LUẬN VĂN:
Đổi mới việc ra nghị quyết và tổ chức
thực hiện nghị quyết của các huyện uỷ ở
Tuyên Quang giai đoạn hiện nay
Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đổi mới việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết là một trong những nhiệm
Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết là công
việc gắn bó hữu cơ với chức năng lãnh đạo của Đảng, là hành động tất yếu của cơ quan
lãnh đạo.
Cùng với việc xác định đổi mới kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, Đảng ta chỉ rõ xây
dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Do vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta
luôn quan tâm đến việc đổi mới, chỉnh đốn Đảng. Để đổi mới chỉnh đốn Đảng đúng định
hướng và đạt hiệu quả phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp như: nâng cao bản lĩnh
chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng; đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở đảng; thực
hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; tăng cường quan hệ gắn bó giữa Đảng
với nhân dân; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trước hết đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước. Đãng lãnh đạo nhà nước và xã hội bằng nhiều
phương thức trong đó có việc ban hành các nghị quyết lãnh đạo. Hiện nay, nội dung, đối
tượng lãnh đạo của Đảng đã có nhiều thay đổi do đó phương thức lãnh đạo của Đảng phải
được đổi mới, trong đó đổi mới việc ra nghị quyết đúng và tổ chức thực hiện nghị quyết
có hiệu quả là rất quan trọng, góp phần đổi mới, chỉnh đốn Đảng thành công.
Thực hiện chức năng lãnh đạo toàn diện mọi mặt đời sống, kinh tế, văn hoá xã hội, hệ
thống chính trị, các huyện uỷ ở Tuyên Quang đã ban hành các nghị quyết lãnh đạo phát
triển kinh tế - xã hội. Từ việc ra nghị quyết đúng, tổ chức thực hiện nghị quyết có hiệu quả
đã làm chuyển biến tình hình kinh tế - xã hội các huyện ở Tuyên Quang. Kinh tế tăng
trưởng nhanh, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của từng
huyện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc được cải thiện đáng kể,
khoảng cách chênh lệch so với khu vực đô thị và các huyện đồng bằng được rút ngắn.
Những kết quả đạt được của việc ra nghị quyết đúng, tổ chức thực hiện nghị quyết
thể hiện năng lực lãnh đạo của cấp uỷ Đảng. Song vẫn còn một số nghị quyết của các
huyện uỷ ở Tuyên Quang còn biểu hiện duy ý chí, không tôn trọng quy luật khách quan,
việc tuyên truyền nội dung nghị quyết nhằm tạo sự đồng thuận trong nhân dân còn hạn
chế, chậm phát hiện và nhân rộng các nhân tố mới, công tác sơ kết, tổng kết thực hiện
nghị quyết còn hình thức. Tồn tại, yếu kém của việc ra nghị quyết, tổ chức thực hiện
nghị quyết là một trong những nguyên nhân phản ánh trung thực những kết quả thu
đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Hà Nội, 2006.
- Nguyễn Đình Hiếu, Đổi mới việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết
của Huyện uỷ Hoàng Hoá, tỉnh Thanh Hoá giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Khoa
học Chính trị, Hà Nội, 2008.
Các công trình trên nghiên cứu việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết
ở một số cấp uỷ địa phương. Cho đến hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu đề tài
"Đổi mới việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của các huyện uỷ ở Tuyên
Quang giai đoạn hiện nay".
