LUẬN VĂN: Quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Quảng Nam doc - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt
động kinh doanh của NHNo&PTNT
Quảng Nam


Dominic Casserley, Đối mặt với rủi ro, Thông tin phòng ngừa rủi ro Ngân hàng Công
thương Việt Nam
Peter S. Rose, Quản trị Ngân hàng thương mại, 2002, NXB Tài chính, Hà Nội
Eddua W. Read, Ph.D và Eddua K.Gill, Ph.D, Ngân hàng thương mại, 2004, NXB
Thống kê, TP Hồ Chí Minh
Tại Việt Nam, khi chuyển sang cơ chế thị trường, các NHTM đứng trước những khó
khăn do sự khác biệt trong hoạt động giữa cơ chế cũ và cơ chế mới mang lại, trong đó có
vấn đề quản lý rủi ro. Để khắc phục khó khăn, vươn lên làm ăn có hiệu quả, giới lý luận và
quản lý ngân hàng bắt đầu quan tâm phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp ngăn ngừa,
hạn chế RRTD của các NHTM Việt Nam. Đặc biệt, trong những năm gần đây đã xuất hiện
một số công trình nghiên cứu sâu về hoạt động tín dụng, quản lý RRTD đăng trên các tạp
chí như:
TS. Trần Huy Hoàng, Hạn chế nguy cơ rủi ro hoạt động tín dụng của các NHTM Việt
Nam, Phát triển kinh tế, tháng 12 năm 2004.
PGS.TS Nguyễn Đình Tự, Tiếp cận để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của Ngân
hàng thương mại, Tạp chí Ngân hàng, Số chuyên đề năm 2005.
ThS. Nguyễn Hữu Đương, Đẩy mạnh hoạt động thông tin tín dụng nhằm nâng cao
chất lượng quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng,
tháng 2-2005.
Năm 2005, Lê Đăng Trung đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ tại Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh với đề tài “Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh".
Quảng Nam là một tỉnh thuần nông, hoạt động kinh doanh của các NHTM trên địa bàn
nông nghiệp, nông thôn có những đặc điểm rất khác biệt với đô thị lớn như Thành phố Hồ
Chí Minh. Hơn nữa, việc đi sâu nghiên cứu hoạt động tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng
của NHNo&PTNT Quảng Nam, cho đến nay chưa có một bài viết, một công trình nào được
công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Chương 1
Những vấn đề chung về quản lý rủi ro tín dụng
trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại

1.1. Tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân
hàng thương mại
1.1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại
Về mặt lịch sử, NHTM đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài gắn liền với
quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Từ các hoạt động cho vay tư nhân và
cầm đồ xuất hiện trong thời kỳ cổ đại, các ngân hàng đã phát triển về quy mô, mở rộng về
chức năng qua thời kỳ trung cổ và đạt tới sự phát triển rực rỡ trong nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa. Đến thế kỷ thứ 18, với sự can thiệp của nhà nước, ngân hàng phát hành được tách
riêng ra để trở thành ngân hàng trung ương của các nước, các ngân hàng còn lại không được
phép phát hành tiền, có chức năng chuyên kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây
chính là tiền thân của các NHTM hiện đại.
Ngày nay, nhất là trong các nền kinh tế thị trường (KTTT) phát triển, NHTM đã trở
thành các trung tâm tiền tệ, là cầu nối giữa người có vốn nhàn rỗi và người có nhu cầu sử
dụng vốn, đồng thời là tổ chức cung cấp các dịch vụ ngân hàng như chiết khấu thương
phiếu, bảo quản tài sản, đồ vật quý, thanh toán cho khách hàng, tư vấn Trong nền KTTT
hiện đại, NHTM đã phát triển thành hệ thống nhiều chi nhánh, có vai trò rất quan trọng trên
thị trường tài chính và ảnh hưởng lớn đến trạng thái kinh tế vĩ mô của quốc gia, quốc tế.
Về mặt lý luận, có nhiều cách định nghĩa NHTM khác nhau. Nhà kinh tế học Peter S.
Rose định nghĩa NHTM như sau: " Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ
thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế" [27, tr.7]. Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng, NHTM là
"tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách


