Đề tài: Hiện trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam hiện nay potx - Pdf 15

Đề tài : Hiện trạng dinh dưỡng
của trẻ em Việt Nam hiện nay
*Mục lục
Dinh dưỡng cho trẻ em
1. Đặc điểm cơ thể trẻ em
2. Nhu cầu dinh dưỡng trẻ em
- Nhu cầu năng lượng
- Nhu cầu Protein
- Nhu cầu Lipid
- Nhu cầu Gluxit
- Nhu cầu chất khoáng
- Nhu cầu vitamin
3. Lựa chọn thức ăn và chế độ ăn cho trẻ em
- Lựa chọn thức ăn
- Chế độ ăn của trẻ
- Thực trạng suy dinh dưỡng và béo phì ở trẻ em Việt
Nam hiện nay
Không chỉ đối với người lớn mà trẻ nhỏ cũng rất cần được cung
cấp một chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý với 4 nhóm thực phẩm
chính: chất đường bột; béo; đạm; vitamin và khoáng chất. Nhóm
chất bột đường (bột, cháo, cơm…) là nguồn cung cấp năng lượng
chính trong khẩu phần hàng ngày của bé. Chất đạm (thịt, cá,
đậu…) với chức năng chính là tạo hình như giúp cơ thể bé xây
dựng cơ bắp, tạo kháng thể, đặc biệt là sự phát triển tế bào não và
cung cấp một phần nhỏ năng lượng (14-15%). Chất béo vừa cung
cấp năng lượng, tăng khả năng ngon miệng lại giúp trẻ hấp thu tốt
các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K. Vitamin và
khoáng chất đóng vai trò rất quan trọng với việc phát triển, tăng
trưởng, điều hòa các chuyển hóa trong cơ thể của trẻ cũng như
tăng cường sức đề kháng phòng chống bệnh tật. Việc thiếu hụt một
trong các chất này sẽ dẫn tới tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng,

3. Thực quản:
Thực quản trẻ sơ sinh có hình chóp nón, người lớn có hình trụ. Vách
thực quản trẻ em mỏng, cơ chun, tổ chức đàn hồi chưa phát triển. Các tuyến
ít nhưng có nhiều mạch máu. Đường kính ống thực quản trẻ em:
Dưới 2 tháng: 0,9 cm.
2 - 6 tháng: 0,9 - 1,2 cm.
9 - 18 tháng: 1,2 - 1,5 cm.
2 - 6 tuổi: 1,3 - 1,7 cm.
Chiều dài ống thực quản (X) được tính từ răng đến tâm vị theo công thức:
X = 1/5 chiều cao cơ thể + 6,3 cm.
4. Dạ dày:
4.1. Đặc điểm giải phẫu và tổ chức học:
- Đặc điểm giải phẫu: Dạ dày của trẻ sơ sinh thường nằm ngang và tương
đối cao, đến lúc biết đi mới theo tư thế đứng dọc. Hình thể dạ dày có
hìnhtròn khi mới sinh, đến 1 tuổi có hình thuôn dài, đến 7 - 11 tuổi có hình
thể như người lớn. Tuy nhiên còn tùy thuộc vào sự phát triển của lớp cơ dạ
dày và tính chất thức ăn.
- Dung tích dạ dày: Sơ sinh: 30 - 35 ml; 3 tháng: 100 ml; 1 tuổi: 250 ml.
- Tổ chức học: Lớp cơ phát triển yếu nhất là cơ thắt tâm vị, còn cơ thắt môn
vị phát triển tốt và đóng rất chặt. Do đó trẻ có hiện tượng bị nôn trớ sau khi
ăn.
4.2. Cử động của dạ dày:
Cử động dạ dày là các sóng nhu động đi từ tâm vị đến môn vị và những
co bóp đóng mở môn vị và tâm vị. Những rối loạn về cử động dạ dày là tăng
hoặc giảm trương lực. Ở trẻ sơ sinh, hay gặp thể co thắt môn vị, gây nôn rất
nhiều.
4.3. Chức phận bài tiết của dạ dày:
Độ toan dịch vị trẻ em từ 5,8 - 3,8; ngày càng tăng lên theo tuổi. Ở trẻ
lớn, pH gần bằng người lớn (1,5 - 2).
Thành phần dịch vị trẻ em như người lớn nhưng hoạt tính kém hơn, các men

