LUẬN VĂN:
Nâng cao hiệu quả về hoạt động
Marketing của Công ty Công
viên Thống Nhất
Lời mở đầu
Qua từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế Việt Nam đang từng bước chuyển
dịch và khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế. Đó là nhờ sự góp sức rất lớn của
các doanh nghiệp trong đó bào gồm cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.
Mỗi doanh nghiệp có những hình thức thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và dịch vụ của khách
hàng khác nhau.
Marketing là một trong những công tác quan trọng nhất của doanh nghiệp nhằm đưa
sản phẩm dịch vụ của mình tới tay khách hàng. khách hàng có hiểu biết về sản phẩm dịch
vụ, có tin cậy vào doanh nghiệp thì khách hàng mới mua và sử dụng sản phẩm và lợi
nhuận thu đựơc của doanh nghiệp cũng là nhờ vào sự mua của khách hàng.
Đối với Công ty Công viên Thống nhất, công tác marketing đã và đang được Ban
lãnh đạo quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, là một doanh nghiệp mới tách khỏi Công ty công
viên Cây xanh, nên công tác marketing của Công ty còn nhiều điểm chua thực sự hợp lý,
đặc biệt là khi công ty đang có những dự án mới yêu cầu công tác marketing phải năng
động và sáng tạo hơn nữa.
đưa những người marketing đến chỗ khẳng định rằng chức năng của họ trong một chừng
mực nào đó quan trọng hơn các chức năng khác. Một số ít người say mê marketing còn đi
xa hơn và khẳng định rằng marketing là chức năng chủ chốt của một doanh nghiệp. Họ đặt
marketing vào vị trí trung tâm, còn chức năng khác chỉ là chức năng hỗ trợ. Những người
làm marketing đã làm sáng tỏ vấn đề bằng cách đặt hàng chứ không phải marketing vào vị
trí trung tâm của công ty. Cuối cùng, một số chuyên gia marketing vẫn cho rằng marketing
phải nắm giữ vị trí trung tâm của công ty nếu muốn cắt nghĩa đúng đắn các nhu cầu của
khách hàng và thoả mãn những nhu cầu đó một cách hữu hiệu.
1.1.2. Khái niệm về Marketing
Qua một thời gian dài phát triển, các chuyên gia về marketing đã đưa ra một số định
nghĩa khác nhau.
* Theo hiệp hội marketing của Mỹ: Marketing là thực hiện các hoạt động kinh
doanh nhằm hướng vào dòng chuyển vận hàng hoá và dịch vụ từ người sản xuất tới người
tiêu thụ hoặc người sử dụng.
* Theo J.J.Lam bin: Marketing đó là quảng cáo, là kích động, là bán hàng bằng gây
sức ép, tức là toàn bộ những phương tiện bán hàng đôi khi mang tính tấn công, được sử
dụng để chiếm thị trường hiện có, marketing cũng là toàn bộ những công cụ phân tích
phương pháp dự đoán và nghiên cứu thị trường được sử dụng nhằm phát triển cách tiếp
cận những nhu cầu và yêu cầu.
* Theo D. Larue và A. Caillat: Marketing là toàn bộ những hoạt động trong nền
kinh tế thị trường nhằm khuyến khích khêu gợi, làm nảy sinh những nhu cầu của người
tiêu dùng về một loại sản phẩm và dịch vụ nào đó; thực hiện sự thích ứng liên tục của bộ
máy sản xuất và bộ máy thương mại của một doanh nghiệp đối với những nhu cầu đã được
xác định.
* Định nghĩa tổng quát về marketing của Philip Kother: Marketing là một dạng hoạt
động của con người nhằm thoả mãn những nhu cau và mong muốn của họ thông qua trao
đổi.
