LUẬN VĂN: Tiềm năng du lịch và phương hướng , biện pháp phát triển du lịch tỉnh Hải Dương doc - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Tiềm năng du lịch và phương hướng , biện
pháp phát triển du lịch tỉnh Hải Dương

Lời mở đầu
Du lịch từ lâu vẫn được hiểu là nghỉ ngơi, tham quan giải trí. Nhưng trên thực tế, du
lịch có một hình ảnh năng động hơn, hình ảnh một ngành kinh doanh mới, có hiệu quả và
ngày càng phát triển trên mỗi quốc gia.
Bước sang thế kỷ 21, thế kỷ của dịch vụ, tin học và nền kinh tế tri thức, thì du lịch ngày
càng trở nên quan trọng và góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Du lịch được
coi là một ngành “ công nghiệp không khói”, “ xuất khẩu tại chỗ, xuất khẩu vô hình” để thu
về nguồn ngoại tệ. Hoạt động du lịch đã trở thành hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế và
chương I: tiềm năng du lịch. Khái niệm, nội dung và điều kiện phát triển du lịch:

I/ Khái niệm chung về du lịch và tiềm năng du lịch.
1. khái niệm chung về du lịch.
1.1 Khái niệm về du lịch.
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở
các nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên,
không chỉ ở nước ta mà cả nhiều nước trên thế giới cũng chưa thống nhất. Về khái niệm và
nội dung đó có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch.
Theo Tổ chức du lịch thế giới (WTO): "Du lịch bao gồm tất cả những hoạt động của

+ Trình độ phát triển khoa học công nghệ đã tạo ra các phương tiện để khai thác tiềm
năng mọi cách để đạt hiệu quả tốt nhất, nhằm đáp ứng mọi nhu cầu thoả mãn của khách du
lịch khi có nhu cầu khám phá những điều kỳ diệu của tài nguyên du lịch.
Như vậy, giống như các tài nguyên khác, tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử,
vì những thay đổi cơ cấu và nhu cầu đã lôi cuốn vào hoạt động du lịch những thành phần
mang tính chất kinh tế cũng như tính văn hoá - lịch sử. Nó là một phạm trù động, vì khái
niệm tài nguyên du lịch thay đổi tuỳ thuộc vào sự tiến bộ kỹ thuật, sự cần thiết về kinh tế,
tính hợp lý và mức độ nghiên cứu, khi đánh giá tài nguyên và xác định định hướng khai thác
chúng cần phải tính đến những thay đổi trong tương lai về nhu cầu cũng như khả năng kinh
tế - kỹ thuật khai thác các tài nguyên du lịch mới.
Bên cạnh những tài nguyên đã và đang được khai thác thì còn nhiều tài nguyên du
lịch vẫn tồn tại dưới dạng tiềm năng đó.
+ Chưa được nghiên cứu, đánh giá và điều tra đầy đủ.
+ Chưa được khai thác do " cầu" còn quá thấp.
+ Tính tài nguyên thấp, chưa đủ tiêu chuẩn cần thiết để khai thác và hình thành nên
các sản phẩm du lịch.
+ Các điều kiện để tiếp cận các phương tiện khai thác còn hạn chế, do đó còn gặp
nhiều khó khăn trong khai thác.
1.3. Khái niệm khách du lịch.
Nói đến khách du lịch, chúng ta có thể hiểu đó là những người đi từ nơi này đến nơi
khác để nghỉ ngơi, giả trí, cũng có thể hiểu đó là người đi du lịch hoặc kết hợp du lịch, trừ
trường hợp đi làm hay đi học…
Định nghĩa của nhóm tác giả trường kinh tế quốc dân có thể nói là tương đối hoàn
chỉnh." Khách du lịch là người đi đến một quốc gia khác, một vùng khác và lưu lại ở đó với
thời gian lớn hơn một ngày nhằm các mục đích khác nhưng không nhằm mục đích kiếm
tiền".