có tác dụng tốt đối với trực khuẩn bifidus và ức chế vi khuẩn E.coli. Trẻ ăn
nhân tạo thì vi khuẩn E. Coli có nhiều do trong sữa bò có loại đường lactose
thích hợp cho vi khuẩn E. Coli phát triển. Tác dụng tích cực của vi khuẩn là
làm thành hàng rào ngăn các vi khuẩn gây bệnh xâm nhập, làm tăng quá
trình tiêu hóa chất đạm, mỡ, đường, tham gia vào sự tổng hợp vitamin nhóm
B, vitamin K. - Khi khuẩn chí đường ruột bị rối loạn có thể làm tăng các sản
phẩm độc, ức chế hoạt động của các men tiêu hoá. Những yếu tố ảnh hưởng
xấu đến khuẩn chí đường ruột là tình trạng suy dinh dưỡng, sử dụng kháng
sinh phổ rộng bừa bãi.
6. Tụy:
Ngay từ mới sinh, chức phận tụy tương đối đã phát triển và hoạt động.
Dịch tụy được bài tiết ngay sau khi ăn. Các men của tuỵ gồm Trypsin,
Lipaza, Amylaza, Maltaza; tác dụng của các men này cũng như ở người lớn.
Tuỵ có 2 chức phận: nội tiết sản xuất ra Insulin; ngoại tiết sản xuất ra các
men tuỵ đổ vào tá tràng.
7. Gan:
- Gan của trẻ em tương đối lớn. Ở trẻ sơ sinh nó chiếm 4,4% trọng lượng
cơ thể, người lớn chỉ chiếm 2,4%. Ở trẻ sơ sinh, thùy gan tráito hơn thùy gan
phải, sau đó gan phải phát triển rất nhanh và to hơn. Hình chiếu của gan trên
thành bụng khác với người lớn, giới hạn trên theo đường vú phải ở gian
sườn V và VI, giới hạn dưới:
Dưới mũi ức Dưới bờ sườn phải
Trẻ sơ sinh 3 - 4 cm 2,5 - 3cm
1 - 2 tuổi 3 - 4 cm 2 cm
3 - 7 tuổi 2 - 3 cm 1 cm
- Gan đóng vai trò lớn trong việc trao đổi các chất protid, glucid, lipid và
các vitamin.
- Gan tạo và bài tiết mật để kích thích các enzym trong ruột đồng thời để
tiêu hóa mỡ.
- Gan là bộ phận sinh ra tế bào máu trong thời kỳ bào thai. Sau sinh nếu

+ Taurine còn tham gia trong việc phòng ngừa bất thường của võng mạc mắt
và kết hợp với a xít mật để tiêu hóa chất béo
Sữa mẹ - nguồn dinh dưỡng tuyệt vời
Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng và tăng sức đề kháng cho trẻ, tiếp tục
phòng bệnh và giúp trẻ nhỏ phát triển đến 2 năm tuổi.
Sữa mẹ là thức ăn hoàn hảo nhất (phần lớn được hấp thu vào cơ thể, ít chất
bã thải ra ngoài). Có trẻ bú mẹ, không đi tiêu trong một vài ngày, nhưng
không phải là táo bón (vì phân không cứng mà vẫn mềm, tự có khi trẻ phải
rặn), điều đó là bình thường ở trẻ bú sữa mẹ.
Sữa mẹ còn là vũ khí chống béo phì cho trẻ trong tương lai. Theo công
bốcủa các nhà khoa học Ðức và Hoa Kỳ cho biết: nếu bé mới sinh được bú
sữa mẹ liên tục từ 3 đến 5 tháng thì giảm được 1/3 nguy cơ mắc chứng béo
phì vào lứa tuổi từ 5 đến 6 so với các bé sau sinh chỉ được nuôi "chay" bằng
sữa nhân tạo. Ngoài ra, nếu nuôi bé bằng sữa mẹ cho tới 6-12 tháng tuổi thì
chỉ có 43% trẻ em bị mắc chứng béo phì
Với đặc trưng riêng, sữa mẹ luôn luôn ở trong điều kiện hoàn hảo nhất cho
bé, ngay cả khi người mẹ bị bệnh, hay lúc mang thai, khi có kinh hoặc cơ thể
thiếu dinh dưỡng.
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất bởi nó hoàn chỉnh nhất, dễ hấp thu nhất và thích
hợp nhất đối với trẻ sơ sinh cho đến khi ăn bổ sung (tới khoảng 4-6 tháng
tuổi). Không một loại sữa động vật nào sánh được, không một loại thực
phẩm nào có thể thay thế được sữa mẹ
Nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ từ 1 - 3 tuổi
Khi bé sau 1 tuổi, lượng sữa bú mẹ hay bú bình đều đã giảm. Giai đoạn ăn
dặm đã qua và bé đã có thể ăn các loại thức ăn cứng. Điều quan trọng lúc
này là một chế độ ăn đa dạng, đáp ứng nhu cầu cho cơ thể bé.
Giai đoạn bé từ 1 – 3 tuổi, đây chính là thời điểm để chuyển từ các thức ăn
dành riêng cho bé sang các thức ăn chung của cả gia đình. Sau 1 tuổi, lượng
sữa bú mẹ đã giảm. Điều quan trọng lúc này là bé cần có một chế độ ăn đa
dạng, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, đáp ứng nhu cầu cơ thể. Tuy nhiên, đây