- Tín dụng do các trung gian tài chính cung cấp: ngoài NHTM, còn có các trung gian
tài chính khác cung cấp tín dụng như công ty tài chính, các loại quỹ đầu tư, quỹ của chính
phủ.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức kinh tế và cá
nhân. Xét theo nghĩa rộng, tín dụng ngân hàng bao gồm cả việc khách hàng cho ngân hàng
vay và ngân hàng cho khách hàng vay. Xét theo nghĩa hẹp, tức theo thuật ngữ chuyên môn
của ngân hàng, thì khâu khách cho ngân hàng vay được gọi là huy động vốn, còn khâu ngân
hàng cho khách hàng của mình vay được gọi là tín dụng. Luận văn tiếp cận tín dụng ngân
hàng theo nghĩa hẹp, nghĩa là là chỉ bao hàm hoạt động cho vay của NHTM.
Dù hiểu theo nghĩa hẹp, thì cũng giống như mọi quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân
hàng bao hàm các nội dung sau:
- Là hoạt động chuyển giao một lượng giá trị được quy ra tiền từ chủ thể cho vay sang
chủ thể đi vay dựa trên độ tín nhiệm nhất định của người đi vay. Sự tín nhiệm là một trong
những cơ sở quan trọng hàng đầu để cho vay. Nếu mức tín nhiệm thấp thì người vay, một là,
phải thế chấp; hai là, phải chịu lãi suất cao.
- Người đi vay phải hoàn trả vốn và lãi cho người cho vay khi hết hạn hợp đồng tín
dụng. Nếu người đi vay, do một lý do nào đó, không có khả năng hoàn trả tiền vốn và lãi cho
người cho vay thì người cho vay có thể mất cả vốn lẫn lãi. Nói cách khác, tín dụng tiềm ẩn rủi
ro mất vốn từ phía người vay rất lớn.
- Tín dụng thực chất là nhượng quyền sử dụng tiền trong một thời hạn nhất định từ
người cho vay sang cho người đi vay nên lãi suất theo thời gian chính là giá thị trường của
quyền sử dụng vốn.
1.1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
a. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế
* Tín dụng ngân hàng có vai trò to lớn trong tập trung, tích tụ vốn cung cấp cho nền

kinh tế. Với vai trò trung gian tài chính trên thị trường, NHTM giúp tập trung các nguồn vốn
tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế. Như một cái hồ lớn, ngân hàng tập
trung và tích tụ các nguồn vốn nhỏ bé của từng chủ thể thành các khoản vốn to lớn tài trợ
cho các khoản đầu tư và tiêu dùng của các doanh nghiệp, nhà nước và người tiêu dùng. Trên