1.1.3. Phân đoạn thị trường và thị trường mục tiêu
* Phân đoạn thị trường còn gọi là phân khúc hoặc cắt lát thị trường. Phân đoạn thị
của marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp. Nếu sự sắp xếp, phối hợp này tốt thì làm ăn của doanh nghiệp sẽ thành đạt và phát
triển. Theo phân loại cổ điển marketing - mix gồm có 4 công cụ có liên hệ qua lại với nhau
là sản phẩm, giá phân phối, xúc tiến bán.
a) Sản phẩm
Định nghĩa về sản phẩm trong marketing:
Sản phẩm là tất cả những cái gì có thể đưa ra thị trường để tạo ra sự chú ý, mua
sắm, sử dụng hay tiêu thụ nhằm thoả mãn một nhu cau hay mong muốn.
Sản phẩm có thể là những vật thể hữu hình, những dịch vụ mang tính vô hình,
những địa điểm, phát minh sáng chế.
Nội dung nghiên cứu về chính sách sản phẩm trong marketing gồm:
+ Xác định chủng loại, kiểu dáng tính năng tác dụng của sản phẩm.
+ Các chỉ tiêu chất lượng.
+ Màu sắc sản phẩm, thành phần
+ Nhãn hiệu sản phẩm.
+ Bao bì sản phẩm
+ Chu kỳ sống của sản phẩm.
+ Sản phẩm mới.
b) Giá
Giá cả là một trong những đặc trưng cơ bản của hàng hoá mà người tiêu dùng nhận
thấy một cách trực tiếp nhất. Nó thể hiện ba đặc trưng: thứ nhất; về mặt kinh tế: cần trả
bao nhiêu tiền để có được hàng hoá đó; thứ hai về mặt tâm lý xã hội: thể hiện những giá trị
thu được khi tiêu dùng hàng hoá; thứ ba, giá cả thể hiện chất lượng giả định của hàng hoá.
Giá cả là yếu tố duy nhất trong Marketing - mix tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp.
Nội dung nghiên cứu của chính sách giá trong hoạt động marketing gồm.
+ Lựa chọn chính sách giá và định giá.
+ Nghiên cứu chi phí sản xuất kinh doanh làm cơ sở cho việc định giá.
+ Nghiên cứu giá cả hàng hoá cùng loại trên thị trường.
+ Nghiên cứu cung cầu thị hiếu khách hàng để có quyết định về giá hợp lý.
nghiệp dự kiến tung ra thị trường trong thời gian tới hoặc những sản phẩm đang được bán
trên thị trường. Thứ hai là chức năng thuyết phục; tức là thuyết phục khách hàng mua bằng
rất nhiều cách khác nhau, có thể thuyết phục trực tiếp hay gián tiếp. Và thứ ba là chức
năng gợi nhớ; tức là nhắc nhở người tiêu dùng nhớ về sản phẩm để họ không quên. Tức là
thông tin được cung ứng phải được lặp lại nhiều lần mới có thể làm cho người tiêu dùng
không quên. Dường như đây là quá trình ghi nhớ thông tin tự nhiên của con người, các nhà
quản lý marketing rất hiểu điều đó.
+ Các quyết định để thực hiện một chương trình quảng cáo nhìn chung, để phát
triển một chương trình quảng cáo thông thường nhà quản lý marketing phải thông qua năm
loại quyết định quan trọng. Sơ đồ sau đây biểu diễn năm loại quyết định cần thực hiện đối
với một chương trình quảng cáo.
Hình 1.1. Các quyết định để thực hiện một chương trình quảng cáo
Xác định
mục tiêu
truyền
thống
- Mục tiêu
truyền
thống
Quyết định
về phương
tiện truyền
thông (TT)
Đánh giá
chiến
dịch
- Tác
đ
ộng về
truyền
thông
-
Tác
+ Các phương tiện truyền thông quảng cáo.
- Các phương tiện khuyến mại.
. Hàng mẫu: Hàng mẫu thường có khối lượng nhỏ và khuyến khích dùng thử. Một
số hàng mẫu thì miễn phí, một số khác thì công ty chỉ tính tiền chút ít để bù lại chi phí làm
hàng mẫu.
. Phiếu thưởng, là giấy chứng nhận cho khách hàng giúp họ có thể bớt tiền khi mua
món hàng nào đó.
. Quà tặng: là hàng được tặng miễn phí hoặc được bán với giá rất thấp.
