Luận văn: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu bộ linh kiện xe máy tại Công ty quan hệ quốc tế và đầu tư sản xuất - CIRI pot - Pdf 15



Luận văn

Thực trạng và giải pháp
hoàn thiện công tác tổ chức
thực hiện hợp đồng nhập
khẩu bộ linh kiện xe máy tại
Công ty quan hệ quốc tế và
đầu tư sản xuất - CIRI

Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
1
Lời nói đầu.
Ngày nay, quốc tế hoá, toàn cầu hoá đang là xu thế chung của nhân loại,
không một quốc gia nào có thể thực hiện một chính sách đóng cửa mà có thể
đem lại sự phát triển cho đất nước mình. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế
đó. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay, trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế

còn cả những thiệt hại phi tài sản khác nữa như sự mất uy tín trong quan hệ làm
ăn của các doanh nghiệp Việt Nam do rất nhiều các nguyên nhân khách quan
và chủ quan, nhưng trong đó vấn đề chủ yếu là thiếu kiến thức, kinh nghiệm và
chưa chú trọng đúng mức đến quá trình thực hiện hợp đồng. Ngày nay thông tin
liên lạc, khoa học kỹ thuật đã phát triển một cách vượt bậc. Nó đã tạo ra nhiều cơ
hội thuận lợi cho quy trình thực hiện hợp đồng ngoại thương diễn ra nhanh
chóng và kịp thời hơn. Để hoàn thiện hơn nữa về thực hiện hợp đồng ngoại
thương trong từng doanh nghiệp là một đòi hỏi mang tính cấp bách, cần thiết đối
với doanh nghiệp ngoại thương Việt Nam hiện nay.
Công ty quan hệ quốc tế và đầu tư sản xuất - CIRI là một công ty có hoạt
động xuất nhập khẩu với nhiều nước trên thế giới nhưng hoạt động nhập khẩu là
chiếm tỷ trọng lớn trong toàn công ty. Chính vì vậy trong đợt thực tập tốt nghiệp
này cùng với những kiến thức được trang bị tại trường đại học và sự giúp đỡ của
thầy giáo BÙI ĐỨC DŨNG, các cán bộ nhân viên trong công ty nên em xin chọn
đề tài: “Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu bộ linh
kiện xe máy tại Công ty quan hệ quốc tế và đầu tư sản xuất - CIRI”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là: Nhằm hoàn thiện hơn công tác tổ
chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu bộ linh kiện xe máy mà công ty đang áp
dụng. Từ đó đưa ra một số giải pháp để công ty có thể áp dụng. Đồng thời rút ra
kinh nghiệm cho bản thân trong việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu trên thực tế.
Giới hạn nội dung và phạm vi nghiên cứu: Dựa trên những cơ sở lý luận
và thực tiễn liên quan đến công tác tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu xe
máy cùng với những kiến thức đã học.
Phương pháp nghiên cứu: Kết hợp những kiến thức đã học ở trường và sự
hướng dẫn tận tình của thầy cô giáo cùng với những kinh nghiệm thực tế khi
tham gia thực tập tại công ty (CIRI). Đồng thời sử dụng nguồn số liệu của công
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
3
ty để phân tích, đánh giá và đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ

Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
4
Chương I
Lý luận về hoạt động nhập khẩu và việc thực hiện hợp đồng nhập
khẩu.
I. Nhập khẩu và vai trò của hoạt động nhập khẩu .
1. Khái niệm về nhập khẩu.
Nhập khẩu là hình thức kinh doanh quốc tế giữa các thương nhân có trụ sở
kinh doanh tại các quốc gia khác nhau. Trong đó người mua (Người nhập khẩu)
yêu cầu người bán (Người xuất khẩu) cung ứng cho mình một lượng hàng hoá
nhất định như đã thoả thuận và hợp pháp. Người nhập khẩu sẽ phải trả cho người
xuất khẩu một lượng giá trị tương ứng với lượng hàng hoá đó.
2. Các hình thức nhập khẩu.
Hoạt động nhập khẩu trong thực tế rất đa dạng. Đó là do tác động của điều
kiện kinh doanh cùng với sự năng động sáng tạo của các doanh nhân mà xuất
hiện nhiều hình thức nhập khẩu khác nhau được pháp luật cho phép. Dưới đây là
các hình thức nhập khẩu phổ biến đang được áp dụng cho các doanh nghiệp
nước ta hiện nay:
- Nhập khẩu trực tiếp: là hoạt động mua bán trực tiếp giữa người mua và
người bán không qua trung gian.
- Nhập khẩu gián tiếp: là nhập khẩu qua trung gian thương mại, điển hình
của nhập khẩu gián tiếp là nhập khẩu uỷ thác.
Nhập khẩu uỷ thác là hình thức hoạt động giữa một doanh nghiệp có nhu cầu
nhập một số mặt hàng uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch
ngoại thương, tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác sẽ
tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng với nước ngoài và làm thủ tục nhập khẩu

con đường nhập khẩu sẽ thoả mãn mọi nhu cầu đó của con người. Nhập khẩu
làm đa dạng hoá về mặt hàng, về chủng loại.
 Nhập khẩu góp phần đáng kể vào việc xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ
nền kinh tế đóng, tự cung tự cấp. Ngoài ra, nó còn đưa tới việc xoá bỏ nhanh
chóng các chủ thể kinh doanh các sản phẩm lạc hậu không thể chấp nhận
được, góp phần hoàn thiện các cơ chế quản lý xuất nhập khẩu của nhà nước.
 Nhập khẩu là để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ tiên tiến, hiện
đại cho sản xuất và các loại hàng hoá cho tiêu dùng mà trong nước không sản
xuất hoặc trong nước có sản xuất nhưng không đáp ứng nhu cầu. Nhập khẩu
còn để thay thế sản xuất nghĩa là nhập khẩu những thứ mà sản xuất trong
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
6
nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu. Như vậy sẽ làm tác động tích cực đến
sự phát triển cân đối và khai thác tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế quốc
dân về sức lao động, vốn cơ sở vật chất, tài nguyên và khoa học kỹ thuật.
 Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu. Bởi vì, nhập khẩu tạo đầu
vào cho sản xuất hàng xuất khẩu
b) Đối với các doanh nghiệp:
 Nhập khẩu giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được cả vốn và chi phí cho quá
trình nghên cứu cũng như thời gian và số lượng đội ngũ khoa học nghên cứu
mà vẫn thu được kết quả tương đối về phát triển khoa học kỹ thuật.
 Nhập khẩu giúp các doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt, đón đầu những
thành tựu mới của khoa học kỹ thuật, những công nghệ tiên tiến. Mà nếu
không thực hiện nhập khẩu thì các doanh nghiệp sẽ ngày càng trở nên lạc hậu
so với khu vực và thế giới.
 Hàng hoá nhập khẩu không những mở rộng quá trình sản xuất của doanh
nghiệp mà còn góp phần không nhỏ vào việc nâng cao đời sống tinh thần,
nâng cao tầng hiểu biết về sự phát triển trên toàn cầu cũng như góp phần cải
thiện điều kiện làm việc cho người lao động thông qua việc nhập khẩu máy