bền vững. Ngoài ra, thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, Nhà nước có thể kiểm soát
các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế để đề ra các biện pháp, chính sách quản
lý kinh tế và pháp lý phù hợp. Chẳng hạn như, Nhà nước có thể điều chỉnh cơ cấu kinh tế và
hoạt động của các thành phần kinh tế thông qua các chính sách về lãi suất, về các điều kiện
cho vay an toàn, về bảo hiểm.
b. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với ngân hàng thương mại
* Tín dụng ngân hàng là hoạt động cơ bản, là nguồn thu lợi chủ yếu của NHTM.
Chức năng khởi đầu và truyền thống của NHTM là tín dụng. Mặc dù NHTM hiện đại đã mở
mang nhiều dịch vụ ngân hàng ngoài tín dụng, nhưng cho đến nay, nghiệp vụ huy động vốn
và cho vay vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu và lợi nhuận ngân hàng. Bất kỳ sự trục
trặc nào trong hoạt động tín dụng ngân hàng cũng tác động tiêu cực, không chỉ đến hoạt
động tín dụng, mà đến tất cả các hoạt động khác của ngân hàng. Đối với các nước kém phát
triển như nước ta, các NHTM đa phần lấy tín dụng ngân hàng làm hoạt động chính.
* Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển các dịch vụ ngân hàng khác. Một mặt,
các dịch vụ ngân hàng khác được phát triển trên chính các chủ thể có quan hệ tín dụng với
ngân hàng. Mặt khác, hoạt động tín dụng ngân hàng, nếu suôn sẻ, cung cấp nguồn tài trợ
cho các hoạt động khác thông qua nguồn vốn thu hút được, cũng như thông qua lợi nhuận
đầu tư cho cơ sở hạ tầng dịch vụ. Nếu hoạt động tín dụng không tốt, khách hàng sẽ ngần
ngại khi sử dụng dịch vụ tại ngân hàng. Bởi vì, bản thân các dịch vụ ngân hàng thường liên
quan đến nhau, nhất là liên quan đến tín dụng.
* Tín dụng ngân hàng giúp NHTM thực thi các hoạt động kiểm soát hỗ trợ cho các
khoản đầu tư trực tiếp của ngân hàng vào doanh nghiệp. Trong thực tế, nhiều ngân hàng đã
chuyển các khoản vay thành đầu tư khi muốn kiểm soát doanh nghiệp. Các dữ liệu ngân

hàng thu thập về doanh nghiệp giúp ngân hàng có thể ra quyết định đầu tư đúng đắn.
Nói tóm lại, tín dụng có vai trò to lớn đối với NHTM. Không có hoạt động tín dụng,
thì cũng không có NHTM.
1.1.3. Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro là phạm trù được sử dụng phổ biến trong KTTT. Theo nhà kinh tế Mỹ Fran

bảo toàn tài sản của ngân hàng trong kinh doanh. Có nhiều nguyên nhân làm cho khách
hàng không trả được nợ cho ngân hàng như khách hàng làm ăn thua lỗ, thậm chí phá sản;
khách hàng bị lừa đảo hoặc khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng; nguyên nhân từ phía
khách quan như khách hàng có biến động về tổ chức và nhân sự, thiên tai, khủng hoảng
* Rủi ro vốn bị ứ đọng: tức là rủi ro gây ra do NHTM huy động vốn nhưng không cho
vay được, gây nên tình trạng ứ đọng vốn, hay còn gọi là để vốn “chết”. Như chúng ta đã
biết, vốn hoạt động của ngân hàng chủ yếu là vốn huy động từ xã hội. Khi vay tiền, NHTM
phải trả lãi cho người vay hay còn gọi là chi phí lãi suất tiền gửi. Nếu vốn do NHTM huy
động mà không cho vay được, tức đồng vốn không sinh lời, trong khi đó vẫn phải trả lãi cho
người gửi, thì ngân hàng lỗ vốn không chỉ lãi suất huy động vốn, mà còn lỗ chi phí huy
động và bảo vệ tiền trong quỹ. Đây là một tổn thất lớn. Nếu tình trạng này kéo dài có thể
dẫn đến những khoản thua lỗ rất lớn.
*Rủi ro chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay: Loại rủi ro này liên
quan đến kỳ hạn của nguồn vốn huy động không khớp với kỳ hạn của vốn cho vay. Nếu
NHTM huy động theo kỳ hạn dài, nhưng lại cho vay theo kỳ hạn ngắn thì NHTM sẽ lâm
vào tình thế đi vay vốn với lãi suất cao, cho vay với lãi suất thấp, dẫn đến tổn thất. Ngoài ra,
tình trạng huy động với lãi suất cao, cho vay với lãi suất thấp xảy ra do sự biến động của lãi
suất trên thị trường giảm theo thời gian, trong khi đó NHTM đã trót huy động nguồn vốn
lớn khi lãi suất cao. Trong một số trường hợp, tổn thất do chênh lệch lãi suất huy động và lãi
suất cho vay còn do áp lực của chính phủ buộc các NHTM quốc doanh phải thực thi chính