. Thi có thưởng và xổ số là những hình thức mà khách hàng có cơ may trúng tưởng
những vật phẩm có giá trị thông qua việc mua hàng của công ty.
* Tuyên truyền (mở rộng quan hệ với công chúng).
- Khái niệm: Công chúng là mọi nhóm người có quan tâm hay ảnh hưởng thực tế
hay tiềm ẩn đến khả năng công ty đạt được những mục tiêu của mình.
Tuyên truyền là một trong những công cụ đào tạo khách hàng nằm ngoài phần
quảng cáo, phải trả tiền trong mọi phương tiện truyền thông được đọc nghe, nhìn bởi
khách hàng hiện tại hoặc tương lai của công ty, chỉ với mục đích góp phần đạt được những
mục tiêu doanh số.
Xác
định
m
ục
Lựa chọn
công cụ
khuyến mại
Hàng m
ẫu
phiếu thư
ởng
gói hàng
cổ động.
- Tổng k
inh
phí cho
chương
Thử
nghiệ
m
Tiến
hành
Đánh
giá
k
ết
- Chức năng của tuyên truyền.
Tuyên truyền được dùng để quảng cáo cho nhãn hiệu sản phẩm cá nhân, địa điểm -
ý nghĩa, hoạt động, tổ chức và ngay cả quốc gia nữa. Các hiệp hội thương mại dùng tuyên
truyền để gây sự chú ý tới những mặt hàng tiêu dùng đang bị suy yếu. Các tổ chức dùng nó
để thu hút sự chú ý hay vực lại một hình ảnh xuống dốc các quốc gia dùng tuyên truyền đe
thu hút du khách các nguồn đầu tư nước ngoài và sự hỗ trợ quốc tế.
- Các quyết định quan trọng trong việc tuyên truyền.
Khi xét tới vấn đề tuyên truyền lúc nào và ra sao, doanh nghiệp phải xác định mục
tiêu tuyên truyền, chọn lựa ngôn ngữ và phương tiện tuyên truyền, tiến hành khênh tuyên
truyền và đánh giá kết quả.
Hình 1.3. Thứ tự công việc trong việc ra quyết định trong việc tuyên truyền
Đánh giá
kết quả
tuyên
truy
ềnviễn thông, tin học đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô của các chương
trình xúc tiến bán hàng theo kiểu marketing trực tiếp.
Để thực hiện các chương trình marketing trực tiếp, người ta thường sử dụng các
công cụ như catalogue giới thiệu hàng hoá, gửi thông tin qua bưu điện, fax qua thư điện tử
và internet nói chung. Tại các nước công nghiệp phát triển, marketing trực tiếp thông qua
công cụ internet tỏ ra rất có hiệu quả trong việc thu hút các khách hàng tiềm năng trẻ tuổi.
Việc quyết định sử dụng loại công cụ nào là tuỳ thuộc vào đặc tính khách hàng mục
tiêu, đặc điểm của thị trường là chiến lược của doanh nghiệp.
+ Bán hàng trực tiếp.
Nhân viên bán hàng là cầu nối trực tiếp công ty với khách hàng. Những người bán
hàng là người thay mặt công ty quan hệ với rất nhiều khách hàng và đồng thời cũng đem
về cho công ty những thông tin tình báo cần thiết về khách hàng. Vì vậy tổ chức, tuyển
chọn đào tạo, quản lý, động viên lực lượng bán hàng là công việc mà công ty phải giành
một sự quan tâm thoả đáng.
1.1.5. Marketing dịch vụ
a) Khái niệm: Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho
bên kia và chủ yếu là vô hình và không diễn đến quyền sở hữu một cái gì đó.
b) Những đặc điểm của dịch vụ.
- Tính vô hình: Các dịch vụ đều vô hình, không nhìn thấy được, không nếm được,
không ngửi thấy được.
- Tính không tách rời: Dịch vụ được sản xuất ra và tiêu dùng đi đồng thời, không
qua nhập kho, không qua mạng lưới phân phối trung gian.