chủ hàng hoá). Đây là sự khác biệt so với hợp đồng thuê mướn vì hợp đồng
thuê mướn không tạo ra sự chuyển chủ và so với hợp đồng tặng biếu không
có sự cân xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi.
Hợp đồng nhập khẩu khác với hợp đồng mua bán trong nước ở những
điểm sau đây:
 Hàng hoá (đối tượng) của hợp đồng thường di chuyển ra khỏi biên giới quốc
gia.
Đặc điểm này có thể có cũng có thể không. Ví dụ, hợp đồng mua bán ký kết giữa
một xí nghiệp trong khu chế xuất với một xí nghiệp ngoài khu chế xuất được
pháp luật coi là hợp đồng mua bán quốc tế , nhưng hàng hoá thuộc hợp đồng này
không di chuyển khỏi biên giới quốc gia.
 Đồng tiền thanh toán ít nhất là ngoại tệ của một nước
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
8
Đặc điểm này cũng không phải là điểm tất yếu. Ví dụ: Các khối trong nước cộng
đồng chung Châu Âu khi buôn bán với nhau thì họ sử dụng đồng tiền thanh toán
là đồng EURO hay hai nước buôn bán với nhau bằng hình thức hàng đổi hàng.
 Các bên ký kết có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau.
Đây chính là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt yếu tố quốc tế hay nội địa
trong một hợp đồng.
2. Điều kiện hiệu lực của hợp đồng xuất nhập khẩu:
Theo điều 81- Luật thương mại Việt Nam, hợp đồng xuất nhập khẩu có hiệu
lực khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể của hợp đồng gồm: Bên mua và bên bán phải có tư cách pháp lý
 Chủ thể bên nước ngoài là thương nhân và tư cách pháp lý của họ được xác
nhận căn cứ theo pháp luật của họ.
 Về phía Việt Nam: Chủ thể phải là thương nhân được phép hoạt động thương
mại trực tiếp với nước ngoài. Theo nghị định 57 thì thương nhân phải có giấy
đăng ký kinh doanh và mã doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu.

phần: Những điều trình bầy và các điều khoản.
 Những điều khoản trình bày thường ghi:
 Số hợp đồng (contract no).
 Địa điểm và ngày tháng ký hợp đồng .
 Tên và địa chỉ của các đương sự.
 Những định nghĩa dùng trong hợp đồng.
Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng (đây có thể là hiệp định chính phủ, nghị
định thư, chí ít người ta cũng đưa ra sự tự nguyện của hai bên khi tham gia ký
kết hợp đồng).
 Các điều khoản (term) của hợp đồng bao gồm:
 Điều khoản về tên hàng.
Đâylà điều khoản quan trọng của mọi đơn chào hàng, của thư hỏi hàng, của
các hợp đồng hoặc nghị định thư. Nó nói lên chính xác đối tượng mua bán, trao
đổi do đó người ta luôn tìm cách diễn đạt chính xác tên hàng. Nếu không đúng
thì mua được cái không cần mua, không bán được cái cần bán. Để làm được điều
đó người ta thường dùng các biện pháp:
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
10
- Ghi tên chính thức của hàng hoá kèm theo tên khoa học, thương mại (áp
dụng cho các loại hoá chất, giống cây). Ví dụ: Hàn the là Na
3
B
4
O
7
nH
2
O.
- Ghi tên hàng kèm theo hãng sản xuất ra hàng đó. VD: xe máy HONDA, tủ

khá phức tạp tuỳ thuộc vào từng loại sản phẩm.
Phương pháp quy định số lượng: trong thực tiễn Thương mại quốc tế
người ta có thể quy định số lượng hàng hoá bằng hai cách:
- Bên bán và bên mua quy định cụ thể số lượng hàng hoá giao dịch. Thường
được áp dụng đối với hàng hoá có giá trị lớn với đơn vị đo là chiếc, cái ví dụ: 10
chiếc xe ô tô ở đây không được dùng “khoảng”.
- Bên bán và bên mua quy định số lượng phỏng chừng. Trong hợp đồng
mua bán người ta thường dùng các thuật ngữ như: Khoảng, xấp xỉ, hơn kém,
cộng trừ Phương pháp này thường áp dụng đối với hàng hoá có khối lượng lớn.
Ví dụ: Gạo quy định 5000 tấn gạo