sách xã hội của Chính phủ bằng cách cho vay với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường.
* Rủi ro do quyết định cho vay sai lầm: Trước khi xét duyệt một khoản vay, yêu cầu
đặt ra đầu tiên đối với ngân hàng là phải nghiên cứu, thẩm định kỹ khách hàng nhằm nắm
chắc thông tin về khách hàng, hiểu được tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính
của họ, nắm chính xác vốn vay được sử dụng vào mục đích gì và hiệu quả ra sao Trong
trường hợp việc thẩm định không chính xác, không khách quan, dẫn đến cho vay những dự
án không hiệu quả, làm cho việc thu hồi vốn khó khăn, tăng chi phí thu hồi vốn, thậm chí,
để thu hồi vốn, ngân hàng buộc phải tham gia kiểm soát khách hàng. Hiện nay, ở nước ta có
tình trạng ngân hàng không nắm được thực chất tình hình tài chính của khách hàng, do khách

*RRTD là nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng: Ngân hàng gặp RRTD đã làm giảm
sút lòng tin của khách hàng giao dịch, đặc biệt là lòng tin của dân chúng. Họ lo sợ bị mất
những khoản tiền đã gửi và sẽ đến rút tiền để tìm cơ hội đầu tư có lợi hơn ở một ngân hàng
khác. Trong trường hợp nghiêm trọng, khi có quá nhiều người đến rút tiền tại cùng một thời
điểm thì ngân hàng sẽ không đủ tiền mặt để thanh toán, làm cho khách hàng tin rằng ngân hàng
có nguy cơ phá sản và sẽ đổ xô đến rút tiền, kết cục làm ngân hàng phá sản thực sự.
1.1.4.2. Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế
*RRTD có thể gây ra hậu quả đối với hệ thống tài chính quốc gia: NHTM là một bộ
phận, có thể nói là bộ phận quan trọng nhất, trong hệ thống tài chính quốc gia, có chức năng
không chỉ kinh doanh tiền tệ, mà còn đảm bảo sự lưu thông bình thường của dòng tiền tệ
phục vụ quá trình tái sản xuất xã hội trôi chảy. Nếu một NHTM lớn gặp rủi ro, dẫn đến mất
khả năng thanh toán, thì tình trạng đó của ngân hàng có thể tác động xấu không chỉ đối với
bản thân ngân hàng, mà còn đến khách hàng của ngân hàng và các ngân hàng khác, tạo ra
phản ứng tiêu cực dây chuyền cho nền kinh tế. Chính vì thế, ngân hàng trung ương của tất
cả các nước đều có chính sách buộc các NHTM phải đảm bảo an toàn ở mức độ nhất định
nhằm giảm tác động tiêu cực của rủi ro từ một ngân hàng tới nền kinh tế.
*RRTD có thể gây hậu quả tiêu cực tới đời sống xã hôị: RRTD có thể gây ra hậu quả
tiêu cực tới mọi đối tượng trong xã hội, thậm chí khởi đầu cho chu kỳ lạm phát mới, làm

trầm trọng thên tình trạng thất nghiệp, gây tâm lý hoang mang, tạo môi trường cho các tệ
nạn xã hội phát triển. RRTD làm giảm lòng tin của quần chúng vào sự lành mạnh và vững
chắc của hệ thống tài chính quốc gia, vào chính sách tiền tệ của nhà nước, dẫn đến khuynh
hướng tiêu dùng và tích luỹ cho đầu tư không hiệu quả.
1.1.5. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
1.1.5.1. Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh
* Nguyên nhân từ môi trường tự nhiên: Nền kinh tế chịu tác động trực tiếp của môi
trường tự nhiên. Các diễn biến không như dự đoán của thiên nhiên, nhất là các thảm hoạ
như lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, hoả hoạn…gây tác hại nặng nề đến sản xuất, kinh doanh của
các doanh nghiệp, các hộ sản xuất hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp,
thương mại và làm cho họ không có khả năng trả nợ, dẫn đến rủi ro cho NHTM.