- Định nghĩa khách du lịch quốc tế.
Theo tổ chức du lịch thế giới ( WTO): " Khách du lịch quốc tế là một người lưu trú ít
nhất một đêm nhưng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với
nhiều mục địch khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến.

hàng hay nhóm khách hàng đang có nhu cầu, mong muốn và có khả năng thanh toán sẽ
được thoả mãn
+ Thị trường du lịch, mối quan hệ mua bán được hình thành giữa các tổ chức kinh tế
phục vụ lưu thông phân phối trong du lịch, đó chính là các đại lý du lịch
+ Người mua thông qua những đại lý du lịch này xẽ biết được những thông tin vế sản
phẩm mà mình sẽ mua và sau khi đồng ý thực hiện mua ở đây. Như vậy, sản phẩm đang bán
trực tiếp ở thị trường hàng hoá này đã chuyển sang bán ở thị trường du lịch
+ Chỉ khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu du lịch mới xuất hiện và ngày
càng cao, chính vì thế thị trưồng du lịch xuất hiện muộn hơn thị trường hàng hoá
+ Trên thị trường du lịch không có sự dịch chuyển của khối lượng hàng hoá, do tính
chất đặc biệt của sản phẩm du lịch, khách hàng chỉ có thể tiêu dùng tại nơi bán sản
phẩm,nên thị trường du lịch là dòng một chiều của khách đến với sản phẩm.
- Cầu du lịch
Cầu du lịch là loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người. Nhu cầu này được
hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý ( đi lại ) và nhu cầu tâm lý ( giao
tiếp ) trong hệ thống các nhu cầu của con người, để làm cho cuộc sống thay đổi về môi
trường sống, muốn có thêm hiểu biết cũng như muốn nghỉ ngơi, giải trí thoát khỏi sự căng
thẳng và môi trường ô nhiễm.
Nhu cầu du lịch có được thực hiện hay không phụ thuộc vào khả năng thanh toán của
khách du lịch, có thời gian rỗi dành cho tiêu dùng du lịch và phải sẵn sàng mua sản phẩm
du lịch.
Khi thoả mãn 3 điều kiện này thì nhu cầu du lịch của cá nhân biểu hiện ở cấp độ ý
định. Nhu cầu du lịch ở cấp độ quyết định của tất cả cá nhân ở một không gian và thời gian
nhất định tạo ra thị trường khách du lịch hiện tại ở không gian và thời gian đó. Nếu nhu cầu
du lịch của các cá nhân chưa thoả mãn 1 trong 3 điều kiện nói trên thì tập hợp lại tạo ra thị
trường khách du lịch tiềm năng , khi mà trình độ sản xuất xã hội ngày càng phát triển, các
mối quan hệ xã hội càng hoàn thiện, mức độ toàn cầu hoá càng cao thì nhu cầu về du lịch
càng lớn về số lượng, chất lượng và cơ cấu của nó.
- Cung du lịch
Cung trong du lịch là khả năng cung cấp toàn bộ hàng hoá về dịch vụ du lịch nhằm

lịch.
Tiềm năng du lịch bao hàm: vị trí địa lý, tài nguyờn du lịch, con người, thị
trường, các điều kiện về kinh tế - xó hội…
II/ Các đặc điểm chủ yếu để phát triển tài nguyên du lịch.
1. Đặc điểm tài nguyên du lịch.
Để có thể khai thác và sử dụng một cách tốt nhất các tài nguyên du lịch, cần phải
nghiên cứu các đặc điểm tài nguyên du lịch. Tài nguyên du lịch có các đặc điểm sau đây.
1.1. Tài nguyên du lịch rất đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc
và độc đáo tạo ra sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách.
Khác với nhiều loại tài nguyên khác, tài nguyên du lịch rất phong phú càng đa dạng,
đặc điểm này tạo nên sự phong phú về sản phẩm du lịch, nếu chỉ tính toán đơn thuần từ mặt
kinh tế thì hiệu quả của tài nguyên du lịch đem lại là rất lớn có khi vượt trội hơn so với các
tài nguyên khác.