5% (5% là sai số).
Sai số này có thể do người bán quyết định hoặc do người mua hay người vận tải
quyết định. Nếu trong hợp đồng không thoả thuận thì do người bán hoặc do
người vận tải quyết định.
Phương pháp xác định trọng lượng: Trong thương mại quốc tế, có rất
nhiều loại hàng hoá được tính số lượng theo trọng lượng. Căn cứ vào tập quán
buôn bán thông thường để xác định trọng lượng hàng hoá mua bán người ta
dùng những phương pháp sau:
- Trọng lượng cả bì (Gross weight - GW): Bao gồm trọng lượng thực tế của
hàng hoá cộng với trọng lượng của bao bì.
- Trọng lượng tịnh (Net weight - NW): Là trọng lượng cả bì trừ đi trọng
lượng của bao bì.
- Trọng lượng thương mại: Thường áp dụng đối với hàng hoá có khả năng
hút ẩm.
Công thức:
Wtt
Wtc
GttGtm


- Mức giá: Để xác định chính xác mức giá cần phải nắm chắc nguyên tắc
xác định giá, xu thế thay đổi của giá cả thị trường thế giới, xem xét đầy đủ các
yếu tố ảnh hưởng đến giá cả, hạch toán lỗ lãi đồng thời định rõ điều kiện cơ sở
giao hàng liên quan đến giá đó.
- Đồng tiền tính giá: có thể là đồng tiền của nước người bán, của nước
người mua hay của một nước thứ ba mà hai bên đồng ý. Trên thực tế người ta
thường sử dụng đồng tiền có khả năng chuyển đổi mạnh như đô la Mỹ (USD).
- Phương pháp quy định giá: trong thương mại quốc tế tuỳ theo từng trường
hợp người ta có thể áp dụng các phương pháp quy định giá như sau: giá cố định,
giá quy định sau, giá linh hoạt và giá di động.
- Phương pháp xác định giá: Gồm xác định giá hướng vào sản xuất và xác
định giá hướng vào thị trường.
- Các quy định khác liên quan đến giá cả: Thường là các điều kiện cơ sở
giao hàng. Mỗi một điều kiện sẽ cho một mức giá khác nhau
Bao gồm các điều kiện được quy định trong Incoterms như: Giao tại xưởng
(EXW), giao cho người vận tải (FCA), giao dọc mạn tàu (FAS), giao lên tàu
(FOB), tiền hàng cộng cước phí (CFR), tiền hàng cộng bảo hiểm cộng cước phí
(CIF), cước trả tới đích (CPT), cước và bảo hiểm trả tới đích (CIP), giao tại biên
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
13
giới (DAF), giao lên tàu (DES), giao trên cầu cảng (DEQ), giao tại đích chưa
nộp thuế (DDU), giao tại đích đã nộp thuế (DDP).
 Điều khoản thanh toán.
Các điều kiện thanh toán quy định trong hợp đồng thương mại quốc tế bao
gồm: đồng tiền thanh toán, địa điểm thanh toán, phương thức thanh toán và điều
kiện đảm bảo hối đoái.
- Địa diểm thanh toán: có thể ở nước người nhập khẩu, ở nước người xuất
khẩu hoặc ở nước thứ ba do hai bên quy định. Trong thực tế việc xác định địa
điểm thanh toán phụ thuộc quan trọng vào thế và lực của hai bên.

