Luận văn đề tài:" giải pháp marketing nhằm thu hút khách nội địa tại khu di tích lịch sử Địa Đạo Củ Chi" potx - Pdf 15

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
• Lý do chọn đề tài
Trong thời gian gần đây, tuy tình hình thế giới mà đặc biệt là khu vực Đông
Nam Á có những diễn biến phức tạp nhưng với sự ổn định về chính trị cùng với
chính sách mở cửa ưu đãi của Chính Phủ đã thu hút được rất nhiều nhà đầu tư
trong nước và nước ngoài đầu tư vào du lịch, ngành mà được xem là ngành kinh tế
mũi nhọn, ngành công nghiệp không khói. Du lịch Việt Nam ngày càng phát triển
và đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự tăng trưởng của một nền kinh tế.
Những năm vừa qua, ngành du lịch Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, mang lại
nguồn lợi nhuận không nhỏ cho kinh tế đất nước.
Với sự phát triển như thế, nhiều công ty du lịch đã ra đời và không ngừng
lớn mạnh về số lượng cũng như chất lượng. Song song đó, nhiều địa danh, nhiều
danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử, đã được trùng tu, tôn tạo, nâng cấp để
khai thác phục vụ khách tham quan trên khắp mọi vùng miền của đất nước. Một
trong những điểm đến của du lịch Việt Nam, phải kể đến Khu di tích địa đạo Củ
Chi, Địa đạo Củ Chi đã đi vào lịch sử đấu tranh anh hùng của nhân dân Việt Nam
như một huyền thoại của thế kỷ XX và trở thành một địa danh nổi tiếng trên thế
giới. Địa Đạo Củ Chi ngày nay đã và đang trở thành khu du lịch sinh thái quan
trọng của Thành phố Hố Chí Minh với lượng khách bình quân khoảng 2.000 -4000
khách/ngày bao gồm cả khách nội địa và khách nước ngoài. Ngoài tham quan di
tích địa đạo, du khách còn tham gia nhiều mô hình dịch vụ ở địa đạo như bắn
súng, hồ bơi, câu cá, ăn uống, mua hàng lưu niệm, chụp hình in trên sản phẩm lưu
niệm, khu vui chơi, cắm trại Với nét đặc trưng này sẽ là tiềm năng lớn để khai
thác du lịch, tạo nên lợi thế so sánh với các điểm tham quan di tích khác. Nhưng
làm sao để khách du lịch ngày càng biết đến khu du lịch tiềm năng này? Làm sao
để thu hút số lượng khách tham quan khu di tích này ngày càng đông? Làm sao để
du khách đến với Địa Đạo Củ Chi không những hai lần mà ba lần và hơn nữa?
Nhất là đối với đối tượng là khách nội địa, khi mà trên địa bàn Thành phố có nhiều
khu vui chơi giải trí trong khi Địa Đạo Củ Chi chỉ là một di tích lịch sử. Đó không
những là câu hỏi đặt ra cho Ban Giám Đốc và cả tập thể nhân viên làm việc tại địa
đạo, mà còn với những người quan tâm, và yêu thích khu di tích lịch sử Địa Đạo

bày trong 5 chương:
Chương 1: Mở đầu
Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động Marketing
Chương 3: Thực trạng về hoạt động Marketing nhằm thu hút khách du lịch
tại Địa Đạo Củ Chi
Chương 4: Giải pháp Marketing nhằm thu hút khách nội địa đến Địa Đạo Củ
Chi
Chương 5: Kết luận
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING
2.1. KHÁI QUÁT VỀ MARKETING
2.1.1. Khái niệm Marketing
Marketing là gì là một câu hỏi có rất nhiều câu trả lời nhưng khó có câu trả
lời nào có thể bao quát tất cả các khía cạnh mà marketing đề cập. Rất nhiều người
nghĩ rằng marketing chỉ là bán hàng và quảng cáo, nhưng đến đây chúng ta đều
hiểu rằng chúng chỉ là một phần bề nổi của tảng băng trôi và chúng ta sẽ nhận thức
rõ điều này khi đi sâu vào nghiên cứu các nội dung của marketing.
Ngày nay, hầu hết các trường phái nghiên cứu về marketing đều thống nhất
ở quan điểm marketing là thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Thật vậy, nếu trước đây
người ta cho rằng marketing là làm sao quảng cáo tốt để bán được hàng thì ngày
nay điều mà các nhà làm marketing quan tâm là làm thế nào để hiểu rõ khách
hàng, hiểu rõ nhu cầu của họ, từ đó phát triển những sản phẩm mang lại cho khách
hàng những giá trị vượt trội với mức giá hợp lý, phân phối và cổ động một cách
hiệu quả thì việc bán những sản phẩm đó không có vấn đề gì khó khăn. Do vậy, rõ
ràng là bán hàng và quảng cáo chỉ là một phần của phối thức marketing rộng lớn,
một tập hợp các công cụ phối hợp với nhau nhằm ảnh hưởng thị trường.
Chúng ta định nghĩa marketing là “một tiến trình xã hội và quản lý theo đó
các cá nhân và các nhóm có được cái mà họ mong muốn thông qua việc tạo ra,
trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác”.
2.1.2. Các mục tiêu của Marketing