Là một cán bộ đang công tác tại Ban Tổ chức Tỉnh uỷ tỉnh Tuyên Quang, được
học tập tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, tác giả chọn đề tài
"Đổi mới việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của các huyện uỷ ở
Tuyên Quang giai đoạn hiện nay" làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình, nhằm góp
phần tổng kết một hoạt động thuộc chức năng chủ yếu của cấp uỷ đảng đó là việc ra
nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết, góp phần đổi mới nội dung lãnh đạo và tổ
chức thực hiện công tác này của các huyện uỷ ở Tuyên Quang, từ đó rút ra những kinh
nghiệm và những đề xuất cần thiết nhằm giúp cho cấp uỷ tiếp tục đổi mới phương thức
lãnh đạo, đảm bảo sự lãnh đạo của các huyện uỷ ở Tuyên Quang đối với hoạt động của
chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và toàn xã hội.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn: nghiên cứu một cách khoa học việc ra nghị quyết và tổ
chức thực hiện nghị quyết, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần đổi mới việc ra
nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của các huyện uỷ ở Tuyên Quang ngày càng
hoàn thiện, hiệu quả hơn.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, liên quan đến việc ra nghị quyết và tổ
chức thực hiện nghị quyết.
+ Đánh giá khái quát tình hình Đảng bộ các huyện ở Tuyên Quang và thực trạng ra
nghị quyết, tổ chức thực hiện nghị quyết của các huyện uỷ; chỉ rõ nguyên nhân ưu điểm,
khuyết điểm và rút ra một số kinh nghiệm.
Của Các huyện uỷ ở TUYÊN QUANG - Những Vấn Đề CƠ Bản Về Lý Luận Và
Thực Tiễn
1.1. Các huyện và Đảng bộ các huyện ở Tuyên Quang - Vị trí, vai trò, đặc điểm
1.1.1. Vị trí, vai trò, đặc điểm và tình hình kinh tế - xã hội của các huyện ở
Tuyên Quang
- Vị trí, vai trò, đặc điểm
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, có diện tích tự nhiên 5.870 km
2
, nằm ở
giữa Tây Bắc và Đông Bắc của Tổ quốc Việt Nam; phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang, phía
Đông giáp tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Thái Nguyên, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái, phía
Nam giáp tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc.
Địa hình các huyện ở Tuyên Quang được chia cắt lớn bởi hệ thống sông ngòi, đồi
núi, thung lũng và cơ bản chia thành các vùng: khu vực núi cao phía Bắc, gồm huyện Na
Hang và các xã vùng cao của các huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn, chiếm khoảng
trên 50% diện tích tự nhiên, phù hợp với việc khoanh nuôi, trồng rừng tự nhiên và
trồng rừng, phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp. Khu vực núi thấp, gồm các xã phía
Nam các huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương, chiếm 40% diện tích tự
nhiên của tỉnh. Đồi núi ở đây có độ dốc phổ biến 100
0
đến 250
0
, thích hợp cho trồng
cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực và cây ngắn ngày khác. Khu vực này là địa
bàn trọng điểm sản xuất công nghiệp, phát triển các trung tâm kinh tế - xã hội lớn của
tỉnh.
Khí hậu các huyện ở Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa có
mùa đông lạnh. Lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.295mm đến 2.266mm. Nhiệt
độ trung bình 22
Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương và thị xã Tuyên Quang. Toàn tỉnh có 129 xã, 5
thị trấn, 7 phường và 2.081 thôn, bản, tổ nhân dân, Dân số trên 74 vạn người. Mật độ dân
cư 127 người/km
2
. Có 22 dân tộc anh em: Kinh 48%; Tày 24,74%; Dao 10,8%; Sán Chay
8%; Mông 2,02%, Sán Dìu 1,6%; Hoa 1% còn lại là các dân tộc khác. Cụ thể:
- Huyện Na Hang: Diện tích 1.466,78 km
2
, dân số 57.731 người, 16 xã, 01 thị trấn,
176 thôn, bản, tổ nhân dân.
- Huyện Chiêm Hoá: Diện tích 1.460,62 km
2
, 140.618 người, 28 xã, 01 thị trấn, 403
thôn, bản, tổ nhân dân.
- Huyện Hàm Yên: Diện tích 900,92 km
2
, 112.560 người, 17 xã, 01 thị trấn, 316 thôn,
bản, tổ nhân dân.
- Huyện Yên Sơn: Diện tích 1.130,78 km
2
, 156.269 người, 30 xã, 01 thị trấn, 449
thôn, bản, tổ nhân dân.