hàng, do đó RRTD của ngân hàng sẽ giảm. Ngược lại, hệ thống pháp luật lỏng lẻo, kém hiệu
lực là cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp xấu lừa đảo, chây ì trong quan hệ tín dụng với
ngân hàng, qua đó làm tăng RRTD. Trong một số trường hợp, do hiệu lực pháp luật kém,
nhiều khách hàng tốt cũng có xu hướng lây lan sự chây ì, giảm trách nhiệm hoàn trả nợ cho
ngân hàng, do đó RRTD càng có xu hướng xảy ra nhiều hơn.
* Nguyên nhân từ môi trường quốc tế: Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là một xu
thế tất yếu và chính điều này khiến cho môi trường quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp và ngân hàng. Nếu tình hình kinh tế - tài chính của
khu vực và thế giới ổn định và phát triển thì sẽ tác động thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp và ngược lại, nếu quan hệ kinh tế của doanh nghiệp ở nước
ngoài đổ vỡ thì sẽ làm cho ngân hàng phải hứng chịu RRTD cùng khách hàng. Quan hệ kinh
tế mở rộng ra các nước đã tạo ràng buộc về kinh tế của doanh nghiệp và ngân hàng vào
nước ngoài, nhất là ràng buộc về pháp luật, do đó làm tăng quy mô và tăng các nguyên nhân
dẫn đến RRTD của ngân hàng. Điều này đã được chứng minh, trong cuộc khủng hoảng tài
chính - tiền tệ ở các nước Đông Nam á, sau đó lan ra toàn Châu á. Hoặc gần đây chính sách

chống bán phá giá do Mỹ đưa ra đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới xuất khẩu các mặt hàng
thuỷ sản của Việt Nam làm cho các doanh nghiệp liên quan gặp khó khăn về tài chính dẫn
đến két quả chậm trả nợ cho các NHTM.
1.1.5.2. Nguyên nhân thuộc về người vay vốn
Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến RRTD của các NHTM. Các nguyên nhân đó bắt
nguồn từ:
* Năng lực, trách nhiệm quản lý, đạo đức của người vay vốn: Trong nền kinh tế thị
trường, các doanh nghiệp phải chịu sự cạnh tranh gay gắt và phải nỗ lực hết mình trong
những quan hệ phức tạp của xã hội để tồn tại và phát triển. Nhìn chung, đa phần các doanh
nghiệp muốn giữ mối quan hệ tín dụng tốt đẹp với ngân hàng để được hưởng những ưu đãi
đối với một khách hàng được xếp loại tín nhiệm. Song, không tránh khỏi có một số khách
hàng cố tình lừa gạt ngân hàng để mưu lợi không chính đáng. Mưu kế lừa đảo có nhiều
dạng. Có doanh nghiệp, do thiếu năng lực quản lý tài chính và không có tài sản thế chấp hợp
lệ nên không đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng, đã lập các số liệu, giấy tờ, hồ sơ giả mạo

thường rất thấp so với nhu cầu của dự án xin vay. Đối với các dự án ngắn hạn, hiện nay vốn
ngân hàng tham gia đến 75% nhu cầu vốn; dự án trung, dài hạn vốn ngân hàng tham gia
60%. Do vốn tự có của doanh nghiệp chiếm tỷ lệ thấp trong dự án vay vốn, nên nếu dự án
thất bại, rủi ro mất vốn của ngân hàng sẽ lớn. Mặt khác, ở nước ta còn có tình trạng: một dự
án mới phát sinh không được đáp ứng đủ nhu cầu về vốn, doanh nghiệp liền sử dụng vốn
của các dự án trước cho dự án này. Việc sử dụng các khoản vay không đúng mục đích đã
cam kết vừa dẫn tới thâm hụt tài chính của doanh nghiệp, vừa tăng rủi ro từ phía kém hiệu
quả của dự án. Những hậu quả đó làm cho xác suất RRTD của ngân hàng tăng lên.
1.1.5.3. Nguyên nhân rủi ro tín dụng thuộc về ngân hàng
* Nguyên nhân xuất phát từ trình độ quản trị ngân hàng
Trình độ quản trị ngân hàng thể hiện ở 3 nội dung:
- Hoạch định chiến lược và phương án kinh doanh của ngân hàng