- Tính không ổn định: Các dịch vụ rất không ổn định vì nó phụ thuộc vào người
khung cảnh đẹp mới lạ ở từng nơi cụ thể.
* Dịch vụ vui chơi giải trí là dịch vụ giúp cho con người có được cảm giác sảng
khoái thư giãn khi tham gia các trò chơi. Dịch vụ này cũng giúp cho con người có cuộc
sống lành mạnh vui vẻ hơn.
1.1.6. Quá trình quản trị marketing
* Khái niệm: Quản trị marketing là quá trình xây dựng kế hoạch, triển khai thực
hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá các chương trình hoạt động marketing đã đề ra nhằm
đạt được các mục tiêu chung của công ty.
* Quá trình quản lý marketing gồm 3 giai đoạn chủ yếu:
a) Xây dựng kế hoạch marketing: phân tích môi trường hoạt động marketing, xác
định mục tiêu, xây dựng chiến lược marketing và chiến thuật để đạt được các mục tiêu đề
ra. Xây dựng chiến lược marketing bao gồm 2 nội dung chủ yếu.
(1) Lựa chọn thị trường mục tiêu.
(2) Thiết kế marketing - mix
b) Triển khai thực hiện bao gồm tổ chức và bố trí nhân sự trong bộ phận marketing,
hướng hoạt động của tổ chức theo kế hoạch đề ra.
c) Kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch marketing để có những quyết
định quản lý và có cơ sở xây dựng kế hoạch tương lai.
1.2. Trình tự phân tích và các chỉ tiêu đánh giá công tác marketing - mix.
1.2.1. Phân tích kết quả tiêu thụ:
Khái niệm: Phân tích kết quả tiêu thụ là việc nghiên cứu về lượng tiêu thụ và doanh
thu của doanh nghiệp. Nhà quản trị cần phân tích doanh thu và lượng tiêu thụ theo các
dòng sản phẩm và các khúc thị trường. Các doanh nghiệp số này sẽ được so sánh với mục
tiêu của doanh nghiệp và doanh số của ngành.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tiêu thụ
Phân tích hiệu quả tiêu thụ của doanh nghiệp dựa trên.
- Tỷ số giá trị hàng bán bị trả lại trên doanh thu thuần (càng nhỏ càng tốt).
- Tỷ số lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần (tổng quát và chi tiết theo khu vực
địa lý nhóm khách hàng). "Tỷ số này càng lớn càng tốt".
+ Đánh giá hoạt động quảng cáo.
. Chi phí quảng cáo 1000 khán giả mục tieu.
. Mức độ biết đến sản phẩm.
+ Các chỉ tiêu đánh giá khuyến mại.
- Doanh thu: Sau khi kết thúc và trước khi bắt đầu chương trình khuyến mại
* Ngoài ra còn có các chỉ tiêu đánh giá 3P trong sản phẩm dịch vụ là:
- Con người được đánh giá bằng
+ Thái độ phục vụ, sự nhiệt tình.
- Bằng chứng vật chứng được đánh giá bằng.
+ Địa điểm, sự thuận tiện về giao thông.
- Quá trình dịch vụ được đánh giá bằng.
+ Quá trình phục vụ có được hoàn thiện hay không?
1.2.5. Phân tích hoạt động thu thập thông tin marketing
Khái niệm: Thu thâp thông tin marketing là những hệ thống liên hệ qua lại giữa
người, thiết bị và các phương pháp, hoạt động thường xuyên để thu thập, phân loại, phân
tích đánh giá và phổ biến những thông tin cần thiết, một cách chính xác, đúng lúc cho
những người ra quyết định marketing.
a) Hệ thống ghi chép nội bộ.
Khái niệm: Hệ thống ghi chép nội bộ là hệ thống cung cấp các thông tin nội bộ của
doanh nghiệp liên quan tới những quyết định marketing.
Những thông tin nội bộ bao gồm: đơn đặt hàng, doanh số, lương tồn kho, dòng tiền
mặt, khoản phải thu, đặc điểm sản phẩm.
Những thông tin nội bộ được thu thập từ.