- Huyện Sơn Dương: Diện tích 788,63 km
2
, 180.574 người, 32 xã, 01 thị trấn, 424
thôn, bản, tổ nhân dân.
- Thị xã Tuyên Quang: Diện tích 119,17 km
2
, 90.793 người, 06 xã, 07 phường, 313
các cuộc tấn công Việt Bắc của giặc Pháp. Những địa danh lịch sử như: Bình Ca, Km7,
Cầu Cả, Khe Lau đã làm rạng rỡ tinh thần chiến đấu của quân, dân Tuyên Quang trong
Chiến dịch Việt Bắc Thu Đông năm 1947.
Tại Tuyên Quang đã chứng kiến nhiều Hội nghị quan trọng của Trung ương Đảng,
Chính phủ, đặc biệt là Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ II (tại xã Vinh Quang, nay
là xã Kim Bình huyện Chiêm Hoá từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951) là Đại hội
đầu tiên của Đảng được tổ chức ở trong nước. Đại hội bổ sung, hoàn chỉnh đường lối
kháng chiến, kiến quốc đưa cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta đến thắng lợi.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Đảng bộ và nhân dân các dân
tộc Tuyên Quang tiếp tục xây dựng hậu phương vững mạnh, làm tròn nhiệm vụ của hậu
phương lớn đối với tiền tuyến lớn, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ,
góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Truyền
thống yêu nước, đoàn kết, cách mạng, tinh thần đấu tranh anh dũng của lớp lớp cán bộ,
đảng viên và nhân dân các dân tộc Tuyên Quang đã để lại những bài học quý giá, những
tấm gương sáng ngời cho các thế hệ hôm nay và mai sau học tập, noi theo.
Ngày nay trong công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân Tuyên Quang
tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của quê hương cách mạng, quyết tâm vượt qua
mọi khó khăn, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ do Đại hội đại biểu Đảng bộ
tỉnh lần thứ XIV đề ra, phấn đấu đưa Tuyên Quang trở thành một tỉnh phát triển toàn
diện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, có cuộc sống
ấm no, hạnh phúc, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh góp phần tích cực vào sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Phát triển kinh tế
Tốc độ tăng trưởng bình quân: Năm 2008 đạt 13,81% (năm 2001 đạt 10,27%). Công
tác quy hoạch - khâu đột phá: Quy hoạch, phát triển 3 loại hình du lịch chính của các
huyện ở Tuyên Quang gồm: Du lịch lịch sử - văn hoá; Du lịch sinh thái và du lịch nghỉ
dưỡng với 3 khu du lịch chính: Khu du lịch lịch sử - văn hoá Tân Trào - ATK; Khu du
lịch nghỉ dưỡng suối khoáng Mỹ Lâm (huyện Yên Sơn); các khu du lịch sinh thái ở các
huyện Nà Hang, Hàm Yên, Chiêm Hoá và 6 điểm du lịch trên địa bàn các huyện.
Công tác quản lý, điều hành thu, chi ngân sách và hoạt động tín dụng có nhiều tiến
bộ. Cùng với chú trọng phát triển, bồi dưỡng nguồn thu, việc nắm nguồn và tổ chức thu
đảm bảo sát thực tế phát sinh và đúng chính sách Nhà nước. Khoa học - công nghệ, tài
nguyên và môi trường có chuyển biến tích cực. Hoạt động khoa học - công nghệ đã tập
trung hơn vào chọn lọc, ứng dụng, đưa tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào phục vụ
sản xuất; đồng thời đã tập trung triển khai một số đề tài nghiên cứu lĩnh vực khoa học xã
hội và nhân văn, góp phần đưa hoạt động khoa học - công nghệ phát triển toàn diện hơn.
Hoạt động của hội đồng khoa học và công nghệ các cấp, cơ chế quản lý, nghiên cứu đề
tài khoa học đã có bước đổi mới, thiết thực, hiệu quả hơn. Việc xây dựng, quảng bá
thương hiệu sản phẩm được chú trọng hơn, như đã xây dựng được thương hiệu sản phẩm
cam sành Hàm Yên.