Người mua thông báo cho người bán những điều kiện cần thiết để gửi hàng hoặc
về chi tiết của tàu đến nhận hàng. Sau khi giao hàng người bán vẫn tiếp tục thông
báo về tình hình đã giao.
 Điều kiện về bao bì ký mã hiệu.
Điều khoản về bao bì bao gồm các vấn đề như: chất lượng bao bì, phương
pháp cung ứng và giá cả bao bì hàng hoá nhằm đảm bảo cho lộ trình vận chuyển
và bảo quản hàng , đồng thời nâng cao tính hấp dẫn cho sản phẩm.
Quy định về ký mã hiệu: là điều kiện nhằm tạo thuận lợi cho việc bốc dỡ,
giao nhận và bảo quản hàng hoá. Yêu cầu của mã hiệu là phải viết bằng sơn hoặc
mực không phai, không nhoè, phải dễ đọc, có kích thước lớn hơn hoặc bằng 2
cm, không làm ảnh hưởng tới phẩm chất hàng hoá, viết theo thứ tự nhất định,
màu sắc phù hợp với từng loại hàng hoá, phải được kẻ ít nhất trên hai mặt giáp
nhau.
 Điều khoản về bảo hành:
Đây là điều khoản quy định trách nhiệm của người bán đối với chất lượng của
hàng hoá giao nhận trong một khoảng thời gian xác định. Thời gian này gọi là
thời gian bảo hành, nó được coi là thời gian dành cho người mua phát hiện
những khuyết tật của hàng hoá đó.
Trong điều kiện bảo hành người ta thường thoả thuận về phạm vi bảo đảm
của hàng hoá, thời hạn bảo hành, những khuyết tật được bảo hành, địa điểm bảo
hành, hình thức bảo hành và trách nhiệm của người bán trong thời hạn bảo hành.
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
15
 Điều khoản khiếu nại:
Là việc một bên yêu cầu bên kia giải quyết những tổn thất hoặc thiệt hại mà
bên kia đã gây ra hoặc về những sự vi phạm điều đã được cam kết giữa hai bên.
Mục đích của điều khoản này là: Làm nhụt ý chí của các bên khi các bên có ý
định không thực hiện một phần hay toàn bộ hợp đồng. Đồng thời không cần đưa
ra trọng tài mà vẫn được hưởng đền bù do bên kia gây ra. Điều khoản quy định

vào điều ước quốc tế về ngoại thương. Ở Việt Nam điều ước đã ký kết hoặc thừa
nhận thì chúng có giá trị bắt buộc đối với hợp đồng nhập khẩu có liên quan.Tức
là, dù bên nào có dẫn chiếu hay không thì các điều ước quốc tế về ngoại thương
mà công ty ký kết hoặc thừa nhận vẫn đương nhiên được áp dụng. Còn những
điều ước quốc tế về ngoại thương mà Việt Nam không ký, chưa ký hoặc không
thừa nhận thì không có giá trị bắt buộc đối với chủ thể Việt Nam trong hợp đồng
nhập khẩu. Chúng chỉ trở thành nguồn luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu nếu
các bên thoả thuận dẫn chiếu tới trong hợp đồng.
Nếu trong các điều ước quốc tế về ngoại thương có những quy định khác
với pháp luật Việt Nam thì có quyền bảo lưu, tức là chỉ áp dụng từng chương
mục của công ước nếu không trái với pháp luật Việt Nam.
b) Luật quốc gia:
Luật quốc gia của một nước sẽ được lựa chọn để áp dụng cho hợp đồng
nhập khẩu thì:
 Các bên đã thoả thuận trong hợp đồng.
 Các bên thỏa thuận, lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng sau khi hợp đồng
nhập khẩu đã được ký kết. Trường hợp này thường được sử dụng khi trong hợp
đồng ký kết trước đó vì lý do nào đó không có điều khoản luật áp dụng. Mặc dù
lúc này thường là tranh chấp đã xảy ra nhưng các bên vẫn còn có thể đàm phán
với nhau để chọn luật nào đó để giải quyết.
 Khi luật đó đã được quy định trong các điều ước quốc tế mà nước đó đã
tham gia ký kết hoặc thừa nhận có quy định về điều khoản luật áp dụng cho các
hợp đồng nhập khẩu thì các điều khoản đó đương nhiên được áp dụng.
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
17
Trên thực tế lựa chọn nước nào phụ thuộc vào quá trình đàm phán, thế lực
của người đàm phán và đặc biệt là sự hiểu biết của mỗi bên về luật pháp nước
mình và nước của bạn hàng.
c) Tập quán thương mại quốc tế.