- Hệ thống sổ sách kế toán.
- Hệ thống báo cáo bán hàng.
b) Hệ thống thông tin bên ngoài
Khái niệm: Hệ thống thông tin bên ngoài (thường ngày) là hệ thống nhằm thu thập
những thông tin hàng ngày về những sự kiện trong môi trường marketing.
Các thông tin bên ngoài bao gồm: khách hàng, các bước phát triển của đối thủ cạnh
+ Bên ngoài qua niêm giám thống kê, thống kê ngành, tạp chí, báo chuyên ngành
Phần II: Phân tích thực trạng công tác marketing của doanh nghiệp
2.1. Giới thiệu chung về Công ty Công viên Thống Nhất.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Công viên Thống Nhát trước là Công viên Lênin được xây dựng từ những năm
1960 và nằm trong sự quản lý của Công ty Công viên cây xanh. Đến ngày 21/8/1997 Uỷ
ban nhân dân thành phố Hà Nội đã có quyết định thành lập Công ty Công viên Thống Nhất
bao gồm Công viên Lênin và một phần diện tích đã hình thành của Công viên Hồ Ba Mẫu
và các diện tích cây xanh tại các giải phân cách đường: Nguyễn Chí Thanh, Trần Khát
Chân, An Dương Long Biên, Đào Duy Anh và đường Nguyễn Tri Phương.
Vào cuối năm 2003, Công viên Lênin được chính thức đổi tên thành Công viên
Thống Nhất.
Công ty Công viên Thống Nhất là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích, là
một thành viên lớn có lịch sử lâu đời trong hệ thống hạ tầng vui chơi giải trí của thủ đô với
mức độ thị hoá ngày càng cao, đường phố chật hẹp, phương tiện tham gia giao thông với
số lượng lớn làm cho các đường xá trong thành phố trở nên quá tải kèm theo đó là sự ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng. Từ những điều trên luôn làm cho con người có cảm giá
ngẹn thở, bị ức chế về tinh thần nên nhu cầu thư giãn và vui chơi giải trí của con người là
chính đáng và cần thiết. Công ty Công viên Thống Nhất dadx làm thoả mãn được nhu cầu
thư giãn một cách tốt nhất bằng khung cảnh, môi trường và cung cách phục vụ. Được
mệnh danh là lá phổi xanh của Thủ đô công ty đang cố gắng làm tốt hơn nữa công ty duy
trì vườn hoa thảm cỏ để góp sức và cải thiện môi trường được nhiều hơn.
Ngoài những nhu cầu thư giãn tinh thần con người còn muốn tham gia vui chơi giải
trí, để tìm kiếm sự sáng tạo, tò mò, tìm kiếm cảm giác mạnh Từ trước tới nay, công ty
luôn làm thoả mãn những nhu cầu vui chơi bằng các trò chơi cảm giác mạnh hay nhẹ
nhàng cộng với sự nhiệt tình và cung cách phục vụ tốt nhất. Mỗi năm công ty phục vụ
hàng ngàn lượt khách vào công viên tham quan và hàng nghìn người tham gia, vui chơi.
Tuy nhiên, những năm gần đây công ty đang bị mất dần những khách hàng vào tham quan
+ Giám đốc công ty
+ 1 Phó Giám đốc
Các phòng chuyên môn nghiệp vụ.
1. Phòng kế toán - tài vụ.
2. Phòng kế hoạch - kỹ thuật.
3. Phòng tổ chức - hành chính.
4. Phòng bảo vệ.
5. Phòng kinh doanh.
Các đội sản xuất.
1. Đội duy trì I
2. Đội duy trì II
3. Đội sản xuất cây hoa cây cảnh
4. Đội dịch vụ sản xuất
5. Đội nuôi thả cá
6. Đội dịch vụ văn hoá
7. Đội dịch vụ vui chơi 1
8. Đội dịch vụ vui chơi 2
Số cấp quản lý của doanh nghiệp là 2 và theo kiểu trực tuyến chức năng.
(Trực tuyến chức năng là giám đốc trực tiếp ra quyết định cho các phòng ban và các
đội).