Hoàn thành quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện; cơ bản hoàn thành quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất cấp xã; tập trung thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
đến nay đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp được khoảng 57% diện tích.
Công tác di dân tái định cư Dự án Thuỷ điện Tuyên Quang và quy hoạch, bố trí dân
cư đạt được kết quả quan trọng. Đã hoàn thành di chuyển hơn 4 nghìn hộ với hơn 2 vạn
khẩu và tiếp tục di chuyển các hộ dân cư trú ở những vùng có nguy cơ bị cô lập, không
có đường giao thông thuộc khu vực lòng hồ Thuỷ điện Tuyên Quang, các hộ dân cư trú ở
vùng rừng phòng hộ xung yếu, vùng có nguy cơ bị sạt lở về nơi tái định cư theo kế hoạch
gắn với hướng dẫn, hỗ trợ các hộ dân phát triển sản xuất, ổn định đời sống. Rà soát lập
dự án bố trí dân cư vùng dân tộc thiểu số giai đoạn (2007 - 2010 ).
Nhìn chung, kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá cao và tương đối toàn diện, hài hoà với
phát triển văn hoá xã hội, chăm lo đời sống nhân dân. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch
theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ; giảm tỷ trọng ngành nông, lâm
nghiệp trong GDP.
Tuy nhiên, lĩnh vực kinh tế còn tồn tại, hạn chế là: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch
theo hướng công nghiệp so với yêu cầu còn chậm. Thực hiện một số dự án đầu tư chưa
đạt tiến độ đề ra; sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chưa đạt kế hoạch. Mặt hàng
xuất khẩu chưa đa dạng, chất lượng, sức cạnh tranh chưa cao. Chậm xây dựng, quảng
nước ngoài, đồng thời đã kịp thời chỉ đạo chuyển hướng đưa hàng ngàn lao động đi làm
việc tại các cơ sở sản xuất trong nước khi thị trường lao động nước ngoài gặp khó khăn.
Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng thực hiện công tác giảm nghèo; xây dựng,
triển khai Chương trình giảm nghèo với nhiều giải pháp cụ thể, huy động được sức mạnh
của cả cộng đồng cùng tham gia; thực hiện đề án hỗ trợ xoá nhà ở tạm nhưng bị dột nát
cho 3.532 hộ nghèo với tổng số tiền là 18,45 tỷ đồng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 35,64%
cuối năm 2005 xuống còn 22,2% cuối năm 2007, cuối năm 2008 còn 20%. Quan tâm chỉ
đạo tổ chức tốt các hoạt động chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có
công với cách mạng; thực hiện chế độ, chính sách đối với các đối tượng bảo trợ xã hội,
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Thực hiện có hiệu quả chương trình phòng chống ma tuý
và các tệ nạn xã hội; đến nay, số người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý trên địa bàn toàn
tỉnh là 1.210 người, giảm hơn so với những năm trước, tỷ lệ tái nghiện là 5,12% [37].
Nhìn chung, lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, trong đó có những mặt nổi
bật và tạo được sự đột phá như: Đã làm thay đổi sâu sắc nhận thức của cán bộ, nhân dân
về phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo; việc đánh giá chất lượng dạy và
học đi vào thực chất hơn, chất lượng giáo dục - đào tạo tiến bộ hơn. Đào tạo nghề, giải
quyết việc làm, giảm nghèo, xuất khẩu lao động đã đạt được một số kết quả quan trọng
góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, cải thiện đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, lĩnh vực văn hoá - xã hội còn những hạn chế, tồn tại sau: chất lượng giáo
dục - đào tạo vẫn còn thấp so với mặt bằng chung và yêu cầu chất lượng nguồn nhân lực,
chưa đồng đều giữa các huyện; tôn tạo, phục hồi các di tích lịch sử văn hoá còn chậm;
thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội ở một số nơi chưa tốt.
