LUẬN VĂN:
Nâng cao hiệu quả về hoạt động
Marketing của Công ty Công viên
Thống Nhất
Lời mở đầu
Qua từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế Việt Nam đang từng bước chuyển
dịch và khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế. Đó là nhờ sự góp sức rất lớn của
các doanh nghiệp trong đó bào gồm cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.
Mỗi doanh nghiệp có những hình thức thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và dịch vụ của khách
hàng khác nhau.
Marketing là một trong những công tác quan trọng nhất của doanh nghiệp nhằm
đưa sản phẩm dịch vụ của mình tới tay khách hàng. khách hàng có hiểu biết về sản phẩm
Khi cầu < cung, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá, việc tiêu thụ gặp nhiều khó
khăn, bắt buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để thích ứng giữa sản xuất với tiêu
thụ, khi đó marketing có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Ban đầu trong các công ty, chức năng marketing được xem là một trong các chức
năng quan trọng ngang nhau trong công ty. Sau đó, vấn đề tiêu thụ gặp nhiều khó khăn,
đưa những người marketing đến chỗ khẳng định rằng chức năng của họ trong một chừng
mực nào đó quan trọng hơn các chức năng khác. Một số ít người say mê marketing còn đi
xa hơn và khẳng định rằng marketing là chức năng chủ chốt của một doanh nghiệp. Họ
đặt marketing vào vị trí trung tâm, còn chức năng khác chỉ là chức năng hỗ trợ. Những
người làm marketing đã làm sáng tỏ vấn đề bằng cách đặt hàng chứ không phải
marketing vào vị trí trung tâm của công ty. Cuối cùng, một số chuyên gia marketing vẫn
cho rằng marketing phải nắm giữ vị trí trung tâm của công ty nếu muốn cắt nghĩa đúng
đắn các nhu cầu của khách hàng và thoả mãn những nhu cầu đó một cách hữu hiệu.
1.1.2. Khái niệm về Marketing
Qua một thời gian dài phát triển, các chuyên gia về marketing đã đưa ra một số
định nghĩa khác nhau.
* Theo hiệp hội marketing của Mỹ: Marketing là thực hiện các hoạt động kinh
doanh nhằm hướng vào dòng chuyển vận hàng hoá và dịch vụ từ người sản xuất tới người
tiêu thụ hoặc người sử dụng.
* Theo J.J.Lam bin: Marketing đó là quảng cáo, là kích động, là bán hàng bằng
gây sức ép, tức là toàn bộ những phương tiện bán hàng đôi khi mang tính tấn công, được
sử dụng để chiếm thị trường hiện có, marketing cũng là toàn bộ những công cụ phân tích
phương pháp dự đoán và nghiên cứu thị trường được sử dụng nhằm phát triển cách tiếp
cận những nhu cầu và yêu cầu.
* Theo D. Larue và A. Caillat: Marketing là toàn bộ những hoạt động trong nền
kinh tế thị trường nhằm khuyến khích khêu gợi, làm nảy sinh những nhu cầu của người
tiêu dùng về một loại sản phẩm và dịch vụ nào đó; thực hiện sự thích ứng liên tục của bộ
máy sản xuất và bộ máy thương mại của một doanh nghiệp đối với những nhu cầu đã
bình quân của một thành viên lớn, có triển vọng tăng trưởng về số lượng thành viên và
chi tiêu. ít đối thủ cạnh tranh, ít sản phẩm thay thế và ít doanh nghiệp đe doạ nhập ngành,
phù hợp với những nguồn lực và lợi thế của doanh nghiệp. Thông thường, doanh nghiệp
phải đánh đổi vì khó có thể đạt được tất cả những điều kiện thuận lợi trên.
