qua bao nhiêu khó khăn, thử thách trong chiến tranh và trong hòa bình, công
ty đã luôn luôn đứng vững, đi lên và phát triển. Với sự linh hoạt, nhanh nhạy trong cơ
chế thị trường, toàn thể nhân viên trong công ty đã nỗ lực hết mình hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ kinh doanh và chính trị của ngành mà Đảng và Bộ Y tế đã giao phó.
Trong kháng chiến chống Mỹ, công ty đã góp phần tích cực trong việc chăm sóc
sức khỏe nhân dân, bộ đội nhằm chống lại chiến tranh phá hoại miền Bắc của kẻ thù,
vận chuyển thuốc men, thiết bị vật tư y tế cho các chiến trường B, C, K. Công ty vừa là
một tổng kho dự trữ thuốc men, vừa là đầu mối duy nhất cung ứng dược phẩm, hóa chất
dược cho các tỉnh từ Bình Trị Thiên trở ra miền Bắc kể cả sau ngày giải phóng miền
Nam năm 1975.
Khi đất nước bắt đầu công cuộc đổi mới, công ty D-îc phÈm TW1 vẫn giữ được
truyền thống là đơn vị đầu ngành ở phía Bắc, hoàn thành hai nhiệm vụ cơ bản. Công ty
vừa làm nhiệm vụ kinh doanh , vừa vẫn hoàn thành tốt các nhiệm vụ công ích như: dự
trữ thuốc quốc gia, nhập khẩu, cung ứng thuốc cho các chương trình cộng đồng, phòng
chống bệnh xã hội (lao, phong, AIDS…), thuốc cấp cứu, điều trị cho các đợt bị thiên tai,
thảm họa, dịch bệnh ….
Hiện nay, trong cơ chế thị trường bị cạnh tranh gay gắt, công ty đã linh hoạt uyển
chuyển trong chiến lược và chiến thuật kinh doanh. D-îc phÈm TW1 đã thực hiện tốt
việc định hướng đầu tư chiều sâu theo hướng hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa trong
công nghệ phân phối thuốc, vật tư y tế theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Công ty
Việt nam, Cục Quản lý Dược Việt Nam giao phó.
- Thực hiện nộp thuế đầy đủ cho ngân sách Nhà nước, trích nộp cho Tổng Công ty
Dược Việt Nam theo các quy định của điều lệ và quy chế tài chính của Tổng
công ty.
- Tổ chức nhập khẩu, tiếp nhận, bảo quản và phân phối nguyên liệu, phụ liệu kịp
thời, đúng chủng loại, chất lượng, số lượng cho sản xuất của các đơn vị sản xuất
dược phẩm và cho nhu cầu của các đơn vị y tế khác.
- Đảm bảo xuất nhập khẩu, mua bán nội địa, bảo quản và phân phối thành phẩm
tân dược, vật tư, trang thiết bị y tế, hóa chất, sinh phẩm trong cả nước. Đặc biệt
trong đó có nhiệm vụ quản lý, xuất nhập mua bán các thuốc gây nghiện, hướng
tâm thần, thuốc độc A-B, nguyên liệu sản xuất thuốc độc cho các tỉnh phía Bắc
theo đúng quy chế của ngành và của pháp luật.
- Thực hiện tốt công tác dự trữ quốc gia, luân chuyển, đảo hạn trong kho dự trữ
quốc gia để nhằm đảm bảo cung ứng đầy đủ, tức thời cho các chương trình
thường kỳ và khẩn cấp trong ngành y tế Việt Nam. Cùng với công ty Dược Phẩm
Trung ương 2 (ở TP Hồ Chí Minh), công ty Dược phẩm Trung ương 3 (ở Đà
Nẵng) là 3 doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo của ngành Dược ở 3 miền, tham gia
bình ổn giá cả thị trường.
- Tổ chức sản xuất Dược phẩm, xây dựng nhà máy sản xuất Dược phẩm đạt tiêu
chuẩn thực hành sản xuất tốt theo khuyến cáo của tổ chức Y tế thế giới – GMP
WHO (Good Manufacture Practice - recommended by WHO).
- Thực hiện tốt công tác xã hội, chăm lo tốt đời sống vật chất và tinh thần của
người lao động trong công ty, tham gia đóng góp vật chất, tinh thần cho các
phong trào quyên góp từ thiện, an sinh xã hội. Đảm bảo vệ sinh môi trường.
- Phối hợp với các trường Đại học, trung học chuyên nghiệp để đào tạo nhân lực
cung cấp cho nhu cầu sử dụng của công ty.