Một số chỉ tiêu về dân số, trẻ em đạt thấp. Chất lượng giảm nghèo một số nơi chưa bền
vững, nguy cơ tái nghèo cao. Đời sống của một bộ phận nhân dân, đặc biệt ở vùng sâu,
vùng xa tuy đã được cải thiện so với trước, song thực tế còn gặp không ít khó khăn.
- Quốc phòng - an ninh
Công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân đạt
nhiều kết quả. Lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục được xây dựng, củng cố về tổ
chức, quân số; lực lượng dân quân tự vệ đạt 1,76% so với tổng dân số trong tỉnh.
thuộc Đảng uỷ cơ sở 610.
+ Tổng số đảng viên 6.265, trong đó: Dự bị 580; nữ 2.070; dân tộc ít người 2.124.
- Đảng bộ huyện Sơn Dương:
+ Có 64 tổ chức cơ sở đảng, gồm 37 Đảng bộ cơ sở, 27 chi bộ cơ sở; chi bộ trực
thuộc Đảng uỷ cơ sở 563.
+ Tổng số đảng viên 7.088, trong đó: dự bị 404; nữ 1.946; dân tộc ít người 2.273.
Năm Đảng bộ huyện thuộc Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang là những Đảng bộ thuộc địa
bàn nông thôn, miền núi kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Trong những năm qua công tác
đổi mới, chỉnh đốn Đảng ở những đảng bộ này đã thu được những kết quả đáng kể, cụ
thể:
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng và rèn luyện đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng
viên được đẩy mạnh. Nội dung, phương pháp, hình thức quán triệt, học tập, tổ chức thực
hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng được đổi mới, phù hợp hơn với từng đối tượng, từng
địa bàn; đã gắn học tập với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện cụ thể
của từng tổ chức đảng, đơn vị, cá nhân cán bộ, đảng viên và công tác kiểm tra, giám sát,
sơ kết, tổng kết để kịp thời nhân rộng điển hình thực hiện tốt, điều chỉnh, bổ sung mục
tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cho phù hợp với thực tiễn. Thường xuyên quan tâm nâng cao
chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền; kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ báo
cáo viên, tuyên truyền viên. Công tác nắm tình hình tư tưởng, tâm trạng của nhân dân, dư
luận xã hội được chú trọng.
Triển khai thực hiện tốt cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh” với nhiều sáng tạo, đạt hiệu quả thiết thực, được các tầng lớp nhân dân đồng
tình hưởng ứng tham gia, tạo được sự chuyển biến bước đầu về nhận thức và hành động,
đã xuất hiện một số điển hình tốt về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh.
Việc củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, chất
lượng đảng viên gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở được các cấp uỷ đảng quan
tâm. Các huyện uỷ ở Tuyên Quang đã chủ động thực hiện Nghị quyết số 05 - NQ/TU
ngày 30/11/2006 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Các huyện uỷ ở Tuyên Quang đã ban hành quy chế
làm việc của uỷ ban kiểm tra và xây dựng chương trình công tác kiểm tra, giám sát cả
nhiệm kỳ và cho từng năm.
Các cấp uỷ đảng đã đẩy mạnh đổi mới phương pháp và lề lối làm việc theo hướng
khoa học, kế hoạch hoá hơn thông qua việc xây dựng và điều hành công việc theo
chương trình công tác theo từng tháng, quý, năm; cấp trên nghe và cho ý kiến chương
trình công tác của cấp dưới trực tiếp; duy trì và nâng cao chất lượng giao ban, đồng thời
tăng cường kiểm tra trực tiếp đối với cấp dưới và cơ sở trong việc thực hiện các nghị
quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch công tác. Đổi mới phương thức lãnh đạo của các
cấp uỷ đảng gắn chặt với cải cách hành chính và phân cấp mạnh, tạo điều kiện cho các
cấp, các ngành chủ động trong công việc, đồng thời nâng cao trách nhiệm, năng lực của
người đứng đầu các địa phương, ban, ngành. Trong sinh hoạt và hoạt động của cấp uỷ,
Ban Thường vụ cấp uỷ các cấp luôn chú trọng đảm bảo dân chủ, khách quan, chế độ tập
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, trong đó đặc biệt chú trọng vai trò, trách nhiệm của
người đứng đầu, của từng đồng chí cấp uỷ viên.