1.1.4. Marketing - Mix
Marketing - Mix (Marketing hỗn hợp) là sự phối hợp hay sắp xếp các thành phần
của marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp. Nếu sự sắp xếp, phối hợp này tốt thì làm ăn của doanh nghiệp sẽ thành đạt và
phát triển. Theo phân loại cổ điển marketing - mix gồm có 4 công cụ có liên hệ qua lại
với nhau là sản phẩm, giá phân phối, xúc tiến bán.
a) Sản phẩm
Định nghĩa về sản phẩm trong marketing:
Sản phẩm là tất cả những cái gì có thể đưa ra thị trường để tạo ra sự chú ý, mua
sắm, sử dụng hay tiêu thụ nhằm thoả mãn một nhu cau hay mong muốn.
Sản phẩm có thể là những vật thể hữu hình, những dịch vụ mang tính vô hình,
những địa điểm, phát minh sáng chế.
Nội dung nghiên cứu về chính sách sản phẩm trong marketing gồm:
+ Xác định chủng loại, kiểu dáng tính năng tác dụng của sản phẩm.
+ Các chỉ tiêu chất lượng.
+ Màu sắc sản phẩm, thành phần
+ Nhãn hiệu sản phẩm.
+ Bao bì sản phẩm
+ Chu kỳ sống của sản phẩm.
+ Sản phẩm mới.
b) Giá
Giá cả là một trong những đặc trưng cơ bản của hàng hoá mà người tiêu dùng
nhận thấy một cách trực tiếp nhất. Nó thể hiện ba đặc trưng: thứ nhất; về mặt kinh tế: cần
trả bao nhiêu tiền để có được hàng hoá đó; thứ hai về mặt tâm lý xã hội: thể hiện những
giá trị thu được khi tiêu dùng hàng hoá; thứ ba, giá cả thể hiện chất lượng giả định của
* Khái niệm : Quảng cáo là toàn bộ các hình thức giới thiệu gián tiếp và khuyếch
trương ý tưởng, hàng hoá hay dịch vụ do người bảo trợ thực hiện mà phải trả tiền.
Quảng cáo còn là hình thức truyền thông đơn phương của cá nhân hoặc doanh
nghiệp có sản phẩm dịch vụ bán hướng vào một đích, tức hướng vào khách hàng mục
tiêu.
+ Chức năng của quảng cáo.
Quảng cáo có ba loại chức năng chính; thứ nhất là chức năng thông tin: tức là
cung cấp các loại thông tin cần thiết về một sản phẩm nào đó cho thị trường mục tiêu mà
doanh nghiệp dự kiến tung ra thị trường trong thời gian tới hoặc những sản phẩm đang
được bán trên thị trường. Thứ hai là chức năng thuyết phục; tức là thuyết phục khách
hàng mua bằng rất nhiều cách khác nhau, có thể thuyết phục trực tiếp hay gián tiếp. Và
thứ ba là chức năng gợi nhớ; tức là nhắc nhở người tiêu dùng nhớ về sản phẩm để họ
không quên. Tức là thông tin được cung ứng phải được lặp lại nhiều lần mới có thể làm
cho người tiêu dùng không quên. Dường như đây là quá trình ghi nhớ thông tin tự nhiên
của con người, các nhà quản lý marketing rất hiểu điều đó.
+ Các quyết định để thực hiện một chương trình quảng cáo nhìn chung, để phát
triển một chương trình quảng cáo thông thường nhà quản lý marketing phải thông qua
năm loại quyết định quan trọng. Sơ đồ sau đây biểu diễn năm loại quyết định cần thực
hiện đối với một chương trình quảng cáo.
Hình 1.1. Các quyết định để thực hiện một chương trình quảng cáo Xác định
m
ục tiêu
Quyết định
+ Các phương tiện truyền thông quảng cáo.
Người thực hiện đối với dạng truyền thông này phải biết khả năng của các loại
phương tiện truyền thông có thể đạt tới tầm ảnh hưởng, tần số và mức tác động nào.
Những loại phương tiện này, theo cường độ quảng cáo, xếp theo thứ tự nhật báo, ti vi, thư
trực tiếp, radio, tạp trí và quảng cáo ngoài trời. Mỗi phương tiện có một số ưu điểm và
hạn chế. Người lựa chọn phải biết lựa trong số những phương tiện này bằng cách lưu ý
đến một số đặc điểm biến thiên.