Án lệ thường được áp dụng đối với các trường hợp:
 Khi các bên thoả thuận trong hợp đồng sẽ áp dụng án lệ và phải quy định
đối với từng trường hợp cụ thể.
 Nếu trung tâm trọng tài được lựa chọn theo thoả thuận trong hợp đồng có
áp dụng án lệ vào xét xử tranh chấp thì các bên đương sự cũng phải áp dụng.
Khi các nghị định đã được ký kết giữa các quốc gia thì nó sẽ trở thành
nguồn luật đương nhiên đối với các bên quốc gia đó và có giá trị bắt buộc đối với
hợp đồng nhập khẩu có liên quan. Các bên có thể dựa vào đó mà không cần có
sự thoả thuận nào, tức là chỉ cần các bên có dẫn chiếu thì chúng đương nhiên
được áp dụng và nhờ đó mà hoạt động buôn bán thương mại quốc tế được thuận
lợi nhanh chóng hơn, tiết kiệm chi phí, thời gian cho các thương nhân.
III. Quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
1. Quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Sau khi hợp đồng nhập khẩu được ký kết, đơn vị kinh doanh xuất nhập
khẩu với tư cách là một bên ký hợp đồng, phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó.
Đây là một chuỗi các công việc phức tạp và mang tính chất tự nguyện cao, đòi
hỏi người làm công tác này phải đầy đủ kỹ năng, nghiệp vụ thương mại quốc tế.
Việc thực hiện này đòi hỏi phải tuân thủ luật pháp quốc gia, quốc tế và giữ chữ
tín cho đơn vị mình. Đồng thời đòi hỏi phải cố gắng tiết kiệm các chi phí lưu
thông, nâng cao doanh lợi và hiệu quả công việc. Việc thực hiện hợp đồng phải
tiến hành các công việc sau.
1.1) Xin giấy phép nhập khẩu:
Xin giấy phép nhập khẩu là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp lý để
tiến hành các bước tiếp theo. Vì thế sau khi ký hợp đồng nhập khẩu, doanh
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
19
nghiệp phải xin giấy phép nhập khẩu. Có hai loại giấy phép nhập khẩu đó là giấy
phép nhập khẩu năm và giấy phép nhập khẩu chuyến.
 Nếu hàng hoá có trong nghị định thư thì không cần xin giấy phép.

bốc dỡ
Việc thuê phương tiện vận tải phục vụ cho chuyên chở hàng hoá có ý
nghĩa quan trọng đối với các tác nghiệp của quy trình thực hiện hợp đồng nhập
khẩu. Nó trực tiếp ảnh hưởng tới tiến độ giao hàng, đến sự an toàn của hàng hoá
và có liên quan nhiều đến nội dung của hợp đồng. Chính vì vậy, khi thuê phương
tiện vận tải cần phải hiểu và nắm chắc nghiệp vụ cũng như cần có kinh nghiệm
thực tế, nhất là trong trường hợp thuê tàu biển (một lĩnh vực rất phức tạp).
1.3) Mua bảo hiểm.
Trong thương mại quốc tế thường phải vận chuyển đi xa, trong những điều
kiện vận tải khá phức tạp, do đó hàng hoá dễ bị hư hỏng, mất mát tổn thất lớn
trong quá trình vận chuyển. Chuyên chở hàng hoá bằng đường biển cũng thường
gặp rủi ro và tổn thất, bởi vậy trong thương mại quốc tế bảo hiểm đường biển là
loại bảo hiểm phổ biến nhất. Theo điều kiện CIF, CIP thì nghĩa vụ của người bán
phải mua bảo hiểm vì lợi ích của người mua nhưng chỉ phải mua bảo hiểm ở một
mức tối thiểu. Còn trong các điều kiện khác, các bên tự quyết định việc mua bảo
hiểm nếu họ cảm thấy cần thiết tức là không bắt buộc phải mua bảo hiểm.Các
đơn vị kinh doanh khi mua bảo hiểm phải xác lập nên một hợp đồng bảo hiểm.
Để ký một hợp đồng bảo hiểm thì cần nắm vững điều kiện bảo hiểm. Có 3 điều
kiện chính cần quan tâm khi ký kết hợp đồng bảo hiểm là:
 Điều kiện bảo hiểm A: Bảo hiểm mọi rủi ro.
 Điều kiện bảo hiểm B: Bảo hiểm có tổn thất riêng.
 Điều kiện bảo hiểm C: Bảo hiểm miễn tổn thất riêng
Ngoài ra còn có điều kiện bảo hiểm như: Vỡ, rò rỉ, mất trộm , bảo hiểm
đặc biệt như bảo hiểm chiến tranh, bảo hiểm đình công, bạo động
Cần dựa vào các đặc điểm sau để cân nhắc mua loại bảo hiểm nào:
 Tính chất hàng hoá.
 Tính trạng bao bì.
 Vị trí xếp hàng lên tàu.
 Loại tàu chuyên chở.
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -

TMQT
22
- Căn cứ vào các quy định hiện hành, kết quả tính thuế của người khai hải
quan và kết quả kiểm tra tính thuế hàng hoá (nếu có) để kiểm tra xác định số
thuế phải nộp của lô hàng.
- Ra thông báo thuế hoặc viết biên lai thu thuế (nếu có), viết biên lai lệ phí
hải quan.
- Nhập số liệu vào máy vi tính và chuyển hồ sơ cho lãnh đạo đội trực tiếp
điều hành khâu kiểm tra tính thuế để xác nhận đã làm thủ tục hải quan và trả tờ
khai hải quan cho chủ hàng.
1.5) Nhận hàng nhập khẩu.
a) Nhận hàng từ tàu biển bao gồm các bước sau:
 Chuẩn bị chứng từ nhận hàng.
 Ký hợp đồng uỷ thác cho cơ quan ga, cảng về việc giao hàng từ nước ngoài
về
 Xác nhận với cảng về kế hoạch tiếp nhận hàng, lịch tàu, cơ cấu mặt hàng,
điều kiện kỹ thuật khi bốc dỡ hàng hoá và bảo quản hàng hoá.
 Cung cấp các tài liệu cần thiết cho việc giao nhận hàng hoá như vận chuyển
đơn, lệnh giao hàng.
 Tiến hành nhận hàng: Nhận về số lượng, xem xét sự phù hợp với tên hàng,
chủng loại thông số kỹ thuật, chất lượng bao bì, ký mã hiệu của hàng hoá so
với yêu cầu đã thoả thuận trong hợp đồng.
Người nhập khẩu phải kiểm tra, giám sát việc giao nhận hàng, phát hiện
các sai phạm và giải quyết các tình huống phát sinh.
 Thanh toán chi phí giao nhận, bốc xếp bảo quản hàng hoá cho cảng.
b) Nếu công ty nhận hàng chuyên chở bằng Container bao gồm các bước:
 Nhận vận đơn và các chứng từ khác.
 Trình vận đơn và các chứng từ khác như : Hoá đơn thương mại, phiếu đóng
gói cho hãng tàu để đổi lấy lệnh giao hàng (D/O).
 Nhà nhập khẩu đến trạm hoặc bãi Container để nhận hàng. Nếu hàng nguyên

toán nhận hàng trên tàu. Nếu hàng bị đổ vỡ hư hỏng thì lập biên bản hàng đổ
vỡ hư hỏng và phải có chữ ký của thuyền trưởng.
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
24
(7)

(2)

(1)

(8)

(9)

(7)

(5)

(3)

(6)

(4)

 Đối với chủ hàng là đơn vị nhập khẩu: Khi kiểm tra hàng hoá nếu có thấy tổn
thất thì lập thư dự kháng và lập ngay một biên bản giám định và yêu cầu kho,
cảng, công ty bảo hiểm, công ty giám định do hai bên chọn ký nhận.
 Các cơ quan kiểm dịch động thực vật cũng phải kiểm dịch và cấp giấy chứng
nhận an toàn về hàng hoá (nếu hàng hoá là động thực vật).

Người mua

Trích đoạn Đôn đốc bên bán giao hàng Tình hình thực hiện hợp đồng nhập khẩu Tổ chức huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau và nâng cao
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status