1.2. Ra nghị quyết, tổ chức thực hiện nghị quyết của các huyện uỷ ở Tuyên
Quang - Quan niệm, ý nghĩa, tầm quan trọng, cơ sở khoa học và quy trình
1.2.1. Quan niệm
1.2.1.1. Nghị quyết
Nghị quyết, theo Từ điển tiếng Việt:
"Nghị quyết là quyết định đã được thông qua ở
hội nghị, sau khi vấn đề đã được tập thể thảo luận. hội nghị thông qua nghị quyết. Chấp
hành nghị quyết" [58, tr.656].
Theo Quyết định số 31-QĐ/TW ngày 01/10/1997 của Bộ Chính trị (khoá VIII) ban
hành quy định về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng thì: "Nghị
quyết là văn bản ghi lại các quyết định được thông qua ở đại hội, hội nghị cơ quan lãnh
đạo Đảng các cấp, hội nghị đảng viên về đường.lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch
các vấn đề cụ thể” [2, tr.3]
thống do cơ quan thống kê và các ngành chức năng cung cấp, các thông tin thu được từ
thực tiễn về điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử văn hoá, về tiềm năng và thế mạnh,
kinh nghiệm thu được từ quá trình lãnh đạo, quản lý ở địa phương, tính đặc thù của từng
địa phương nhất là các địa phương miền núi ở tỉnh Tuyên Quang, kinh nghiệm có được
từ việc thu thập các thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các website
Trên cơ sở thông tin thu được, phải tiến hành xử lý thông tin đây là khâu hết sức
quan trọng. Do vậy, khi xử lý thông tin phải đảm bảo tính khoa học, khách quan. Quá
trình thu thập thông tin, xử lý thông tin, phải phát huy trí tuệ, sự sáng tạo của tổ chức
đảng, của cán bộ đảng viên và nhân dân và phải thực sự dân chủ đồng thời cần phải có
những cơ chế, qui định cụ thể để nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân, cá nhân, tiếp cận với các thông tin và làm tốt công tác giám sát, phản biện xã
hội.
Những thông tin phản ánh bản chất, mang tính qui luật của đối tượng, các
phương án để giải quyết là cơ sở để cấp uỷ dân chủ thảo luận, thống nhất và ra nghị
quyết.
1.2.1.3. Tổ chức thực hiện nghị quyết
Một nghị quyết dù đúng đắn, có đủ cơ sở khoa học đến mấy vẫn cứ là nghị quyết
nằm trên giấy, nếu sau đó không có một quá trình tổ chức thực hiện. Tổ chức thực hiện
nghị quyết là quá trình đưa quan điểm, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ được xác định
trong nghị quyết vào đời sống xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: nói thì phải làm. Do vậy, khi đã ra được nghị quyết
đúng để tổ chức thực hiện nghị quyết đó hiệu quả thì phải xây dựng chương trình hành
động cụ thể của từng cấp uỷ, từng ngành, từng đơn vị để thực hiện nghị quyết. Chính
quyền căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền theo luật định để cụ thể hoá mục
tiêu, nhiệm vụ được đề cập trong nghị quyết của cấp uỷ thành các chỉ tiêu, kế hoạch
mang tính pháp lệnh để giao cho các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện. Những nội dung
thuộc thẩm quyền HDND thì sớm trình để thông qua ở một kỳ họp gần nhất.