* Khuyến mại
+ Khái niệm: Khuyến mại là bất kỳ hoạt động nào tạo ra một động cơ để mua sản
phẩm ngoài các lợi ích vốn có của sản phẩm.
+ Chức năng của khuyến mại.
- Nhằm thúc đẩy, hỗ trợ và khuyến khích nỗ lực bán hàng của lực lượng bán hàng.
- Nhằm động viên những người trung gian hỗ trợ một cách nhiệt tình và tích cực
trong việc tiếp thị các sản phẩm của công ty, các quyết định lớn trong khuyến mại.
Khi sử dụng một chương trình khuyến mại, một công ty phải xác lập các mục tiêu
lựa chọn các công cụ, triển khai chương trình, thử nghiệm trước, tiến hành rồi kiểm soát
nó, rồi đánh giá kết quả.
Hình 1.2. Các quyết định để thực hiện một chương trình khuyến mại
công cụ
khuyến mại
Hàng m
ẫu
phiếu thư
ởng
gói hàng
chung, quà
t
ặng, phiếu
đổi hàng.
- Trưng bày
và biểu
diễn tại
nơi bán.
- Cổ động
thương mại
- Tổ chức
h
ội nghị DN
Triển khai
chương tr
ình
khuyến mại
Quy mô của
kích lệ
Điều kiện
- Các quyết định quan trọng trong việc tuyên truyền.
Khi xét tới vấn đề tuyên truyền lúc nào và ra sao, doanh nghiệp phải xác định mục
tiêu tuyên truyền, chọn lựa ngôn ngữ và phương tiện tuyên truyền, tiến hành khênh tuyên
truyền và đánh giá kết quả.
Hình 1.3. Thứ tự công việc trong việc ra quyết định trong việc tuyên truyền - Các phương tiện tuyên truyền.
. Quan hệ với báo chí: Mục tiêu trong quan hệ với báo chí là đưa những thông tin
đáng viết thành tin tức vào các phương tiện truyền thông để thu hút chú ý về những cá
nhân, sản phẩm hay dịch vụ nào đó.
. Truyền thông hợp tác: hoạt động này bao gồm việc truyền thông trong nội bộ
cũng như bên ngoài để giúp người ta hiểu về tổ chức của mình.
. Vận động hành lang: là việc giao tiếp với giới làm luật và nhân viên công quyền
để ủng hộ hay cản trở một sắc luật hay một quy định nào đó.
. Cố vấn: là thông tin cho Ban Giám đốc về những vấn đề công cộng và về vị trí,
hình ảnh của doanh nghiệp.
+ Marketing trực tiếp
Marketing trực tiếp là những hoạt động xúc tiến bán hàng thông qua các công cụ
giao tiếp phi con người. Đây là loại xúc tiến bán hàng xuất hiện từ lâu và quy mô của
chúng ngày càng được mở rộng. Chính nhu cầu của người tiêu dùng và sự phát triển của
Xác định
các mục
tiêu
tuyên
Lựa chọn
ngôn ngữ
1.1.5. Marketing dịch vụ
a) Khái niệm: Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp
cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không diễn đến quyền sở hữu một cái gì đó.
b) Những đặc điểm của dịch vụ.
- Tính vô hình: Các dịch vụ đều vô hình, không nhìn thấy được, không nếm được,
không ngửi thấy được.
- Tính không tách rời: Dịch vụ được sản xuất ra và tiêu dùng đi đồng thời, không
qua nhập kho, không qua mạng lưới phân phối trung gian.
- Tính không ổn định: Các dịch vụ rất không ổn định vì nó phụ thuộc vào người
thực hiện dịch vụ, phụ thuộc vào thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó.
- Tính không lưu trữ được: Tính không lưu trữ được của dịch vụ sẽ không thành
vấn đề khi mà nhu cầu ổn định, bởi vì công ty dịch vụ có thể chuẩn bị trước lực lượng
nhân viên. Ngược lại, nhu cầu về dịch vụ luôn tăng giảm bất thường thì các công ty dịch
vụ sẽ gặp khó khăn. Để phát triển các dịch vụ ngoài yếu tố giá cả, thông tin quảng cáo
các công ty cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng dịch vụ. Có 5 yếu tố
cơ bản quyết định chất lượng dịch vụ.