1.2. Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác.
Trong tài nguyên du lịch có tài nguyên có thể khai thác quanh năm, nhưng cũng có
tài nguyên khai thác lệ thuộc vào thời vụ. Sự lệ thuộc này chủ yếu dựa theo diễn biến của
khí hâu, như ở nước ta các tài nguyên được khai thác theo mùa rất rõ rệt: vào mùa Xuân ở
đồng bằng Bắc bộ là mùa của những lễ hội như hội Chùa Hương, hội Lim, hội Đền Hùng ,
vào mùa Hè thường diễn ra các hoạt động biển, đặc biệt là du lịch biển diễn ra quanh năm ở
các tỉnh có biển, nhất là ở miền Trung từ Đà Nẵng trở vào có thể tắm biển quanh năm (cả 4
mùa )vì ở đó rất ít bị ảnh hưởng của không khí lạnh.
1.3. Tài nguyên du lịch là tài nguyên không chỉ có giá trị hữu hình mà còn có giá trị vô
hình.
Đây được xem là đặc điểm quan trọng của tài nguyên du lịch. khác với tài nguyên
khác, tài nguyên du lịch là phương tiện vật chất tham gia vào việc hình thành nên các sản
phẩm du lịch, đó chính là giá trị hữu hình của tài nguyên du lịch. Giá trị vô hình của tài
nguyên du lịch được khách du lịch cảm nhận thông qua những cảm xúc tâm lý, làm thoả mãn
nhu cầu của khách du lịch.
1.4. Tài nguyên du lịch thường dễ khai thác.
Các tài nguyên du lịch thường được khai thác để phục vụ du lịch là các tài nguyên

hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng, du lịch, thể thao, giải trí
-Thuỷ văn: gồm mặt nước và các bãi nông ven bờ, các điểm nước khoáng.
- Sinh vật: gồm các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các cơ sở hệ sinh thái
đặc thù.
2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn.
Là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là do con người sáng tạo ra. Đó là
toàn bộ những sản phẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra,
đều được coi là những sản phẩm văn hoá. Tài nguyên du lịch nhân văn được phân chia
thành những nhóm cụ thể sau:
- Các di tích lịch sử văn hoá gồm: các di sản văn hoá thế giới, di tích lịch sử, thắng
cảnh cấp quốc gia và địa phương.
- Các lễ hội: làng nghề thủ công truyền thống gồm: nghề gốm sứ, trạm khắc đá, nghề
mộc, nghề kim hoàn
- Các đối tương du lịch gắn với dân tộc học.
- Các đối tượng văn hoá - thể thao và hoạt động nhận thức khác.
III/ Những nội dung cơ bản về hoạt động du lịch ở Hải Dương.
1. Những tiềm năng cần được đánh thức.
Thuộc đồng bằng Bắc Bộ với địa hình bao gồm cả đồng bằng và đồi núi, cùng với
lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, Hải Dương có nhiều lợi thế để phát triển toàn diện
cả du lịch văn hoá, tín ngưỡng tâm linh và du lịch sinh thái. ở phía đông Bắc có 2 huyện
miền núi là Chí Linh và Kinh Môn, tuy không rộng lớn nhưng cảnh quan đa dạng, trong đó.