có 8 loại acid amin phải lấy từ đồ ăn hay còn gọi là acid amin bắt buộc. Còn
các acid amin khác được sản sinh từ trong cơ thể con người, nói một cách
tương đối, nó không quan trọng bằng các acid amin bắt buộc.
Đồ ăn chứa protein được chia làm 2 loại:
Đồ ăn có chứa nhiều protein: Hàm lượng acid amin ở các đồ ăn này cao
nhất, tỉ lệ trong các đồ ăn cũng rất phù hợp với nhu cầu của cơ thể như:
thịt, cá, các loại sữa…
Đồ ăn có chứa một phần protein: Những đồ ăn này thiếu acid amin hoặc có
một lượng rất thấp, tỉ lệ không phù hợp với cơ thể con người. Đó là các đồ
ăn được chế biến chủ yếu từ thực vật như: các loại ngũ cốc, các loại đỗ, các
loại rau
Những đồ ăn có chứa hàm lượng protein cao (hay còn gọi là protein động
vật) có lượng acid amin cần thiết, nó có giá trị "dinh dưỡng" tương đối cao,
vì thế trong các bữa ăn cần phải cung cấp đầy đủ.
Lứa tuổi nhi đồng đang độ tuổi phát triển nhanh chóng về thể chất và trí tuệ
nên lượng prôtêin cần thiết về thể chất và trí tuệ so với người trưởng thành là
rất cao. Trẻ ở tuổi 3 - 6 phải cần một lượng protein từ 25 - 30g một ngày.
Trong đó, protein từ thịt, trứng, sữa, cá, các loại đỗ phải chiếm 50%.
Nếu chất lượng protein được cung cấp không tốt, hoặc số lượng không đầy
sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển trí thông minh của trẻ. Thậm chí, nó còn làm
giảm khả năng miễn dịch, chống lại bệnh tật của trẻ, gián tiếp làm giảm sự
phát triển của trí não. Nhưng trong thời gian dài nếu cung cấp lượng prôtein
thừa sẽ có hại đối với sức khỏe và dẫn đến không thể tiêu thụ hết.
Đường
Các loại đường chủ yếu là cung cấp nhiệt năng cho cơ thể. Trẻ 3 - 6 tuổi mỗi
ngày cần 15g đường. Đường có trong các loại thức ăn như: ngũ cốc, sữa, hoa
quả, các loại đỗ, rau.
Các vitamin
Vitamin A cần cho sự tăng trưởng, bảo vệ da, niêm mạc, tăng cường đề
kháng của cơ thể, chống các bệnh viêm nhiễm khuẩn, bảo vệ mắt, chống