Đối với mỗi người để thực hiện được việc thống nhất giữa lời nói với hành động, lời
nói đi đôi với việc làm, là điều không dễ, nó đòi hỏi cần phải có sự cố gắng, bền bỉ với
chức thực hiện nghị quyết, những vấn đề cấp uỷ các huyện lựa chọn để ra nghị quyết
là những nội dung quan trọng mà cấp uỷ phải tập trung lãnh đạo để cụ thể hoá nghị
quyết của cấp uỷ cấp trên, đồng thời phát huy tiềm năng thế mạnh của từng địa
phương. nội dung nghị quyết ngắn gọn, mục tiêu được xác định đảm bảo tính khoa
học, nhiệm vụ được xác định một cách cụ thể, các giải pháp mà các nghị quyết đề cập
mang tính khả thi. Khi nghị quyết được ban hành, các huyện uỷ ở Tuyên Quang đã
sớm triển khai, đưa nghị quyết vào đời sống xã hội. Từ việc đổi mới công tác tuyên
truyền, quán triệt, học tập nghị quyết làm cho cấp uỷ đảng, cán bộ đảng viên và nhân
dân có nhận thức đúng về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, từ nhận thức
đúng sẽ tạo nên sự đồng thuận toàn xã hội trong tổ chức thực hiện nghị quyết.
Là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội, tuỳ theo tình hình, điều kiện, đặc điểm cụ
thể của từng huyện mà các huyện uỷ ở Tuyên Quang đã kịp thời ban hành nghị quyết và
tổ chức thực hiện nghị quyết đáp ứng yêu cầu đổi mới. Cụ thể:
Ngày 25/8/2001 Huyện uỷ huyện Hàm Yên ra Nghị quyết số 56 - NQ/HU. Nghị
quyết Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XVII về ổn định và phát triển sản
xuất cho vùng đồng bào dân tộc Mông ở thôn Ngòi Sen, Yên Lâm.
- Ngày 03/10/2001 Huyện uỷ huyện Yên Sơn ra Nghị quyết số 02 - NQ/HU. Nghị
quyết Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khoá XIX) về mục tiêu biện pháp thực
hiện các dự án phát triển kinh tế trọng điểm.
- Ngày 06/11/2001 Huyện uỷ huyện Hàm Yên ra Nghị quyết số 57 - NQ/HU. Nghị
quyết Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XVII “về tăng cường công tác phổ
cập trung học cơ sở.”
- Ngày 16/01/2002 Huyện uỷ huyện Yên Sơn ra Nghị quyết số 03 - NQ/HU. Nghị
quyết Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khoá XIX) “về mục tiêu biện pháp phát
triển kinh tế-trọng điểm năm 2002”
- Ngày 12/6/2002 Huyện uỷ huyện Hàm Yên ra Nghị quyết số 79 - NQ/HU. Nghị
quyết Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XVII” về tiếp tục đổi mới, phát triển
và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”
- Ngày 10/5/2003 Huyện uỷ huyện Hàm Yên ra Nghị quyết số 88 - NQ/HU. Nghị
- Ngày 09/10/2007, Huyện uỷ huyện Hàm Yên ra Nghị quyết số 03 -NQ/HU. Nghị
quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khoá XVIII) về nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ huyện Hàm Yên
- Ngày 15/3/2008 Huyện uỷ huyện Nà Hang ra Nghị quyết số 03 - NQ/HU. Nghị
quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
năm 2008.
1.2.2. ý nghĩa, tầm quan trọng của ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị
quyết
1.2.2.1. ý nghĩa
Đảng ta luôn luôn khẳng định CNXH là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nhân dân ta;
đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam tuy
nhiên đây là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn, gian khổ. Từ một nền nông nghiệp
nghèo nàn lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề như nước ta, đi lên CNXH lại càng
khó khăn hơn, phải trải qua nhiều thời kỳ, nhiều chặng đường, vừa làm vừa rút kinh
nghiệm, phải biết kế thừa những thành tựu của dân tộc ta đã dành được và tiếp thu những
tinh hoa của nhân loại, kinh nghiệm của thời đại. Hiện nay đất nước ta còn đang ở trong