Vùng Chí Linh núi đồi trùng điệp, rừng cây xanh tốt là thiên đường của du lịch sinh thái,
xây dựng sân golf, biệt thự, hình thành cắm trại, picnic, vùng núi hồ Côn Sơn - Kiếp Bạc -
Thanh Mai, vào thế kỷ 14 nơi đây đã biến thành chốn " Phật tổ" của Thiền Phái Trúc Lâm
và gắn liền với tên tuổi danh nhân Nguyễn Trãi, danh tướng Trần Hưng Đạo. Vùng Kinh
Môn có “ tập đoàn ” đá vôi với những hang động kỳ thú, nơi lưu giữ di tích của con người
từ thời đại đồ đá mới. Kinh Môn tự hào là nơi có động Kính Chủ, động Tâm Long từ thời
Trần được tôn tạo thành Chùa. Đến thế kỷ 17 Kính Chủ trở thành động nổi tiếng của đất
nước, nơi đây để lại bút tích của nhiều thời đại khác nhau. Huyện Thanh Miện nổi tiếng với
Đảo Cò Chi Lăng Nam, nơi du khách được hoà mình với thiên nhiên, ngắm những đàn cò

kinh doanh dịch vụ lưu trú chuyên nghiệp. So với các tỉnh có tiềm năng du lịch, các dịch vụ
vui chơi giải trí, phương tiện đi lại, đường giao thông du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của
ngành du lịch Dải Dương còn quá thiếu và yếu. Ngoài một số điểm như An Phụ - Kính Chủ,
Côn Sơn - Kiếp Bạc được đầu tư xây dựng hệ thống giao thông phục vụ khu du lịch, những
điểm du lịch khác vẫn đang ở nguyên trạng hoang sơ hoặc " ăn nhờ" hệ thống giao thông
dân dụng, nối vào di tích vẫn là đường nhỏ. Vì thế, phần lớn trong hơn 1.000 di tích chủ yếu
thu hút khách trong phạm vi gần, vào vài tháng nhất định trong năm( chủ yếu là mùa lễ hội,
mùa xuân ) 100% làng nghề đều chưa khai thác du lịch. Bản thân các khu di tích, thắng cảnh
chưa được tôn tạo, sửa chữa, nâng cấp đầy đủ, thường xuyên.
Để khắc phục tình trạng trên, năm 2001, Hải Dương đã đầu tư gần 50 tỷ nhằm đồng
tôn tạo khu du lịch Côn Sơn - Kiếp Bạc và sắp tới sẽ triển khai dự án xây dựng khu hồ Mật
Sơn ( Chí Linh ) với tổng số vốn đầu tư gần 41 tỷ đồng. Ngoài ra, khu núi An Phụ - Kính
Chủ, cũng được đầu tư xây dựng tượng đài Hưng Đạo Vương và tôn tạo đường lên đỉnh và
chùa Tường Vân với số tiền hàng chục tỷ đồng. Đó là những khoản tiền vốn đầu tư cho du
lịch lớn nhất trong thời gian vừa qua. Trong giai đoạn đầu mỗi năm cần đến 150 tỷ đồng để
tạo ra diện mạo mới cho ngành du lịch.Thiếu vốn đầu tư, đó là mấu chốt của bài toán khai
thác tiềm năng du lịch Hải Dương hiện nay. Tuy nhiên, tiềm năng du lịch Hải Dương đang
thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở trong và nước ngoài
tỉnh, các nhà đầu tư trong nước và từ nước ngoài.
3. Tạo tương lai mới bằng những chiến lược mới.
Quy hoạch phát triển du lịch Hải Dương xác định gồm 4 chiến lược trọng tâm là:
chiến lược đầu tư, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chiến lược nâng cấp chất lượng sản
phẩm và tuyên truyền quảng bá. Trong đó chiến lược quan trọng nhất là đầu tư kết cấu hạ
tầng, vật chất kỹ thuât tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp, song nguồn
vốn hiện có chỉ cho phép đầu tư vào một vài điểm nhất định. Vì vậy, để đạt được mục tiêu
phát triển nền kinh tế của tỉnh, trong đó có vấn đề đầu tư cho du lịch, Hải Dương đang mời
gọi mọi đối tác đầu tư, mọi nguồn vốn ở trong và ngoài nước đầu tư mạnh vào lĩnh vực này
trên cơ sở quy hoạch du lịch đã được phê duyệt. Để phát triển tương xứng với tiềm năng và
yêu cầu, Sở Thương mại - Du lịch Hải Dương đang kết hợp với Tổng cục Du lịch tổ chức
đào tạo nhân viên khách sạn, hướng dẫn viên du lịch, bởi lẽ một khi hạ tầng du lịch được

tập trung ở đô thị và các thôn xóm dọc theo các trục giao thông đường bộ, đường thuỷ quan
trọng…Dân cư sinh sống ở Hải Dương chủ yếu là dân tộc Kinh theo hai tôn giáo chính là:
Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Tính cách của người dân Hải Dương mang đậm nét đặc trưng
của vùng văn minh lúa nước Châu thổ sông Hồng: cần cù, hiền lành, phóng khoáng, cởi mở
và giàu lòng mến khách.