rối loạn giấc ngủ, chậm phát triển về chiều cao. Kẽm có nhiều trong các loại
thức ăn động vật như thịt, cá, các loại nhuyễn thể như trai, hến, sò huyết.
Các loại ngũ cốc, rau quả cũng chứa nhiều kẽm nhưng giá trị sinh học thấp
hơn.
Ngoài các chất dinh dưỡng đã nêu ở trên, cơ thể trẻ còn cần các chất xơ giúp
đưa nhanh chất thải ra khỏi đường tiêu hóa, phòng chống táo bón. Chất này
có nhiều trong rau xanh và quả chín.
Nước
Tất cả mọi hoạt động sinh lý của cơ thể đều cần nước. Con người sống được
chủ yếu dựa vào thức ăn và nước uống. Lượng nước rất nhỏ được sản sinh ra
từ trong cơ thể. Lượng nước cần thiết của trẻ ở lứa tuổi này mỗi ngày cần
uống 1 - 1,2 lít nước. Nên uống nước đun sôi để nguội, nước quả, nước rau
luộc… không nên dùng các loại nước ngọt có ga.
Vào mùa hè, hoặc sau những lần vận động liên tục thì lượng nước cần thiết
lại càng cao. Khi đó cần phải chú ý cung cấp kịp thời nước cho trẻ tránh để
việc thiếu nước xảy ra. Nhưng nếu uống nhiều nước quá cũng sẽ có hại cho
sức khỏe của trẻ.
Dinh dưỡng cho trẻ tuổi đến trường
Làm thế nào để trẻ khỏe mạnh là điều các bậc cha mẹ luôn quan tâm, nhất là
khi năm học mới vừa bắt đầu. Chế độ ăn uống lành mạnh sẽ là điều kiện
giúp trẻ thành công trong học tập.
Dưới đây là những nguyên tắc cơ bản và những thực phẩm tốt để xây dựng
một chế độ ăn lành mạnh cho trẻ:
Đồ ăn cho trẻ cần phải cân bằng.
Cha mẹ cần phải biết kết hợp các loại thực phẩm khác nhau để đảm bảo sức
khỏe cho trẻ.
Trong bữa ăn nên có các loại thực phẩm chứa protit, chất béo, carbohydrat,
các loại axit amin, vitamin, một số axit béo, khoáng chất và vi chất. Những
thành phần này rất cần thiết cho sự phát triển toàn diện cơ thể trẻ. Sự kết hợp
giữ protit, mỡ và carbohydrates cần tuân theo tỷ lện 1:1:4.

em 9 tháng tuổi là phô mai, sữa, các loại rau, đậu; với trẻ em một tuổi là
lòng trắng trứng, cá, cà chua, các trái cây như chanh, quýt, cam, bưởi, dâu
tây
Trong các loại thực phẩm thì sô-cô-la, hải sản, mật ong, đậu phộng và các
loại sản phẩm làm từ đậu phộng cần phải đợi cho trẻ em đủ lớn rồi mới cho
ăn vì đây là những loại thực phẩm có thể dẫn tới những phản ứng dị ứng
nghiêm trọng. Nếu bệnh sử gia đình có người dị ứng với các loại thực phẩm
này thì càng nên thận trọng.
3.Lưu ý hàm lượng nitrate
Các nitrate trong thực phẩm có thể bị chuyển thành nitric nếu điều kiện
bảo quản, vận chuyển, phân phối không thích hợp. Những thực phẩm “tai
tiếng” nhất của dạng này bao gồm củ dền, cà rốt, rau dền tây, một số loại rau
cải xanh và những thực phẩm được chế biến với nguồn nước nhiều nitrat.
Nitric trong thực phẩm sẽ tranh giành với ôxy có trong máu làm cho da trẻ
em xanh tái, nếu không cứu chữa kịp thời có thể tử vong.

Thực phẩm để quá lâu cũng sẽ làm gia tăng hàm lượng nitric. Để bảo vệ trẻ
nhỏ, cần bảo đảm nguồn nước dùng chế biến thức ăn không có quá nhiều
nitrate. Cũng không nên dùng nước luộc rau củ để pha bột, pha sữa cho trẻ.
Không nên giữ thực phẩm quá lâu. Những loại thực phẩm trẻ em được đông
đá bán từ siêu thị, sau khi mở nắp để sử dụng thì phải để vào ngăn lạnh và
không được để thêm quá 24 giờ. Đối với những thực phẩm được chế biến tại
nhà cần phải cho trẻ ăn ngay và không nên giữ quá 12 giờ.
Trẻ dưới một tuổi không dùng mật ong
Riêng mật ong tuyệt đối không bao giờ cho trẻ em
dưới một tuổi dùng vì sẽ dễ bị ngộ độc Clostridium
botulinum. Trước một tuổi, bộ máy tiêu hóa của trẻ
em chưa đủ trưởng thành để ức chế sự tăng
trưởng của vi khuẩn Clostridium botulinum.
Không riêng mật ong nguyên chất mà tất cả các

