LUẬN VĂN:
Xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn
tỉnh Kiên Giang MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc của nhiều quốc gia trên thế giới.
Đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển thì đói nghèo không những là vấn đề
xã hội mà còn là một trong những thách thức đối với sự phát triển. Chính vì vậy, những
năm gần đây, các quốc gia, các tổ chức quốc tế đã nỗ lực tìm các giải pháp để giảm đói
nghèo, thu hẹp dần khoảng cách giữa giàu và nghèo ở phạm vi quốc gia và quốc tế.
Là một nước đang phát triển lựa chọn xu hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam hết sức coi
trọng vấn đề xoá đói, giảm nghèo và đầu tư nhiều công sức, tiền của cho chương trình xoá đói,
giảm nghèo cả trên bình diện quốc gia lẫn trên bình diện địa phương. Tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII Đảng (năm 1996), Đảng ta đã khẳng định: “Thực hiện tốt chương trình xoá đói,
giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số” [20, tr.115].
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX (tháng 4 năm 2001) tiếp tục khẳng định: “Phấn
đấu đến năm 2010, về cơ bản không còn hộ nghèo. Thường xuyên củng cố thành quả xoá
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xoá đói, giảm nghèo cả ở trong nước
lẫn ngoài nước, cả về giác độ xã hội lẫn giác độ kinh tế…. Đáng chú ý là một số công trình
sau:
- UNDP (1996), Tiến kịp.
- Báo cáo Phát triển của Việt Nam (2000), Tấn công nghèo đói, Báo cáo chung của
nhóm Công tác chuyên gia Chính phủ - Nhà tài trợ - Tổ chức phi Chính phủ, Hội nghị
nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, 14 - 15/12/1999.
- Nguyễn Văn Thường (2004), Một số vấn đề kinh tế xã hội Việt Nam thời kỳ đổi
mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Hằng (1997), Vấn đề xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện
nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Dương Phú Hiệp, Vũ Văn Hoà (1999), Phân hoá giàu - nghèo ở một số quốc gia khu
vực Châu Á - Thái Bình Dương, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Ngô Quang Minh (1999), Tác động kinh tế của nhà nước góp phần xoá đói, giảm
nghèo trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam(2001), Xoá đói, giảm nghèo vùng
dân tộc thiểu số; phương pháp tiếp cận. - Trần Thị Hằng (2001), Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
hiện nay, Nxb Thống kê, Hà Nội.
- Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang (2001), Nghèo đói và xoá đói, giảm nghèo ở Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Ngân hàng Thế Giới (2004), Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam.
- Trần Đình Đàn (2002), Những giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm xoá đói,
giảm nghèo ở Hà Tĩnh, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội.
- Trần Thị Hằng (2000), Vấn đề giảm nghèo trong nền Kinh tế thị trường ở Việt
Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Hoàng Thị Hiền (2005), Xoá đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc ít người
- Ðánh giá thực trạng đói nghèo và hoạt động xoá đói, giảm nghèo của Kiên Giang
trong 5 năm gần đây.
- Xác định những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn
tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về đói nghèo và xoá đói, giảm nghèo.
- Phân tích kinh nghiệm xoá đói, giảm nghèo của một số địa phương và rút ra bài
học cho Kiên Giang.
- Phân tích thực trạng đói nghèo và xoá đói, giảm nghèo ở tỉnh Kiên Giang hiện nay, rút
ra các nhận xét về kết quả và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu tiếp tục thực hiện xoá đói, giảm nghèo
ở tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu là tình hình đói nghèo và hoạt động xoá đói, giảm nghèo
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
- Phạm vi nghiên cứu: Đói nghèo là hiện tượng vừa mang tính xã hội, tính kinh tế,
tính văn hoá… Trong khuôn khổ luận văn này, vấn đề đói nghèo và xoá đói, giảm nghèo
chủ yếu được nghiên cứu dưới giác độ kinh tế. Không gian nghiên cứu là tỉnh Kiên Giang.
Thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ 2002 - đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác - Lênin, quán triệt các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xoá đói, giảm nghèo, tiếp thu có chọn lọc các quan điểm của Ngân hàng Thế giới và kinh nghiệm của địa
phương khác để xem xét các vấn đề đói nghèo của Kiên Giang.
Trong các vấn đề cụ thể, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của
kinh tế học như dựa vào số liệu thống kê; phân tích tài liệu đã công bố; phương pháp kinh
nghiệm; phương pháp điều tra xã hội học…
6. Những điểm mới của luận văn
cứu và nhiều quốc gia đã sử dụng khái niệm người nghèo của Tổ chức Liên Hợp quốc.
Theo quan điểm của Tổ chức Liên Hợp quốc (UN): Người nghèo là những người có thu
nhập dưới đường ranh giới nghèo, được xác định bằng số tiền cho nhu cầu thiết yếu về ăn,
mặc, ở,…mà trước mắt là lương thực, thực phẩm để duy trì sự sống với mức tiêu dùng nhiệt
lượng 2.100 - 2.300 Calo/người/ngày.
Khái niệm về đói nghèo được nêu ra tại Hội nghị bàn về xoá đói, giảm nghèo ở khu
vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993 cũng đáng
được chú ý. Hội nghị này cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có
khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc
vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong
tục ấy được xã hội thừa nhận"[3, tr.11].
Có thể xem đây là khái niệm chung nhất về đói nghèo, một khái niệm có tính chất
hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ quát về đói nghèo. Các
tiêu chí và chuẩn mực đánh giá còn tính đến sự khác biệt giữa các vùng, các điều kiện lịch
sử cụ thể qui định trình độ phát triển ở mỗi quốc gia. Quan niệm hạt nhân có trong khái
niệm này là nhu cầu cơ bản của con người. Căn cứ xác định đói hay nghèo là ở chỗ đối với
những nhu cầu cơ bản mà con người không được hưởng và thoả mãn. Nhu cầu cơ bản nói ở đây chính là cái thiết yếu, tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người như: ăn, ở, mặc,
Theo đó, sự nghèo khổ tuyệt đối, sự bần cùng được biểu hiện là đói, là tình trạng con
người không có ăn, ăn không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết, sự đứt đoạn trong
nhu cầu ăn. Nói cách khác, đói là tình trạng con người ăn không đủ no, không đủ năng
lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động, để tái
sản xuất sức lao động.
Nghèo là chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dành để chi tiêu cho
nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích lũy hầu như không có. Các nhu cầu
tối thiểu khác như: ở, mặc, văn hóa, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ được đáp ứng một
phần rất ít, không đáng kể.
Cần phân biệt hai dạng nghèo: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối
yếu tố khác như: sở thích, phong tục tập quán, điều kiện khí hậu, quan hệ thị trường.
Tương tự như vậy, vấn đề mặc, nhà ở, phương tiện đi lại cũng không thể thay thế chỉ tiêu
thu nhập, ngược lại chỉ có tác dụng bổ sung cho chỉ tiêu thu nhập.
Qua nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu và đi đến thống nhất ở các Bộ, ngành, Bộ Lao
động, Thương binh và Xã hội đã đưa ra khái niệm đói nghèo ở Việt Nam như sau:
Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức sống tối
thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một phần
các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của
cộng đồng xét trên mọi phương diện
Hộ đói là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm đau không có
tiền chữa trị, nhà cửa rách nát.
Hộ nghèo là hộ thiếu ăn nhưng không đứt bữa, mặc không lành và không đủ ấm,
không có khả năng phát triển sản xuất.
Xã nghèo là xã có trên 40% tổng số hộ nghèo đói, không có hoặc rất thiếu những cơ
sở hạ tầng thiết yếu, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao.
Vùng nghèo là chỉ những địa bàn tương đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn,
hiểm trở, giao thông không thuận lợi, có tỷ trọng xã nghèo, hộ nghèo cao.