- Tổ chức thức hiện
- Kiểm tra, giám sát
Bất kỳ một nội dung nào trong ba nội dung trên được thực hiện một cách yếu kém
cũng sẽ dẫn đến RRTD. Chẳng hạn nếu chiến lược khách hàng không đúng đắn thì NHTM
sẽ có đối tượng khách hàng xấu. Hoặc nếu ngân hàng chấp hành không nghiêm túc chế độ
tín dụng và điều kiện cho vay thì không thể ràng buộc chặt chẽ nghĩa vụ trả nợ của khách
hàng. Hoặc nếu khâu kiểm tra, giám sát không hiệu quả sẽ dẫn đến không phát hiện, ngăn
ngừa được các bộ phận, cá nhân thực hiện không đúng chính sách, mục tiêu kinh doanh đề
ra và làm xuất hiện các khoản vay có vấn đề
* Thiếu qui trình quản lý rủi ro hữu hiệu: Cho đến nay hầu như chưa có NHTM nào
của nước ta ban hành và thực hiện được chiến lược, chính sách phát triển và quản lý rủi ro
tín dụng một cách khoa học, bài bản. Nếu các biện pháp giảm thiểu rủi ro không được thực
hiện một cách đầy đủ, quản lý RRTD không được thực hiện trong từng nghiệp vụ riêng lẻ,
chưa được xây dựng được qui trình phòng ngừa RRTD thì tần xuất và quy mô tác hại của
RRTD sẽ không được kiểm soát, phòng ngừa, quy mô thiệt hại của ngân hàng sẽ lớn.
* Kỹ thuật cấp tín dụng chưa hiện đại, chưa đa dạng: Kỹ thuật cấp tín dụng hiện đại
cho phép NHTM quản lý được rủi ro trong mọi khâu của quy trình cấp và sử dụng vốn tín

Mục đích của quản lý rủi ro tín dụng là phòng ngừa và kiểm soát rủi ro để rủi ro thực
tế xảy ra ở mức có thể chấp nhận được. Hoạt động quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả có thể
cho phép NHTM hạn chế tổn thất đến mức thấp nhất. Quản lý rủi ro tín dụng phải được xây
dụng thành một chương trình toàn diện với các nội dung: xác định giới hạn rủi ro, phương
thức phòng ngừa rủi ro, nhận biết rủi ro, định lượng rủi ro và kiểm soát rủi ro.
1.2.1. Xác định giới hạn rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Hàng năm Hội đồng quản trị của các NHTM có trách nhiệm xem xét để đưa ra quyết
định về giới hạn rủi ro trong hệ thống của mình trên cơ sở thực trạng chất lượng tín dụng,
khả năng tài chính, sự nỗ lực để đạt kế hoạch lợi nhuận và sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro.