Do kinh tế tăng trưởng ổn định nên đời sống dân cư ở thành thị và nông thôn đều
được cải thiện. Đến năm 2002 tỷ lệ hộ đói nghèo chỉ còn 7%, toàn tỉnh đã đạt tiêu chuẩn
quốc gia về xoá mù chữ. Đến nay, tất cả các xã, phường trên địa bàn tỉnh đều có hệ thống
điện, đường, trường, trạm tương đối hoàn chỉnh, thêm vào đó là chính sách phát
triển du lịch cùng với sự ổn địnhvề mặt chính trị và an ninh đã làm cho du lịch của
Hải Dương có điều thuận lợi hơn để phát triển.

1.2. Về mặt kinh tế.
Trong quá trình cùng cả nước thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, tỉnh
Hải Dương đã tạo sự chuyển biến tích cực trong toàn bộ nền kinh tế cũng như quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ trong
tổng sản phẩm xã hội của tỉnh, đặc biệt là lĩnh vực du lịch, trong thời kỳ 1998 - 2003 đạt
mức tăng trưởng bình quân rất cao ( 30% ) và chiếm tỷ trọng 1,14 % GDP của tỉnh Hải
Dương năm 2003. Kết quả mà ngành du lịch đạt được là nhờ có nhiều hoạt động tuyên
truyền quảng bá du lịch được Sở Thương mại - Du lịch tiến hành như phát hành phim, sách
về du lịch, tổ chức triển lãm và xây dựng các tour du lịch làng nghề, tổ chức gian hàng du
lịch Hải Dương tại Liên hoan du lịch Hà Nội đã góp phần tạo ra hình ảnh mới cho hoạt
động du lịch của tỉnh Hải Dương.
2. Điều kiện đặc trưng.
Trong quá trình cả nước thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, tỉnh Hải
Dương đã tạo sự chuyển biến tích cực trong toàn bộ nền kinh tế cũng như quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ trong Tổng sản
phẩm xã hội của tỉnh, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ du lịch, trong thời kỳ 1998 – 2003 đạt
mức tăng trưởng bình quân rất cao ( 30% ) và chiếm tỷ trọng 1,14% GDP của tỉnh Hải
Dương năm 2003. Kết quả mà ngành du lịch đạt được là nhốc nhiều hoạt động tuyên

Phương Tây. Đặc biệt, các di tích lịch sử văn hoá đều gắn với các lễ hội truyền thống văn
hoá dân gian, đây là tài nguyên du lịch nhân văn lớn, là động lực và thế mạnh cho du lịch
Hải Dương phát triển.
Ngoài các di tích lịch sử văn hoá, các lễ hội truyền thống văn hoá dân gian, tài
nguyên du lịch Hải Dương còn được thể hiện qua các làng nghề truyền thống trong tỉnh, các
giá trị văn hoá phi vật thể cùng truyền thống canh tác lâu đời của người dân vùng đồng bằng
Châu thổ sông Hồng, tất cả làm cho nguồn tài nguyên du lịch của Hải Dương thêm phong
phú và là điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch.