Thái độ nhiệt tình: Thái độ sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và bảo đảm dịch vụ
nhanh chóng.
Sự bảo đảm: Trình độ chuyên môn và thái độ nhã nhặn của nhân viên và khả
năng của họ gây được tín nhiệm và lòng tin.
Sự thông cảm: Thái độ tỏ ra lo lắng quan tâm đến từng khách hàng.
Yếu tố hữu hình: Bề ngoài của các phương tiện vật chất, trang thiết bị, con
người và tài liệu thông tin. Do những đặc điểm của dịch vụ, hỗn hợp marketing dịch vụ
đòi hỏi không phải 4P mà là 7P. Ngoài 4P truyền thống đối với sản phẩm hữu hình, nhà
quản trị cần chú ý sản phẩm nữa là con người, những bằng chứng vật chứng và quá trình
thực hiện dịch vụ.
c) Khái niệm dịch vụ duy trì cây xanh và vui chơi giải trí.
* Dịch vụ duy trì cây xanh : là dịch vụ trồng mới chăm sóc vườn hoa, thảm cỏ, cây
hàng rào cây cảnh đúng tiêu chuẩn kỹ thuật.
Khái niệm: Phân tích kết quả tiêu thụ là việc nghiên cứu về lượng tiêu thụ và
doanh thu của doanh nghiệp. Nhà quản trị cần phân tích doanh thu và lượng tiêu thụ theo
các dòng sản phẩm và các khúc thị trường. Các doanh nghiệp số này sẽ được so sánh với
mục tiêu của doanh nghiệp và doanh số của ngành.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tiêu thụ
Phân tích hiệu quả tiêu thụ của doanh nghiệp dựa trên.
- Tỷ số giá trị hàng bán bị trả lại trên doanh thu thuần (càng nhỏ càng tốt).
- Tỷ số lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần (tổng quát và chi tiết theo khu vực
địa lý nhóm khách hàng). "Tỷ số này càng lớn càng tốt".
- Tỷ số chi phí marketing trên doanh thu thuần (tổng quát và chi tiết theo từng khu
vực địa lý nhóm khách hàng). "Tỷ số này càng bé càng tốt".
1.2.3. Phân tích kết quả thái độ.
* Kết quả thái độ của doanh nghiệp dựa vào lượng khách hàng mới, khách hàng
thoả mãn, số khách hàng bị mất và dựa vào mức độ thoả mãn của khách hàng.
* Các chỉ tiêu đánh giá kết quả thái độ.
- Tổng số khách hàng mới của doanh nghiệp.
- Số lượng khách hàng mới/ tổng số khách hàng của doanh nghiệp.
- Số khách hàng không thoả mãn/ tổng số khách hàng của doanh nghiệp.
- Số khách hàng bị mất/ tổng số khách hàng của doanh nghiệp.
- Mức độ thoả mãn của khách hàng.
1.2.4. Phân tích các công cụ marketing.
Phân tích các công cụ marketing dựa vào các chỉ tiêu đánh giá công cụ sản phẩm,
giá, phân phối và xúc tiến bán với sản phẩm dịch vụ còn có con người, bằng chứng vật
chứng và quá trình dịch vụ.
* Các chỉ tiêu đánh giá công cụ sản phẩm.
+ Kết quả tiêu thụ từng dòng sản phẩm.
+ Chất lượng tương đối của dịch vụ hỗ trợ.
+ Mức độ thoả mãn và ưa thích.
+ Sự triển khai sản phẩm mới.
Những thông tin nội bộ bao gồm: đơn đặt hàng, doanh số, lương tồn kho, dòng
tiền mặt, khoản phải thu, đặc điểm sản phẩm.
Những thông tin nội bộ được thu thập từ.
- Hệ thống sổ sách kế toán.