Hà Lan cung cấp protein và vitamin B, đậu xanh cung cấp kali…
Thịt bò
Thịt bò là một nguồn giàu chất sắt, protein và kẽm. Nhưng nên chọn thịt
bò nạc để giữ mức tiêu thụ chất béo ít nhất.
Kiwi
Kiwi giàu vitamin C hơn cam, giàu chất chống oxy hóa bảo vệ cơ thể
khỏi bệnh tật.
Nước cam
Trong tất cả các loại nước tự nhiên, nước cam là bổ dưỡng nhất. Nó chứa
rất nhiều vitamin C và kali. Cung cấp canxi tăng cường tốt nhất cho những
đứa trẻ không muốn uống sữa.
Sữa chua
Sữa chua cung cấp khoảng 250-450 mg canxi. Hãy chọn sữa chua ít chất béo
là tốt hơn cả. Những vi khuẩn có lợi trong sữa chua tăng cường sức
khỏe đường ruột của trẻ
B. CHẾ ĐỘ ĂN CHO TRẺ
1- Giai đoạn từ 0-6 tháng tuổi
- Nếu trẻ bú mẹ thì nên cho bú theo nhu cầu, không cần chia số bữa theo giờ
nhất định. Nên nuôi trẻ hoàn toàn bằng sữa mẹ đến hết 4 tháng tuổi. Từ 5
tháng tuổi trở đi vẫn cho bú mẹ nhưng có thể tập cho trẻ cho ăn thêm theo
hướng dẫn ở mục dưới đây.
- Nếu nuôi trẻ bằng cách xen kẽ sữa bò và sữa mẹ thì số lượng ăn tính phức
tạp hơn. Thường thì các bữa trẻ bú mẹ nên cho bé bú đủ no theo nhu cầu.
Những bữa nuôi bằng sữa bò thì số lượng được tính theo công thức như khi
nuôi trẻ hoàn toàn bằng sữa bò.
- Nếu nuôi trẻ hoàn toàn bằng sữa bò thì số bữa và số lượng ăn của mỗi bữa
có thể được tính như sau :
* Trẻ mới đẻ đến đầy tháng tuổi : cho trẻ ăn từ 6-7 bữa sữa dành cho trẻ sơ
sinh.
+ Ngày đầu tiên và ngày thứ hai cho trẻ ăn chừng 10 ml một bữa.

ngu giac buoi chieu
+ Bữa lót dạ chiều lúc ngủ dậy : hoa quả nghiền cộng sữa chua nếu bữa
trưa trẻ chưa ăn.
+ Bữa chiều tối : bột sữa
+ Bữa tối : sữa bò hoặc bú mẹ.
Bắt đầu từ tháng này, cha mẹ cũng có thể bắt đầu tập cho trẻ ăn thêm pho
mai loại hộp tuơi.
***Những điểm cần lưu ý :
- Các bữa ăn sữa hoặc bột nên cách nhau chừng 3 giờ trở lên.
- Số lượng của từng bữa ăn nếu ra ở đây chỉ mang tính chất tương đối, cha
mẹ nên áp dụng một cách mềm mại và linh họat với con mình.
- Bắt đầu từ 4 tháng tuổi nên tập cho trẻ uống nước quả như cam, quýt, táo.
Tập cho trẻ ăn thêm hoa quả, các lọai hoa quả trẻ có thể ăn được trong giai
đoạn này là : chuối (tốt hơn cả là chuối tây), na, nhãn hoặc táo nhừ xay mịn.
- Bắt đầu từ 5 tháng tuổi nên bắt đầu tập cho bé quen với chất bột. Tác
dụng của chất bộ là làm giảm sự vón cục gây khó tiêu của sữa. Ban đầu
thường bắt đầu bằng bột ngọt ăn liền pha vào sữa, hoặc vài thìa bột trước khi
uống sữa, hoặc nước cháo pha sữa, hoặc rau nghiền pha sữa (xin xem thêm
phần chế biến một số loại thức ăn).
- Bắt đầu từ tháng thứ 5-6 có thể tập cho trẻ làm quen với sữa chua, có thể
cho trẻ uống sữa đậu nành, có thể cho vào bột các loại đậu đỗ khô, ninh nhừ
xay mịn hoặc chắt lấy nước pha sữa.
- Lưu ý là khi muốn tập cho trẻ một loại thức ăn mới thì nên bắt đầu vào lúc
trẻ khỏe mạnh, tập dần tý một, theo dõi sự tiêu hóa của trẻ, nếu thấy tốt thì
có thể tăng dần, nếu thấy trẻ tiêu hóa chưa tốt (ví dụ trẻ ậm ạch khó chịu,
phân có biểu hiện sống lổn nhổn hoặc mùi rất thối…) thì nên dừng lại vài
ngày rồi tập lại.
- Khi bắt đầu cho trẻ ăn dặm, nên phối hợp một cách cân bằng các loại thức
ăn bám sát theo ô vuông thức ăn (thường được phát khi cho trẻ đi tiêm
phòng cùng với biểu đồ theo dõi cân nặng và chiều cao). Ô vuông thức ăn có