1.1.2.Tiêu chí xác định chuẩn nghèo đói
* Tiêu chí xác định chuẩn nghèo đói của các tổ chức thế giới:
Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra các tiêu chí đánh giá mức độ giàu nghèo của các
quốc gia căn cứ vào bình quân thu nhập đầu người theo hai cách tính:
- Phương pháp ATLAS tức là tỷ giá hối đoái và tính theo USD. - Phương pháp PPP (Purchasing Power Parity) là phương pháp sức mua tương
đương tính theo USD.
Theo phương pháp ATLAS, ở cấp quốc gia, căn cứ mức thu nhập bình quân đầu
người năm 1990, WB phân loại giàu nghèo trên thế giới thành 6 mức như sau:
+ Nước cực giàu: trên 25.000 USD
Thứ nhất, số tiền cần thiết để mua một số lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu
dinh dưỡng với lượng 2100 Calo/người/ngày, gọi là chuẩn nghèo về lương thực thực
phẩm.
Thứ hai, số tiền cần thiết bao gồm cả chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và chi tiêu
cho nhu cầu phi lương thực thiết yếu khác, gọi là chuẩn nghèo chung. Theo quan niệm của
WB, ngoài chỉ tiêu tối thiểu về lương thực, thực phẩm để đảm bảo đủ lượng 2.100
Calo/người/ngày (tương đương 70% chi tiêu) còn có những khoản chi tiêu tối thiểu phi
lương thực, thực phẩm (tương đương 30% chi tiêu). Dựa vào số liệu điều tra mức sống dân
cư tại nước ta năm 1993, năm 1998, và căn cứ vào sức mua của đồng tiền Việt Nam, WB
đưa ra chuẩn nghèo đối với từng loại ở Việt Nam như sau:
Năm 1993 Năm 1998
- Chuẩn nghèo LTTP: 62.500 đ/người/tháng 107.000đ/người/tháng
- Chuẩn nghèo chung: 96.600 đ/người/tháng 149.000 đ/người/tháng
* Tiêu chí xác định chuẩn nghèo đói của Việt Nam
Ở Việt Nam, ngoài gợi ý về cách xác định chuẩn đói nghèo theo mức hưởng thụ calo
do bữa ăn mang lại hàng ngày qui đổi ra thu nhập của WB đã nêu trên, các nhà nghiên cứu
và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đã nêu ra các mức xác định chuẩn mực đói
nghèo khác nhau, điển hình là cách xác định của Tổng cục Thống kê (TCTK) và của Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội (BLĐ-TB&XH).
Theo quan niệm của TCTK, tiêu chuẩn nghèo được xác định thông qua tiêu thụ
lương thực, thực phẩm, chưa tính đến việc tiêu thụ hàng hóa phi lương thực, thực phẩm.
Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới chuẩn này thuộc vào diện hộ nghèo.
Tiêu chuẩn nghèo được tính riêng cho 2 khu vực: thành thị và nông thôn. Trên cơ sở định
mức chuẩn dinh dưỡng 2100 Calo/người/ngày, TCTK đã xác định chuẩn nghèo của Việt
Nam qua các năm như sau:
Đối với thành thị Đối với nông thôn
Năm 1993: 70.000 đ/người/tháng 51.000 đ/người/tháng
Năm 1994: 102.000đ/người/tháng 76.000 đ/người/tháng
tương đương với 40.000 đồng Việt Nam (đối với tất cả các vùng). Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng được phân biệt theo
vùng như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg gạo;
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg gạo;
+ Vùng thành thị: dưới 25 kg gạo.
- Từ năm 2001, theo quyết định số 1143/2000/QĐ - LĐ-TB&XH ngày 01/11/2000
của Bộ LĐ-TB &XH, hộ đói nghèo ở nước ta giai đoạn 2001 - 2005 được điều chỉnh theo
mức chuẩn mới với mức thu nhập bình quân 1 đầu người trong hộ cho từng vùng như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo : 80.000 đ/tháng;
+ Vùng nông thôn đồng bằng : 100.000 đ/tháng;
+ Vùng thành thị : 150.000 đ/tháng.