- Hệ thống báo cáo bán hàng.
b) Hệ thống thông tin bên ngoài
Khái niệm: Hệ thống thông tin bên ngoài (thường ngày) là hệ thống nhằm thu thập
những thông tin hàng ngày về những sự kiện trong môi trường marketing.
Các thông tin bên ngoài bao gồm: khách hàng, các bước phát triển của đối thủ
cạnh tranh, các biến động của môi trường vĩ mô, những thay đổi liên quan đến kênh phân
phối, những thay đổi khác.
Để thu thập loại thông tin này, doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn lực nội bộ hoặc
nguồn lực bên ngoài doanh nghiệp. Tự nhà quản trị marketing có thể theo dõi tình hình
qua các thông tin đại chúng qua những cuộc gặp gỡ và khảo sát riêng. Doanh nghiệp có
thể sử dụng lực lượng bên ngoài như: nhà trung gian, các nhân viên cũ, mua thông tin từ
những công ty dịch vụ thông tin marketing chuyên nghiệp.
1.3. Dữ liệu và nguồn dữ liệuphục vụ phântích
1.3.1. Dữ liệu sơ cấp
* Khái niệm: Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu chưa có ai thu thập nhà nghiên cứu
marketing là người thu thập đầu tiên.
+ Có 4 phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp là quan sát, thảo luận nhóm, điều tra
và thử nghiệm.
- Quan sát là phương pháp nghiên cứu dựa trên sự theo dõi bằng mắt hoặc theo dõi
với sự trợ giúp của thiết bị những hành vi của đối tượng nghiên cứu mà không dùng câu
hỏi.
- Thảo luận nhóm trọng điểm: Là phương pháp nghiên cứu trong đó nhà nghiên
cứu mời một nhóm khách hàng chọn lọc từ 4 đến 10 người đến dự thảo luận với một chủ
đề định trước dưới sự dẫn dắt của một người trợ giúp thảo luận. Các thảo luận sẽ được
ghi chép lại, ghi âm hoặc ghi hình để phân tích.
được nhu cầu thư giãn một cách tốt nhất bằng khung cảnh, môi trường và cung cách phục
vụ. Được mệnh danh là lá phổi xanh của Thủ đô công ty đang cố gắng làm tốt hơn nữa
công ty duy trì vườn hoa thảm cỏ để góp sức và cải thiện môi trường được nhiều hơn.
Ngoài những nhu cầu thư giãn tinh thần con người còn muốn tham gia vui chơi
giải trí, để tìm kiếm sự sáng tạo, tò mò, tìm kiếm cảm giác mạnh Từ trước tới nay, công
ty luôn làm thoả mãn những nhu cầu vui chơi bằng các trò chơi cảm giác mạnh hay nhẹ
nhàng cộng với sự nhiệt tình và cung cách phục vụ tốt nhất. Mỗi năm công ty phục vụ
hàng ngàn lượt khách vào công viên tham quan và hàng nghìn người tham gia, vui chơi.
Tuy nhiên, những năm gần đây công ty đang bị mất dần những khách hàng vào tham
quan mà lý do chính có lẽ là sự lạc hậu của hệ thống vui chơi và sự đơn điệu trong công
tác duy tu, duy trì. Công ty cần tìm hiểm nguyên nhân chính để nâng cao chất lượng sản
phẩm dịch vụ. Cũng vì kinh doanh không đạt được kết quả như mong muốn mà công ty
đang làm mọi cách để tìm kiếm được nhiều khách hàng và dịch vụ mới, một trong những
dịch vụ mới của công ty mới có trong những năm gần đây là cho thuê đất đai để tổ chức
hội chợ, quảng cáo, quảng bá sản phẩm. Dịch vụ này hàng năm cũng mang lại lợi nhuận
cho công ty mặc dù chưa cao.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của công ty.
a) Công nghệ sản xuất.
Công ty Công ty Công viên Thống Nhất là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động
công ích với những sản phẩm dịch vụ là chủ yếu. Mà đặc điểm cơ bản nhất của dịch vụ là
yếu tố con người, và công ty cũng không nằm ngoài đặc điểm trên. Mọi quy trình công
nghệ sản xuất ra sản phẩm dịch vụ đều do con người trực tiếp làm ra mà gần như không
thông qua máy móc gì. Với các lĩnh vực kinh doanh.