Hiện nay, tài nguyên du lịch của Hải Dương đã được cải thiện một cách căn bản về
hạ tầng giao thông, điện nước, vệ sinh môi trường và an ninh trật tự. Một số dự án lớn đã
được triển khai thực hiện và hoàn chỉnh như dự án mạng lưới giao thông khu Côn Sơn –
Kiếp Bạc, Đền thờ Chu Văn An, đường lên núi An Phụ, đường giao thông dẫn đến Đảo cò ở
Chi Lăng Nam- Thanh Miện, Dự án kè hồ Côn Sơn đã ngày càng tạo cho Hải Dương
những sản phẩm du lịch có tính háp dẫn du khách ngày càng cao hơn.
2.3. Điều kiện sẵn sàng đón tiếp khách.
* Cơ sở lưu trú du lịch.
Các cơ sở lưu trú du lịch phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Năm 2000
cả tỉnh có 26 cơ sở lưu trú du lịch, trong đó, chỉ có 1 khách sạn 2 sao, 1 khách sạn 1
sao; đến năm 2004 cả tỉnh có 60 cơ sở lưu trú du lịch được phân loại, xếp hạng, với
tổng số 1.500 phòng, trong đó, có 1050 phòng đạt tiêu chuẩn. Có 6 khách sạn xếp hạng
2 sao, 6 khách sạn xếp hạng 1 sao. Năm 2005 trên địa bàn của tỉnh đã có một khách sạn
đạt tiêu chuẩn 4 sao đi vào hoạt động.
* Kinh doanh lữ hành.
Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành trên địa bàn tỉnh đã trú trọng đẩy mạnh
công tác thị trường, xây dựng các chương trình du lịch hấp dẫn nâng cao chất lượng
hiệu quả kinh doanh. Đến hết năm 2004 toàn tỉnh có 7 doanh nghiệp kinh doanh lữ
hành nội địa, 15 doanh nghiệp vận chuyển hành khách. Hoạt động vận chuyển khách
du lịch không chỉ chuyển biến về số lượng mà còn cả về chất lượng phương tiện phục
vụ được nâng cao hơn. Năm 2000 toàn tỉnh có gần 200 xe kinh doanh vận chuyển
khách du lịch; đến năm 2004 đã có trên 500 xe đảm bảo chất lượng, tiện lợi và an toàn

quốc lộ 18 chạy qua, nối sân bay quốc tế Nội Bài ra biển ( qua cảng Cái Lân - Quảng Ninh
). Đường sắt Hà Nội – Hải Phòng chạy qua Hải Dương là cầu nối giữa thủ đô Hà Nội và các
tỉnh phía Bắc ra các cảng biển. Hơn nữa, Hải Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ ( Hà Nội – Hải Phòng - Quảng Ninh ), sẽ là thuận lợi cho Hải Dương tham gia mạnh mẽ
vào phân công lao động trên phạm vi toàn vùng Bắc Bộ, đặc biệt là trao đổi hàng hoá với
các tỉnh bạn, các thành phố lớn và xuất khẩu.
Trong quy hoạch phát triển du lịch quốc gia, Hải Dương nằm trong không gian trung
tâm du lịch Hà Nội và các vùng phụ cận thuộc vùng du lịch Bắc Bộ, với tiềm năng du lịch
nổi trội như du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch làng nghề độc đáo Mặt khác, Hải
Dương gần vị trí trung tâm du lịch biển Hải Phòng, Hạ Long, có hệ thống đường bộ và hệ
thống sông ngòi thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế nói chung và phát triển du lịch nói
riêng.
1.2. Đặc điểm địa hình.