* Quyết định số 170/2005/QĐ - TTg, ngày 08/07/2005 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 như sau:
+ Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo;
+ Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng
/người/tháng (3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Nhìn chung, chuẩn nghèo của nước ta giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước. Ví dụ,
so với chuẩn nghèo giai đoạn 1996-2000, chuẩn nghèo giai đoạn 2001- 2005 tăng khoảng
1,5 lần. Sở dĩ có lựa chọn phương án tăng lên 1,5 lần là vì trong 5 năm (1996 - 2000) mức
sống dân cư Việt Nam tăng lên khoảng 1,47 lần. Theo chuẩn trên, đầu năm 2001, Việt
Nam có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 17,2%. Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2002 -
2010, hiện nay nước ta có khoảng 3,7 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 19,5%.
* Tiêu chí về hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn: theo qui định của Ủy ban dân
tộc, hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn được áp dụng đối với các gia đình dân tộc thiểu
số cư trú ở các xã khu vực III thuộc chương trình phát triển KT- XH, các xã đặc biệt khó
khăn, miền núi và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là chương trình 135), tiêu chí cụ thể như sau:
- Theo Quyết định số 587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày 22/05/2002 của Bộ LĐ-TB&XH về
việc ban hành tiêu chí xã nghèo giai đoạn 2001-2005, thời kỳ 2001-2005, xã nghèo là xã đáp
ứng 2 tiêu chí sau: tỷ lệ hộ đói nghèo của xã chiếm từ 25% trở lên; chưa đủ 3 trên tổng số 6
công trình hạ tầng cơ sở thiết yếu (điện, đường giao thông, nước sạch, phòng học, trạm xá và
chợ) biểu hiện cụ thể như sau:
+ Dưới 50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt; + Dưới 30% số hộ sử dụng nước sạch;
+ Chưa có đường ô tô tới trung tâm xã hoặc có nhưng không đi lại được cả năm;
+ Chưa có đủ phòng học theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
+ Chưa có trạm xá hoặc có nhưng còn tạm bợ;
+ Chưa có chợ hoặc mới có chợ tạm.
1.1.3. Tác động của đói nghèo đến sự phát triển kinh tế - xã hội
- Tác động của đói nghèo đến sự phát triển kinh tế: Đói nghèo không những ngăn
cản hộ nghèo có thể phát huy hết nguồn lực của chính họ và xã hội để có cuộc sống đầy đủ
hơn, mà còn hạn chế sự phát triển kinh tế chung của đất nước.
Hộ đói nghèo không có khả năng cho con em học vấn và tay nghề tốt, do đó, trong
ngắn hạn dẫn đến hiện tượng trẻ em thất học, bỏ học, về lâu dài dẫn đến giảm năng lực sản
xuất của gia đình và mất cơ hội tăng thu nhập. Đói nghèo còn khiến hộ gia đình không có
khả năng nuôi dưỡng con cái khoẻ mạnh, không có khả năng để hưởng thụ văn hoá, không
có kinh phí chữa bệnh khi ốm đau…, do đó càng làm cho mức sống về lâu dài giảm sút
hơn.
Đặc biệt, hộ nghèo hầu như không có khả năng tích luỹ cho đầu tư mở rộng sản
xuất, không có tài sản thế chấp khi đi vay, khó tiếp cận thị trường tín dụng chính thức vì
mức độ rủi ro khi cho họ vay cao, chi phí cho vay lớn, nên các tổ chức tín dụng ngại cho
người nghèo vay. Vì không có vốn, trình độ học thức và tay nghề thấp, nên các hộ gia đình
đói, nghèo không có khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất của gia đình.
Hậu quả của tất cả các tác động kể trên là người nghèo rơi vào vòng xoáy không có
lối thoát: không có điều kiện để nâng cao mức sản xuất nên không có thu nhập; không có
1.2.1. Quan điểm xóa đói giảm nghèo của Việt Nam
1.2.1.1. Xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ to lớn của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội
Vì nghèo đói là vấn đề không chỉ mang tính kinh tế, mà còn mang tính xã hội và
chính trị sâu sắc, nên nhiệm vụ xoá đói, giảm nghèo (XĐGN) đã được Đảng và Nhà nước
ta rất quan tâm. Đảng ta cho rằng, muốn XĐGN phải đảm bảo ổn định về chính trị - xã hội.