Hình 2.1. Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty Vông viên Thống Nhất
Phòng
KT - TV
Phòng
Kế
Phòng
Bảo vệ
Phòng
Kinh
Đội
duy
trì
1
Đ
ội
duy
trì
2
Đội
sản
xuất
cây
hoa
Đội
dịch
hiểu khách hàng về mọi mặt, khi khách vào công viên để thư giãn vui chơi nhưng do kinh
tế công ty có hạn nên về loại hình dịch vụ này marketing chưa làm được gì nhiều để cải
thiện tình hình vắng khách như hiện nay.
Tóm lại, với đội ngũ marketing còn trẻ và thiếu kinh nghiệm như hiện nay, công ty
cần có những nhà marketing giỏi, năng động để doanh nghiệp đạt được kết quả cao trong
kinh doanh.
d) Tài chính doanh nghiệp
Công ty Công viên Thống Nhất là doanh nghiệp nhà nước được sự bao cấp của nhà
nước, nên tài chính của Công ty phụ thuộc vào kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí, bán vé
vào công viên và các dịch vụ khác. Chính vì vậy khi lượng khách tham gia vui chơi giải trí
bán vé vào công viên và các dịch vụ khác. Chính vì vậy, khi lượng khách tham gia vui
chơi giảm một cách rõ rệt như hiện nay đồng thời giá cả nguyên vật liệu lại tăng thì lợi
nhuận của Công ty là rất ít. Nên về tài chính của Công ty là rất yếu, điều này đã làm cho
Công ty rất khó khăn khi muốn đấu thầu công trình hay đầu tư các hạng mục vui chơi.
Trong tương lai Công ty mong muốn các Ngân hàng nhà nước sẽ đồng ý cho Công ty vay
vốn với mức lãi suất thấp và ưu đãi.
2.1.3. Tình hình sản xuất kinh doanh gần đây của doanh nghiệp.
Từ trước cho tới nay công ty luôn hoàn thành kế hoạch nhận được từ khách hàng
truyền thống, nộp đầy đủ các khoản phải nộp và ngân sách cho nhà nước. Hoàn thành được
chỉ tiêu do Sở Giao thông công chính đề ra. Công ty đã phải dựa phần lớn vào công tác
duy trì vườn hoa thảm cỏ và các giải phân cách vì lợi nhuận kinh doanh dịch vụ vui chơi
giải trí trong công viên rất nhỏ, không đủ nộp ngân sách. Doanh số từ vui chơi giải trí đem
lại, trong công viên với lý do chính là dịch vụ vui chơi không còn đáp ứng được đòi hòi
của khách chơi. Nhưng những năm gần đây công tác xã hội công ty đang làm rất tốt, hàng
ngày công ty đã tiếp đón hàng nghìn người tham gia tập thể dục rèn luyện sức khoẻ.
Những năm gần đây Công ty đã tổ chức thành công và phối hợp tổ chức thành công nhiều
hoạt động phục vụ cộng đồng như: Ngày văn hóa các dân tộc Tây Bắc tháng 4/2004, 50
năm ngày báo Thiếu niên Tiền Phong ra số đầu tiên, Lễ hội tuổi thơ Việt Nam, kỷ niệm 60
năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 9 năm 2004 Công ty đã lỗ lực
Bất cứ công ty nào cũng có những điểm yếu cần phải khắc phục và công ty Công
viên Thống Nhất cũng vậy. Những điểm yếu đó là:
- Công viên Thống Nhất được thành lập từ lâu nên hệ thống các cây cảnh ở đây
đang bị già cỗi.
- Cơ sở hạ tầng ở công viên cần được nâng cấp.
- Hệ thống vui chơi bị xuống cấp và lạc hậu so với thời đại hiện nay nên công ty cần
được đầu tư vào vui chơi để thu hút được khách tham gia.