Giới hạn rủi ro là biên độ cao nhất mà ở đó NHTM tồn tại và phát triển được. Giới hạn này
được chấp nhận cho từng đơn vị phụ thuộc cùng kế hoạch kinh doanh hàng năm của các chi
nhánh. Giới hạn RRTD được thể hiện bằng chỉ tiêu: nợ xấu / tổng dư nợ.
1.2.2. Phương thức phòng ngừa rủi ro tín dụng
1.2.2.1. Công tác dự báo rủi ro
Dự báo rủi ro có ý nghĩa quan trọng trong công tác phòng ngừa, giúp cho ngân hàng
chủ động đưa ra những biện pháp ứng phó trước khi rủi ro xảy ra. Để dự báo RRTD, cán bộ
tín dụng phải tiến hành thu thập và xử lý thông tin phòng ngừa từ hệ thống thông tin và
phòng ngừa rủi ro của Trung tâm phòng ngừa và xử lý rủi ro của hệ thống hoặc thông tin
phòng ngừa rủi ro của Ngân hàng Trung ương. Nội dung thông tin phải bao quát được các
khía cạnh sau:
- Tình hình thị trường sản phẩm, dự báo biến động của giá cả, thị phần
- Những lĩnh vực đang có sự biến động lớn ( thuận lợi, khó khăn)
- ảnh hưởng của thời tiết
- Xu thế sát nhập, giải thể
Trên cơ sở các thông tin có sẵn và thông tin mà NHTM và cán bộ tín dụng có trách
nhiệm thu thập bổ sung, NHTM phải lập ra các phương án xảy ra RRTD khác nhau, trong
đó bao gồm cả các biện pháp xử lý khi RRTD xảy ra, phải xây dựng cả phương án xử lý
chính và phương án xử lý dự phòng. Trong quá trình theo dõi các khoản tín dụng, cán bộ tín
dụng phải thường xuyên cập nhật thông tin và điều chỉnh các phương án dự báo và biện

ngân hàng.
Muốn có đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu quản lý RRTD, thì các NHTM phải có chính
sách tuyển dụng người giỏi, phải có chương trình bồi dưỡng và tập huấn thường xuyên, phải
bố trí cán bộ chuyên trách quản lý RRTD để họ có điều kiện tích luỹ kinh nghiệm

1.2.3. Nhận biết rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại
RRTD là một hiện tượng khó nhận biết và rất phức tạp, gắn liền với hoạt động của cả
ngân hàng lẫn khách hàng và môi trường. Trong quản lý RRTD, việc nhận biết và đánh giá
đầy đủ RRTD là rất quan trọng, vì nó xác định dúng thời điểm RRTD xảy ra và giúp NHTM
xử lý kịp thời. Tuy nhiên, nhận biết RRTD là công việc rất khó thực hiện, bởi các hình thức
RRTD xảy ra trong các tình huống không giống nhau, nên không thể có mô hình chung về
nhận biết RRTD. Tuy nhiên, trong chừng mực có thể, các NHTM cố gắng xây dựng một số
dấu hiệu nhận biết RRTD điển hình nhằm hỗ trợ hoạt động quản lý RRTD. Có thể liệt kê
một số dấu hiệu sau:
1.2.3.1. Các dấu hiệu từ người vay vốn
* Doanh nghiệp vay vốn trì hoãn nộp các báo cáo tài chính: Báo cáo tài chính là tài
liệu quan trọng dùng để thẩm định cho vay, là cơ sở trực tiếp để đánh giá việc vay vốn, sử
dụng vốn của ngân hàng. Vì báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo lưu chuyển
tiền tệ, Báo cáo lỗ, lãi ) có mối quan hệ mật thiết với hiệu quả sử dụng khoản cho vay, cho
nên NHTM đòi hỏi người vay phải xuất trình báo cáo tài chính kèm theo các tài liệu vay
vốn trong suốt thời gian vay vốn của ngân hàng. Việc chậm trễ trong xây dựng hoặc gửi báo
cáo định kỳ của doanh nghiệp nói lên tình hình tài chính doanh nghiệp có vấn đề phải xem
xét, có thể là người vay gặp khó khăn hoặc gian dối về tài chính, do đó ngân hàng phải tiến
hành kiểm tra, phân tích và kết luận cụ thể xem có RRTD hay không để xử lý kịp thời.
*Mối quan hệ không bình thường giữa ngân hàng và người vay: Trong nền kinh tế thị
trường, quan hệ giữa NHTM và người vay là mối quan hệ hợp đồng kinh doanh, bình đẳng,
thoả thuận trên cơ sở ngân hàng trao cho người vay sử dụng vốn của mình với những điều
kiện ràng buộc nhất định. Một trong những ràng buộc đó là người vay phải cung cấp thông
tin về thực thi những cam kết của mình. NHTM cũng tiến hành những hoạt động kiểm soát
trực tiếp và gián tiếp việc sử dụng vốn vay với sự hợp tác nhất định của người vay. Sự chậm