Sự bất ổn về mặt chính trị, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố, tranh giành quyền lực
trong các giới lãnh đạo xẩy ra thường xuyên sẽ không thể tạo ra được môi trường thuận lợi
cho phát triển kinh tế và do đó sẽ không có môi trường và phương tiện để XĐGN.
Xóa đói, giảm nghèo phải được thực hiện đồng thời với các chương trình phát triển
kinh tế - xã hội khác và phải thu hút sự nỗ lực từ nhiều phía: Nhà nước, cộng đồng và bản thân người nghèo, phải phát huy nguồn lực bên trong, đồng thời khai thác nguồn lực bên
ngoài.
Ở nước ta XĐGN được coi là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, là yếu tố
quan trọng bảo đảm sự ổn định, phát triển kinh tế-xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngay từ khi mới thành lập (1945) Nhà nước ta đã rất quan tâm đến XĐGN. Lúc bấy
giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước non trẻ Việt Nam đã coi đói nghèo là một loại
"giặc"cần phải chống như giặc ngoại xâm. Hồ Chí Minh đã nói: "Nếu nước độc lập mà dân
không hưởng hạnh phúc tự do; thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì" [39, tr.56] và "Tôi chỉ
có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân
ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" [39,
tr.161].
Từ khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954) và thống nhất đất nước (1975), Đảng và
Nhà nước đã có nhiều quyết sách để xóa dần đói nghèo như: thực hiện cải cách ruộng đất,
xây dựng các công trình thủy lợi, miễn giảm thuế…để giúp các tầng lớp dân nghèo.
Đảng ta coi XĐGN là điều kiện để giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công,
thực hiện công bằng xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội có ghi:
Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn
phúc, ai cũng có việc làm, có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành và chữa
bệnh, từng bước thực hiện điều Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước [23,
tr.31].
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên
cơ sở nắm bắt những ưu điểm và hạn chế của cơ chế thị trường, Đảng ta đã đưa ra những
quan điểm chỉ đạo:
Để phát triển sức sản xuất, cần phát huy khả năng của mọi thành phần kinh
tế, thừa nhận trên thực tế còn có sự bóc lột và sự phân hóa giàu nghèo nhất định
trong xã hội, nhưng phải luôn quan tâm bảo vệ lợi ích của người lao động, vừa
khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp, vừa coi trọng xóa
đói giảm nghèo, từng bước thực hiện công bằng xã hội, tiến tới làm cho mọi
người, mọi nhà đều khá giả [23, tr.73].
Năm 1992, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đã đi đầu trong việc đề ra chính
sách XĐGN. Sáng kiến của Thành phố Hồ Chí Minh nhanh chóng được các địa phương
khác trong cả nước nhiệt liệt hưởng ứng, phát huy sáng kiến của chính quyền địa phương các cấp và căn cứ vào kết quả điều tra mức sống dân cư lần thứ nhất, từ năm 1993, chính
phủ lần lượt ban hành các chính sách có liên quan đến XĐGN thực hiện trên phạm vi cả
nước và đặt trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với Chiến lược ổn định và phát triển kinh
tế-xã hội 10 năm 1991-2000.
Năm 1995, Báo cáo quốc gia của Chính phủ Việt Nam tại hội nghị thượng đỉnh
Compenhagen về phát triển xã hội đã khẳng định XĐGN là một chính sách quốc gia quan
trọng.