+ Bữa tối trước khi đi ngủ chừng 1 tiếng : Sữa bò hoặc bú mẹ.
* Tháng thứ 8 - 9 : Cho trẻ ăn 5 bữa, số lượng ăn mỗi bữa chừng 180 ml -
220 ml tùy theo nhu cầu của từng trẻ. Việc phân chia bữa ăn có thể làm như
sau :
+ Bữa sáng : bột sữa
+ Sau đó chừng 1 giờ : Nước quả : 40-50 ml.
+ Bữa trưa : Bột gạo với rau củ + 50 gr thịt ninh nhừ nghiền nhỏ. Sau bữa
bột này có thể cho trẻ ăn thêm 1/2 hộp sữa chua (khoảng 30 - 50gr), hoặc
pho mai, hoặc thêm chút hoa quả tráng miệng, lưu ý nếu muốn cho trẻ ăn
thêm sữa chua hoặc hoa quả vào bữa này thì nên giảm số lượng bột đi.
*** Lưu ý, bắt đầu từ tháng thứ 8-9 có thể tập cho trẻ quen dần với chất
tanh và các loại thịt đỏ bằng cách thay thế dần thịt lợn, gà bằng cá, tôm, thịt
bò…Khi bắt đầu thay thế, nên tập hết sức từ từ vì có một số trẻ có thể bị dị
ứng với cá hoặc tôm hoặc cả hai loại. .
+ Bữa lót dạ chiều : hoa quả các loại nghiền.
+ Bữa chiều : Bú mẹ hoặc sữa đậu nành hoặc sữa bò
+ Bữa tối : Xúp rau củ các loại nấu với sữa đậu nành, sữa bò hoặc lạc,
hoặc vừng…
+ Bữa tối trước khi đi ngủ chừng 1 tiếng : Sữa và một hai cái bánh quy
hoặc một miếng bánh mì nhỏ.
* Tháng thứ 10- 12 tháng : Cho trẻ ăn 5 bữa, số lượng ăn mỗi bữa chừng 200
ml - 250 ml tùy theo nhu cầu của từng trẻ. Việc phân chia bữa ăn có thể làm
như sau nên áp dụng như khi trẻ được 9 tháng. Số lượng nước hoa quả và
hoa quả nghiền, sữa chua, pho mai hộp hoặc pho mai miếng có thể tăng
thêm theo nhu cầu của trẻ. Từ lúc này có thể cho trẻ ăn thêm một đến hai
lòng đỏ trứng gà một tuần nấu lẫn với xúp rau củ hoặc ăn riêng.
3- Giai đoạn từ 1 -3 tuổi:
Ở giai đoạn này trẻ thường đã bắt đầu biết ăn theo bữa ăn như người lớn
và có thể tự đưa ra yêu cầu về các món ăn. Có điều nên lưu ý chuẩn bị thêm
thức ăn riêng cho trẻ nếu gia đình có điều kiện ví dụ như thịt vẫn cần ninh