được coi như các dấu hiệu rõ nét để nhận biết RRTD. Bởi vì, thường các doanh nghiệp có
những khó khăn về sản xuất kinh doanh và tài chính mới xuất hiện tình trạng đó và điều này

dẫn đến việc trả nợ của khách hàng sẽ gặp khó khăn.
* Đối tác của khách hàng bị rủi ro, bị phá sản hoặc bị truy tố: Nếu đối tác của khách
hàng bị rủi ro thì nguy cơ rủi ro của khách hàng là rất lớn, dẫn đến rủi ro cho ngân hàng.
*Hoàn trả nợ vay ngân hàng không đúmg kỳ hạn: Thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay ngân
hàng theo thời hạn được coi như là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng.
Các trường hợp trả nợ vay chậm đều được coi là dấu hiệu cơ bản của RRTD, cho dù do
nguyên nhân chủ quan hay khách quan. Bởi vì, mục đích cuối cùng và cơ bản nhất là ngân
hàng phải thu hồi đầy đủ vốn và lãi theo thời hạn. Việc không thực hiện đúng và đầy đủ
nghĩa vụ nợ cũng đồng nghĩa với RRTD.
* Xuất hiện tình trạng vay vốn ở nhiều ngân hàng: Thông thường, khách hàng chỉ
muốn giao dịch ở một số ngân hàng tốt nhất. Tuy nhiên, trong trường hợp kinh doanh gặp
khó khăn, không thể trả nợ ngân hàng đầy đủ và đúng hạn, nên khách hàng đã vay nhiều
ngân hàng để đảo nợ cho nhau và lẩn tránh sự kiểm soát của ngân hàng. Vì thế, tình trạng
khách hàng vay vốn của nhiều ngân hàng, kể cả các ngân hàng không quen thuộc là dấu
hiệu tin cậy để ngân hàng thường cho khách hàng vay vốn dự báo có rủi ro cho khoản vốn
đã cho vay của mình.
1.2.3.2. Các dấu hiệu từ ngân hàng
*Qui trình cho vay không được thực hiện đúng qui định: Mỗi NHTM đều đưa ra
một qui trình cho vay chặt chẽ nhằm làm cho mỗi đồng vốn phát ra phải đi vào sản xuất
kinh doanh có hiệu quả và quay về ngân hàng đủ cả gốc lẫn lãi. Tuy nhiên, qui trình này
không phải lúc nào cũng được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ. Trong bối cảnh cạnh tranh
diễn ra ngày càng mạnh mẽ, các NHTM có xu hướng giảm thấp các điều kiện vay vốn,
bỏ qua các qui định để giữ và thu hút khách hàng, khi đó xác xuất gặp rủi ro tất yếu sẽ
tăng.

Trích đoạn Thực trạng thẩm định khỏch hàng ở Ngõn hàng Nụng nghiệp và Phỏt triển nụng thụn Quảng Nam thời gian qua Nguyờn nhõn yếu kộm trong quản lý rủi ro tớn dụng ở Ngõn hàng Nụng nghiệp và Phỏt triển nụng thụn Quảng Nam thời gian qua Định hướng và mục tiờu phỏt triển của Ngõn hàng Nụng nghiệp và Phỏt triển nụng thụn Quảng Nam trong thời gian tớ Tuyển dụng, tiờu chuẩn hoỏ cỏn bộ. Đa dạng húa phương thức cho vay nhằm san sẻ rủi ro
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status