Là tỉnh vừa có vùng đồng bằng vừa có đồi núi tạo cho Hải Dương có khả năng phát
triển mạnh và đa dạng các sản phẩm nông, lâm nghiệp. Vùng đồi núi của tỉnh chiếm khoảng
10% diện tích đất tự nhiên, còn lại là vùng đồng bằng chiếm 90% diện tích đất. Địa hình của
Hải Dương nghiêng và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Phía Đông của tỉnh có một
số vùng trũng, thường bị ảnh hưởng úng ngập vào mùa mưa. Hệ thống sông ngòi của tỉnh
khá dầy đặc, bao gồm hệ thống sông Thái Bình, sông Luộc và các trục Bắc Hưng Hải, có
khả năng bù đắp phù sa cho đồng ruộng, đồng thời cũng là tuyến giao thông thuỷ, tạo điều
kiện tốt cho việc giao lưu hàng hoá nội tỉnh cũng như với các tỉnh khác trong vùng. Tuy
nhiên, sông ngòi có nhiều cũng gây khó khăn trong việc đầu tư đắp đê phòng chống lụt bão
và ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất .
1.3. Đặc điểm khí hậu.
Cũng như các tỉnh khác thuộc đồng bằng Châu thổ sông Hồng, Hải Dương nằm trong
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Lượng mưa trung bình hàng năm 1500 – 1700 mm, nhiệt
độ trung bình hàng năm là 23oC, thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng. Lượng mưa phân bố
không đồng đều, tập trung vào tháng 7 và tháng 8, dễ gây ảnh hưởng không tốt đến sản xuất
và dân sinh. Độ ẩm không khí trung bình là từ 75 – 80%, các tháng có độ ẩm cao là tháng 7
và tháng 8, với độ ẩm trung bình là 80 – 86%. Hải Dương mang đầy đủ những đặc thù của

1.5. Tài nguyên nước.
Nguồn nước tại Hải Dương khá phong phú, hệ thống sông ngòi khá dầy đặc với các
sông lớn là sông Hồng, sông Thái Bình, sông Luộc, sông Kinh Thầy. Ngoài ra, trên lãnh thổ
Hải Dương còn có rất nhiều ao hồ được phân bố rộng khắp trên khắp địa bàn tỉnh.
1.6. Tài nguyên du lịch tự nhiên.
Phần lớn đất đai của Hải Dương thuộc đồng bằng Bắc Bộ, ở phía Đông Bắc có 2
huyện niềm núi, tuy không rộng lớn nhưng có cảnh quan đa dạng. Vùng Chí Linh núi đồi
trùng điệp cao không quá 700m, rừng cây xanh tốt, rất thuận lợi cho việc xây dựng những
công trình văn hoá. Vùng Kinh Môn có nhiều núi đá vôi, có những hang động kỳ thú, nơi
còn di tích của con người từ thời đại đồ đá mới. Cách đây hàng ngàn năm, dân tộc ta đã
quan tâm tới 2 vùng cảnh quan đặc biệt này. Côn Sơn, Thanh Mai thế kỷ 14 đã trở thành
Trung tâm của thiền phái Trúc Lâm, đến thế kỷ 17, Kính Chủ trở thành động nổi tiếng của
đất nước, nơI để lại bút tích của danh nhân thời đại.
Hải Dương có địa hình khá bằng phẳng, cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn với những
cánh đồng lúa tốt tươi, những dòng sông lớn, môi trường tự nhiên khá trong sạch. Nhiều
làng quê trù phú mang đậm nét đặc trưng của làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Du lịch
sinh tháI, nghỉ dưỡng, du khảo đồng quê, tham gia nghiên cứu khao học. Các tài nguyên du
lịch tự nhiên thường gắn với tài nguyên du lịch nhân văn. Một số tài nguyên du lịch tự nhiên
tiêu biểu xin được dẫn ra sau đây. 1.6.1. Khu danh thắng Phượng Hoàng – Kỳ Lân.
Khu danh thắng thuộc xã Văn An, huyện Chí Linh. Phượng Hoàng là khu danh
thắng có rừng thông bát ngát, suối trong róc rách, núi đá lô xô, chùa tháp cổ kính, khu danh
thắng có tới 72 ngon núi ngoạn mục, có mộ và đền thờ Chu Văn An một người thầy tiêu
biẻu cho tài coa đức trọng của nền giáo dục Viêt Nam. Có chùa Huyền Thiên, cung Tử Cục,
điện Lưu Quang, am Lệ Kỳ, miết Trí và giếng Soi.