Đến Đại hội VIII của Đảng, XĐGN chính thức được xác định là một trong những
chương trình quốc gia. Trên cơ sở đó Nhà nước cũng đã có một loạt các chương trình cấp
quốc gia và dự án đang được thực thi đều có nội dung gắn với xóa đói giảm nghèo. Đại hội
VIII của Đảng nhấn mạnh: "Thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo nhất là vùng
căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng và phát triển quỹ xóa đói
tác động sâu sắc vào các quan hệ xã hội, làm phát sinh và lây lan các tệ nạn, làm mất ổn
định xã hội và có thể làm mất ổn định về chính trị. Đặc biệt nếu phân hoá giàu nghèo vượt
quá giới hạn an toàn sẽ biến thành phân hoá giai cấp và xung đột giai cấp, làm suy giảm sự
bền vững của chế độ chính trị xã hội, làm chệch hướng XHCN.
Vì vậy, để xoá đói, giảm nghèo không phải chỉ cần các chính sách, biện pháp phát
triển kinh tế mà còn phải thực thi một hệ thống chính sách xã hội, đặt trong tổng thể của sự
ổn định chính trị, trong đó ổn định chính trị vừa là yêu cầu hàng đầu, là nền tảng cơ bản,
vừa là mục tiêu, đồng thời cũng vừa là điều kiện để phát triển kinh tế, thực hiện XĐGN.
Trên cơ sở nhận thức như vậy, chúng ta phải đặc biệt chú trọng bảo vệ lợi ích, quan tâm tới
đời sống của các tầng lớp cơ bản trong xã hội như công nhân, nông dân, trí thức, các lực
lượng bảo vệ an ninh cho chế độ. Đây chính là cơ sở xã hội, của chính trị, không được để
xảy ra hiện tượng người lao động bị bần cùng hoá, không được để tái sinh tràn lan hiện
tượng người lao động bị bóc lột, ngược đãi, nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế thị
trường.
XĐGN là điều kiện cần thiết, đảm bảo cho ổn định chính trị, nhưng thành công của
XĐGN sẽ là nhân tố quan trọng để củng cố, bảo vệ chế độ chính trị và giữ vững ổn định
chính trị, bảo vệ quyền làm chủ chế độ, làm chủ xã hội của nhân dân lao động.
1.2.1.3. Xóa đói, giảm nghèo bằng phát huy tính tự lực, tự chủ, tự vươn lên của chính
người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo, bằng huy động và khai thác có hiệu quả các
nguồn lực Mặc dù XĐGN là nhiệm vụ to lớn của toàn Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, nhưng
để vượt qua nghèo đói, cần sự nỗ lực, sự vươn lên vượt qua nghèo đói của chính người
nghèo, hộ nghèo. Nếu mỗi người nghèo, hộ gia đình nghèo, vùng quê nghèo không tự
vươn lên, thì không thể xoá được đói, giảm được nghèo. Đây là mối quan hệ qua lại giữa
các hộ gia đình (đơn vị kinh tế cơ bản) với cộng đồng xã hội. Cộng đồng xã hội chỉ có thể
tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ cho các cá nhân người lao động, các gia đình tiếp cận các
nguồn lực, vượt lên nghèo đói, mà không thể làm thay họ được.
Phải làm cho hộ nghèo, người nghèo tin vào triển vọng cuộc sống, có điều kiện và
trên 30% GDP.
Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp là 16-17% vào năm 2010; công nghiệp 40-
41% vào năm 2010; dịch vụ 42-43% vào năm 2010.
Tỷ trọng lao động công nghiệp trong tổng số lao động tăng lên 23-24% vào năm 2010.
Giảm lao động nông, lâm, ngư nghiệp xuống 50% vào năm 2010. Tăng tỷ trọng lao động
dịch vụ lên 26-27% vào năm 2010.
* Các chỉ tiêu về xã hội và xóa đói giảm nghèo
Giảm tỷ lệ hộ nghèo
- Đến năm 2010 giảm 2/5 tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế và giảm 3/4 tỷ lệ
nghèo về lương thực thực phẩm so với năm 2000.
Đảm bảo công trình hạ tầng thiết yếu cho người nghèo, cộng đồng nghèo và xã
nghèo.