2.1.5. Khách hàng mục tiêu
Với tốc độ đô thị hoá như hiện nay con người luôn phải làm việc và học tập không
ngừng mệt mỏi, chính vì vậy nhu cầu thư giãn, vui chơi giải trí là rất lớn. Mỗi người đều
có những sở thích và cách thư giãn riêng của mình, người thì thích yên tĩnh, người thích ồn
ào Như vậy công ty có rất nhiều cơ hội tìm kiếm được nhiều khách hàng.
+ Với công tác duy trì vườn hoa thảm cỏ.
Công ty luôn nhắm vào những cơ quan trường học, khu đô thị mới hay các khu biệt
thự cần trồng mới. Với những khách hàng này công ty luôn quan tâm đặc biệt vì họ luôn
tin tưởng vào công tác duy trì trồng mới của công ty. Những khách này luôn đòi hỏi chất
lượng cao của cây trồng và duy trì. Vì vậy khi có được những khách hàng này công ty
càng có thêm kinh nghiệm và nâng cao được tay nghề. Họ thường đòi hỏi về:
- Cây cảnh trồng mới phải đảm bảo là sống, tán đẹp.
- Cây hoa trồng mới phải đẹp, tươi tắn, mập, không sâu bệnh.
- Cỏ trồng đảm bảo sống, không có cỏ dại.
Đó là những yêu cầu khi khách hàng muốn trồng mới còn đối với khách hàng muốn
duy trì cây xanh họ đòi hỏi chất lượng duy trì là:
- Với cỏ: cắt phải thật phẳng, vỉa làm đúng kích thước, quét và nhổ cỏ dại sạch sẽ
(nếu có cỏ dại).
- Với cây cảnh: khi khách yêu cầu cây trồng có hình thù gì thì công ty phải làm
được đạt yêu cầu và cắt tỉa đúng quy trình.
- Khi duy trì hoa công ty phải cắt tỉa hoa đúng quy trình, không được để cây héo,
chết.
Công ty Công viên Thống Nhất được sự chỉ đạo của Ban giám đốc Sở GTCC, sự
chỉ đạo lãnh đạo của Công ty được củng cố và tăng cường. Công tác tổ chức đã được tiến
hành như một việc làm thường xuyên, liên tục không có sự xáo trộn trong các hoạt động
hàng ngày của Công ty.
Công ty có các lĩnh vực kinh doanh dịch vụ duy trì vườn hoa thảm cỏ và kinh doanh
vui chơi giả trí, những dịch vụ này luôn giúp con người có sự thoải mái về tinh thần. Trong
nền kinh tế thị trường trên thế giới cũng như ở nước ta không có vấn đề đơn thần kinh tế
hoặc đơn thuần xã hội. Kinh tế và xã hội được gắn chặt với nhau trở thành vấn đề kinh tế -
xã hội do đó hiệu quả kinh tế luôn gắn với hiệu quả xã hội, trở thành một nguyên tắc trong
hoạt động quản lý của doanh nghiệp. Kinh tế của doanh nghiệp luôn được đánh giá bằng
kết quả tiêu thụ hay số người sử dụng dịch vụ mà Công ty cung ứng. Sau đây là chi tiết kết
quả tiêu thụ của Công ty Công viên Thống Nhất về duy trì, kinh doanh vui chơi từ năm
2002 - 2004.
a. Với dịch vụ duy trì vườn hoa thảm cỏ.
Với dịch vụ, duy trì vười hoa thảm cỏ Công ty phục vụ chủ yếu cho khách hàng
truyền thống là Sở Giao thông Công chính Hà Nội. Những năm gần đây (2002 - 2004).
Công ty luôn đảm bảo chất lượng duy tu, duy trì cây hoa, thảm cỏ đẹp hơn năm trước.
Trong việc duy trì, duy tu cây hoa áp dụng nhiều chủng loại hoa mới từ đề tài thử nghiệm
các loại hoa mới, đảm bảo trong công tác nghiệm thu đạt từ 95% trở lên (loại A) . Bảng 2.1
thể hiện kết quả đạt được từ công tác duy tu duy trì.
Bảng 2.1. Kết quả thực hiện duy trì của Công ty Công viên Thống Nhất trong 3
năm (2002 - 2004)