dùng nước ngọt, các loại nước hoa quả đóng chai và bột ngũ cốc có đường,
khoai tây rán hoặc kẹo, vì các thực phẩm này chứa hàm lượng dinh dưỡng
thấp. Bạn cũng nên tránh cho trẻ sử dụng các loại thực phẩm dễ khiến trẻ bị
hóc (nghẹn) như: cà rốt chưa chín nhừ, lạc (đậu phộng), nho nguyên quả,
ngô, kẹo cứng hoặc kẹo cao su, thịt miếng to
Nếu thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý, trẻ sẽ tránh được các bệnh như béo
phì, còi xương và đái tháo đường.
Để con bạn khỏe mạnh, hãy khuyến khích trẻ:
- Ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, làm đa dạng thêm bữa ăn.
- Cân đối giữa chế độ ăn uống và hoạt động thể chất.
- Ăn nhiều các sản phẩm làm từ ngũ cốc, hoa quả và rau.
- Thực hiện chế độ ăn uống chứa đường, muối, chất béo hợp lý.
- Chọn chế độ ăn uống cung cấp đủ canxi và sắt để đáp ứng nhu cầu
tăng trưởng của cơ thể.
Để giúp trẻ thực hiện tốt chế độ dinh dưỡng thì các thói quen ăn uống lành
mạnh và luyện tập thể dục, thể thao nên là những hoạt động không thể thiếu
trong cuộc sống hàng ngày của gia đình. Khi tất cả các thành viên trong gia
đình cùng thực hiện theo chế độ đó, con bạn sẽ dễ dàng tham gia hơn là để
một mình trẻ thực hiện. Bạn cũng nên chuẩn bị các bữa ăn gia đình với hàm
lượng chất béo và năng lượng thấp, các bữa ăn nhẹ có lợi cho sức khỏe, sữa
tách váng, hoặc các đồ uống ít đường. Bạn nên tránh dùng thường xuyên các
món tráng miệng, hoặc bữa ăn nhẹ chứa nhiều năng lượng như khoai tây
chiên, đồ uống có ga hoặc kem.
Chất béo, dầu và đường
Chế dộ dinh dưỡng của trẻ không nên chứa quá 30% chất béo. Và bạn không
nên sử dụng quá thường xuyên chất béo no có chứa trong thịt, các sản phẩm
từ sữa, dầu cọ và dầu dừa. Chất béo no sẽ làm tăng hàm lượng cholestrol
trong máu nhiều hơn là chất béo không no (có chứa trong dầu ô liu, dầu lạc
hoặc các chất béo trong dầu thực vật như: dầu hoa hướng dương, dầu bắp,
dầu đậu nành và các loại dầu khác. Nên sử dụng các chất béo no ít hơn 10%

Ước tính đến năm 2010, nước ta còn gần 1,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi
suy dinh
dưỡng nhẹ cân, khoảng 2,1 triệu trẻ em SDD thấp còi và khoảng
520.000 trẻ em
SDD gầy còm. Phân bố SDD không đồng đều ở các vùng sinh thái
khác nhau.
Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ em dưới 5 tuổi năm 2010 là 4,8%.
Tuy vẫn ở mức
dưới 5% nhưng tỷ lệ này có xu hướng gia tăng. So với năm 2000, tỷ
lệ thừa cân-béo
phì ở trẻ em dưới 5 tuổi hiện nay cao hơn 6 lần.
3. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu máu dinh dưỡng là 29,2%, ở phụ
nữ có thai là 36,5%
và ở phụ nữ tuổi sinh đẻ chung là 28,8%.
4. Thiếu vitamin A ở nước ta hiện nay chủ yếu là thể tiềm lâm sàng
(serum vitamin A
<0,70 mmol/L) với tỷ lệ còn cao (14,2% ở trẻ em và vào khoảng 35%
ở bà mẹ đang
cho con bú).
5. Thiếu Iốt: tỷ lệ bướu cổ học sinh 8-12 tuổi giảm xuống rõ rệt từ
22,4% năm 1993
xuống còn 14,9% năm 1998, 10,2 % năm 2000; giảm xuống 6,1%
vào năm 2003 và
3,6% vào năm 2005. Điều tra năm 2009 cho thấy mức trung vị iốt
niệu toàn quốc là
83 mcg/l trong khi mục tiêu duy trì thanh toán CRLTI (median ≥ 100
mcg/l). Mức
trung vị iốt niệu các khu vực Tp. Hồ Chí Minh, đồng bằng sông Cửu
Long, Miền
Đông Nam Bộ và đồng bằng Bắc Bộ thấp. Tỷ lệ thiếu hụt iốt trung

suy yếu, sức đề kháng với bệnh tật giảm nên rất dễ mắc những bệnh nhiễm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status