- Duy trì vườn hoa thảm cỏ trong công viên và một số giải phân cách.
- Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí.
Nên yếu tố con người càng quan trọng hơn nữa. Mọi công việc này đều dựa vào
trình độ, kinh nghiệm, sức khoẻ và sự nhạy bén của mỗi người trong công việc. Với đội
ngũ công nhân lành nghề nên sản phẩm dịch vụ của công ty được rất nhiều người biến
đến (được Bộ Giao thông vận tải gắn biển "Con đường đẹp Việt Nam" tại đường Nguyễn
Hình 2.1. Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty Vông viên Thống Nhất
c) Marketing của doanh nghiệp.
Là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích không chỉ vì mục tiêulợi nhuận
nên những năm trở về trước công ty không quan tâm nhiều lắm về marketing. Trước đây,
do khu vui chơi ít mà Công viên Thống Nhất là địa chỉ tin cậy cho những người muốn
thư giãn nên công ty đã không chú trọng đến nâng cao chất lượng dịch vụ. Vài năm trở
lại đây khi mất dần lượng khách vào công viên tham gia vui chơi công ty như sực tỉnh và
muốn tìm lại được lượng khách như xưa, chính mục tiêu này mới làm cho công ty tìm
đến marketing. Tìm đến marketing muộn như công ty đã đạt được những thành công nhất
định nhờ marketing. Đối với:
+ Dịch vụ duy trì vườn hoa thảm cỏ trước khi chưa có marketing công ty chỉ có
khách hàng truyền thống là Sở Giao thông Công chính Hà Nội, nhưng khi có hệ thống
marketing công ty đã có những khách hàng mới (như các trường học, khu đô thị mới ).
Những khách hàng này đã được công ty tìm hiểu rất kỹ về thị hiếu, đòi hỏi chất lượng,
trì
2
Đội
sản
xuất
cây
hoa
Đội
dịch
vụ
sản
xu
ất
Đ
ội
nuôi
th
ả
cá
Đ
ội
vui
chơi
1
Đ
ội
vui
chơi
2
được chỉ tiêu do Sở Giao thông công chính đề ra. Công ty đã phải dựa phần lớn vào công
tác duy trì vườn hoa thảm cỏ và các giải phân cách vì lợi nhuận kinh doanh dịch vụ vui
chơi giải trí trong công viên rất nhỏ, không đủ nộp ngân sách. Doanh số từ vui chơi giải
trí đem lại, trong công viên với lý do chính là dịch vụ vui chơi không còn đáp ứng được
đòi hòi của khách chơi. Nhưng những năm gần đây công tác xã hội công ty đang làm rất
tốt, hàng ngày công ty đã tiếp đón hàng nghìn người tham gia tập thể dục rèn luyện sức
khoẻ. Những năm gần đây Công ty đã tổ chức thành công và phối hợp tổ chức thành công
nhiều hoạt động phục vụ cộng đồng như: Ngày văn hóa các dân tộc Tây Bắc tháng
4/2004, 50 năm ngày báo Thiếu niên Tiền Phong ra số đầu tiên, Lễ hội tuổi thơ Việt
Nam, kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 9 năm 2004
Công ty đã lỗ lực cùng các đơn vị thi công hoàn thành được Đài phun nước Trung tâm
đúng vào dịp lễ kỷ niệm 2/9 đã góp phần làm đẹp thêm cho Công viên và là điểm vui
chơi, thưởng ngoạn thu hút rất đông người vào công viên. Công ty thường xuyên tạo điều
kiện vào công viên miễn phí cho hàng trăm lượt học sinh, sinh viên, cán bộ chiến sỹ công
an tổ chức các hoạt động công cộng như: lễ ra quân, thi chạy vũ trang, chiến sỹ khoẻ, hội
thi của người cao tuổi, hoạt động của hội người khuyết tật thành phố Hiệu quả xã hội
này không thể tính bằng tiền. Công viên Thống nhất vẫn là điểm thể hiện tính chất ưu
việt của Thành phố đối với việc phục vụ lợi ích công cộng xã hội. Về mặt kinh tế, doanh
nghiệp đã không đạt được những lợi ích to lớn nhưng về mặt xã hội thì công ty đang làm
ngày một tốt hơn. Công ty đang cố gắng nâng cao chất lượng mọi dịch vụ kinh doanh để
làm tăng hiệu quả kinh tế và không làm giảm hiệu quả xã hội.