- Tiếp tục cải tạo, nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các công trình hạ tầng thiết
yếu (thuỷ lợi nhỏ, trường học, trạm y tế xã, đường giao thông, điện chiếu sáng, nước sinh
hoạt, chợ, các điểm bưu điện văn hoá xã, nhà hội họp ) bảo đảm đến 2010 100% xã nghèo
có các cơ sở hạ tầng thiết yếu.
Đến 2010, 85% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh với số lượng 60
lít/người/ngày, 75% gia đình có hố xí hợp vệ sinh. Chú trọng đến các công trình nước sạch
cho các gia đình nghèo, đặc biệt là những người ở xa trung tâm xã, xa trục đường chính
được tiếp cận nước sạch.
Phổ cập và cải thiện chất lượng giáo dục
Củng cố, duy trì và phát huy thành quả phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ,
đặc biệt ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa. Thực hiện phổ cập trung học cơ sở trong
cả nước. Tăng tỷ lệ trẻ em dưới 3 tuổi đến nhà trẻ từ 12% năm 2000 lên 18% năm 2010.
Đối với trẻ em từ 3-5 tuổi tăng tỷ lệ đến trường, lớp mẫu giáo từ 50% năm 2000 lên 67%
năm 2010. Tăng tỷ lệ học sinh đi học trong độ tuổi lên lên 99% vào năm 2010. Tăng tỷ lệ học
sinh học xong tiểu học lên 85-95% vào năm 2010.
nhiên; đến năm 2010 không còn các khu nhà ổ chuột ở đô thị và nhà tạm ở nông thôn, đặc
biệt là đồng bằng sông Cửu Long.
Đến năm 2010, phấn đấu 100% các khu công nghiệp, các đô thị và các làng nghề ở
nông thôn được xử lý nước thải, thu gom chất thải rắn và chất thải vệ sinh, có kế hoạch cải
tạo khắc phục sự cố môi trường trên các dòng sông, hồ, ao, kênh mương
Nâng cao chất lượng công tác bảo vệ rừng, trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi
trọc; nâng tỷ lệ che phủ của rừng từ 33% hiện nay lên 38% vào năm 2005 và 43% vào năm
2010.
Cải thiện đáng kể tình trạng thu nhập của người nghèo, nhất là các hộ nghèo do phụ
nữ làm chủ; nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và dịch vụ
sản xuất cũng như các nguồn lực khác của người nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo.
Tăng cường bảo vệ trẻ em và vị thành niên, giải quyết triệt để tình trạng trẻ em lao
động sớm, trẻ em lang thang, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác, nhất là trẻ em của những
gia đình nghèo do phụ nữ làm chủ hộ. Bảo vệ những người có hoàn cảnh đặc biệt (người
tàn tật, người bị nhiễm chất độc màu da cam, người già cô đơn, đối tượng chính sách và
các đối tượng khác). Chăm lo và điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, nghiện ma
tuý
Xây dựng chiến lược phòng chống và giảm nhẹ thiên tai. Đến 2010 giảm 1/2 số
người bị tái nghèo do thiên tai và các rủi ro khác.
* Đẩy mạnh cải cách hành chính, cung cấp kiến thức về pháp lý cho người nghèo
Tăng cường hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước, thực hiện chương trình tổng
thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010.
Tiếp tục hoàn thiện các thể chế chính sách có ảnh hưởng đến người nghèo, định
hướng mục tiêu và phân bổ nguồn lực tốt hơn cho các chương trình có lợi cho người
nghèo.
Cải thiện khả năng tiếp cận của người nghèo đến với một Chính phủ minh bạch, có
tinh thần trách nhiệm, có sự tham gia của người dân, tạo điều kiện cho người dân, phụ nữ
nghèo tiếp cận rộng rãi hơn đến hệ thống tư pháp và bảo đảm cung cấp thông tin pháp lý
cho tất cả mọi công dân trong xã hội, đặc biệt là phụ nữ nghèo.
Hoạt động của Ban chủ nhiệm chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo
theo qui chế ban hành kèm theo Quyết định số 224/TTg ngày 19/12/1999 của Thủ tướng