Khu thắng cảnh này rất thích hợp cho du lịch dã ngoại, vãn cảnh, leo núi, thăm di
tích lịch sử.
1.6.2. Khu di tích danh thắng Côn Sơn.

bằng Hải Dương, nhìn thấy sông Kinh Thầy uốn khúc, thấy khu vực núi đá vôi Kinh Môn
nên thơ. Trên đỉnh núi là đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu, tục gọi là Đền Cao, còn văn
bia của An Phụ Sơn Từ với 2 giếng nước mang đầy cổ tích Mới đây, Bộ Văn hoá đã cho
xây dựng một tượng đài Trần Hưng Đạo hoành tráng, những tấm phù điêu bằng gốm nung,
bậc lên xuống bằng đá Việc điểm xuyết của con người đã khiến cho khu vực núi An Phụ
có sức hấp dẫn lớn đối với du khách.
1.6.4. Khu hang động Kính Chủ và vùng núi đá vôi Dương Nham( Kinh Môn)
Nằm về phía bắc của đỉnh Yêu Phụ, trong dãy Dương Nham như một hòn Non bộ
khổng lồ giữa mênh mông sóng lúa của thung lũng Kinh Thầy. Phía Bắc Dương Nham dòng
sông lượn sát chân núi, sơn thuỷ hữu tình, phía tây Nam Dương Nham là làng quê cổ Kính
Chủ – quê hương của những người thợ đá xứ Đông, sườn phía Nam Dương Nham có mộit động
lớn gọi là động Kính Chủ ( hay động Dương Nham ), đã được xếp vào hàng Nam Thiên.
Khu núi đá vôi Dương Nham và động Kính Chủ còn gắn liền với các trang lịch sử hào hùng của
dân tộc chống quân Nguyên, vùng núi đá nơi Dương Nham còn gắn liền với lịch sử hình thành người
Việt cổ, cảnh đẹp nơi đây rất hấp dẫn đối với khách du lịch.
1.6.5. Khu Lục Đầu Giang – Tam Phủ Nguyệt Bàn.
Đây là một khu vực sông trải dài sát với các hệ thống di tích của Kinh Bắc. Trên khúc sông này
có khu vực bãi bồi gắn liền với các truyền thuyết đánh quân Nguyên nơi có hội Bình Than
1.6.6. Khu miệt vườn vải thiều Thanh Hà
Là một miệt vườn nổi tiếng với cây Vải Tổ. Giống vải ở đây ngọt và rất có giá trị với nhân dân
ta và khách du lịch. Sản phẩm từ vải cũng được chế biến một cách sinh động, Rượu vải, vải khô, vải “
tham gia ” làm vị thuốc. Vùng vải thiều này hiện thời được trải rất rộng bám dòng sông Hương ( Thanh
Hà kỳ thú, thơ mộng.
1.6.7.Làng cò ( Chi Lăng Nam Thanh Miện).
Làng Cò thuộc xã Chi Lăng, huyện Thanh Miện. Gọi là làng Cò vì làng có một đảo nhỏ nằm
giữa hồ vực rộng mênh mông với hàng vạn con cò về đây trú ngụ, xây tổ. Trên đảo có tới 9 loài cò, cò
trắng, cò lửa, cò bộ, cò ruồi, cò đen, cò hương, cò nghênh, cò ngang, diệc. Ngoài ra trên đó còn có tới
ba, bốn ngàn loài Vạc và các loại chim quý hiếm như Bồ Nông, Mòng Két, Le Le cùng trú ngụ ở nơi
đây. Đến đây vào lúc hoàng hôn hay sớm mai là lúc
“ giao ca ” thú vị giữa cò và vạc trong cuộc sống mưu sinh hàng ngày.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status