2.1.4. Điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp.
Công ty Công viên Thống Nhất là doanh nghiệp nhà nước hoạt động với mục tiêu
là phục vụ lợi ích xã hội. Vì vậy, công ty luôn tìm mọi cách để làm sao phục vụ càng
nhiều khách tham gia dịch vụ càng tốt. Công ty có những điểm mạnh rất đáng chú ý
nhưng cũng còn rất nhiều điểm yếu.
+ Điểm mạnh của Công ty Công viên Thống Nhất.
- Công viên Thống Nhất có địa điểm rất đẹp: nằm trung tâm thành phố, giao thông
thuận tiện và môi trường tốt.
- Cây hoa trồng mới phải đẹp, tươi tắn, mập, không sâu bệnh.
- Cỏ trồng đảm bảo sống, không có cỏ dại.
Đó là những yêu cầu khi khách hàng muốn trồng mới còn đối với khách hàng
muốn duy trì cây xanh họ đòi hỏi chất lượng duy trì là:
- Với cỏ: cắt phải thật phẳng, vỉa làm đúng kích thước, quét và nhổ cỏ dại sạch sẽ
(nếu có cỏ dại).
- Với cây cảnh: khi khách yêu cầu cây trồng có hình thù gì thì công ty phải làm
được đạt yêu cầu và cắt tỉa đúng quy trình.
- Khi duy trì hoa công ty phải cắt tỉa hoa đúng quy trình, không được để cây héo,
chết.
Trong tương lai công ty sẽ sử dụng nhiều hình thức trên mọi phương diện để đạt
được mong ước của mình là có càng nhiều khách hàng mới càng tốt.
+ Với công tác kinh doanh dịch vụ, vui chơi giải trí.
Biết rằng nhu cầu thư giãn là của hầu hết mọi đối tượng nhưng công ty luôn quan
tâm, chú ý tới lứa tuổi thanh thiếu niên. Lứa tuổi này luôn đòi hỏi rất cao về chất lượng
các khu vui chơi giải trí, một điều công ty quan tâm nhiều nhất là do lứa tuổi này rất dễ bị
các trò chơi lôi cuốn. Lứa tuổi này: ưa mạo hiểm, thích cảm giác mạnh, tò ò khi được toại
nguyện họ sẽ là người truyền đạt cho người khác biết một cách nhanh nhất. Nếu thoả mãn
được nhu cầu vui chơi của thanh thiếu niên công ty sẽ có lượng khách như mong muốn.
Ngoài đối tượng thanh thiếu niên, công ty còn đang mong có những khách hàng là những
người trung tuổi. ở tuổi này công việc luôn làm cho họ đầu tắt mặt tối căng thẳng mà nơi
thư giãn cho họ thì quá ít. Những khách hàng này mong có nơi yên tĩnh, thoáng mát,
khung cảnh đẹp, nếu có chút ồn ào thì chỉ là giao lưu hay chơi một trò chơi trí tuệ, nhẹ
nhàng. Nếu có được khách hàng này công ty sẽ có doanh thu rất cao vì đây là khách hàng
thường có tài chính rất ổn định, họ sẵn sàng bỏ tiền để tìm được nơi thư giãn ưng ý đúng
nguyện vọng.
Nói như trên không có nghĩa công ty chỉ quan tâm đến những khách hàng mục tiêu
của mình, mà công ty sẽ quan tâm chú trọng nâng cao chất lượng mọi dịch vụ để thoả
mãn các yêu cầu của mọi khách hàng.