marketing. Môi trường marketing gồm có môi trường vĩ mô và môi trường vi mô,
môi trường bên trong và môi trường bên ngoài công ty.
• Môi trường vĩ mô bao gồm các môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội, dân số,
chính trị luật pháp, công nghệ, thiên nhiên.
• Môi trường vi mô gồm có người tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh, các tổ chức
marketing trung gian như phân phối, quảng cáo, nghiên cứu thị trường.
• Môi trường bên trong công ty tạo nên điểm yếu hay điểm mạnh của công
ty.
Bước 2: Xác định mục tiêu và thiết kế các chiến lược marketing
Chiến lược marketing bao gồm chiến lược chọn thị trường mục tiêu
(marketing targeting). Tạo vị trí sản phẩm trên thị trường mục tiêu, các chiến lược
marketing cạnh tranh và phát triển và chiến lược marketing hỗn hợp (marketing
mix).
Bước 3: Hoạch định chương trình marketing
Chương trình marketing bao gồm các quyết định: Làm cái gì? Khi nào làm?
Ai sẽ làm? Và chi phí bao nhiêu? Như vậy chương trình marketing cụ thể hóa các
công việc cụ thể thực hiện như các quyết định nghiên cứu thị trường, về sản phẩm,
giá cả, chiêu thị, phân phối…
Bước 4: Triển khai marketing Mix
Bước 5: Thực hiện chiến lược marketing
Bước 6: Kiểm tra hoạt động marketing
2.2. Vai trò và vị trí của Marketing trong doanh nghiệp
Qua nghiên cứu và phân tích lịch sử phát triển của marketing các nhà kinh tế
khẳng định marketing ra đời trước hết chính là để nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho
hoạt động thương mại, tiêu thụ sản phẩm, giải quyết những khó khăn rủi ro mà
doanh nghiệp phải đối mặt cũng như xác định được cơ hội của doanh nghiệp, từ
đó giúp doanh nghiệp đưa ra giải pháp kinh doanh có hiệu quả nhất.
Marketing còn có chức năng hết sức quan trọng đó là chức năng kết nối mọi
hoạt động của doanh nghiệp với thị trường. Marketing hướng các nhà quản trị vào
việc trả lời hai câu hỏi:

thoả mãn du khách và cố gắng đáp ứng nó. Theo phương pháp này, nhu cầu của
khách hàng được đặt lên vị trí hàng đầu và là căn cứ chủ yếu xây dựng chính sách
kinh doanh. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh du lịch, nhu cầu của du khách rất
phong phú và đa dạng luôn thay đổi theo mùa, theo lứa tuổi, lối sống và khả năng
thu nhập. Do đó, chính sách Marketing cũng thay đổi theo nhu cầu trên, dẫn đến
hoạt động kinh doanh sẽ đem lại kết quả cao và dịch vụ sản xuất ra đáp ứng được
tối đa nhu cầu khách hàng khi chính sách Marketing điều tra nghiên cứu đáp ứng
được sự mong muốn của du khách. Tuy vậy, nó cũng còn bộc lộ một số nhược
điểm như sau: Nếu chỉ chú ý tới khách hàng mà không quan tâm đến các yếu tố
khác như tài nguyên thiên nhiên, nền văn hoá của các địa phương, đặc điểm phân
bố dân cư,…thì chắc chắn sẽ dẫn tới thất bại và kéo theo những hậu quả nhiêm
trọng về môi trường, văn hoá, phong tục, tập quán,…Và để khắc phục những
nhược điểm này thì phương pháp tiếp cận theo hướng xã hội ra đời.
2.3.3. Marketing theo hướng xã hội.
Đây là phương pháp kết hợp được những ưu điểm của cả hai phương hướng
trên. Nó vừa quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng của khách, vừa quan tâm đến tài
nguyên thiên nhiên, nguồn thực phẩm, văn hoá, tập tục dân cư mà lại không quên
lợi ích kinh tế. Nói tóm lại đây là một phương hướng Marketing hiện đại có đầy đủ
những ưu điểm tuyệt vời nhất và hạn chế được các nhược điểm một cách hiệu quả
nhất. Nó vừa chú trọng thoả mãn nhu cầu của khách hàng lại vừa chú trọng phát
triển, bảo vệ và giữ gìn di sản của đất nước. Tất cả phương hướng trên tạo bước cơ
sở cho các doanh nghiệp du lịch thiết lập nên chính sách Marketing để từ đó tận
dụng được tối đa khả năng nội lực của mình, kết hợp với các lợi thế từ bên ngoài
sao cho hiệu quả sản xuất kinh doanh đạt được là cao nhất, đồng thời phù hợp và
đáp ứng được tối đa nhu cầu của khách hàng mong muốn.
2.4. Các chiến lược marketing tiếp cận với thị trường mục tiêu.
2.4.1. Chính sách sản phẩm.
Sản phẩm được hiểu là tất cả mọi hàng hoá và dịch vụ có thể đem ra chào
bán và có khả năng thoả mãn một nhu cầu hay mong muốn của con người, gây sự
chú ý, kích thích sự mua sắm và tiêu dùng của họ. Sản phẩm du lịch vừa là mặt

Tính đồng nhất của nó phản ánh mức độ gần gũi, hài hoà của hàng hoá thuộc các
nhóm chủng loại khác nhau xét theo góc độ mục đích sử dụng cuối cùng hoặc
những yêu cầu về tổ chức sản xuất, các kênh phân phối hay một tiêu chuẩn nào đó.
2.4.2. Chính sách giá
Giá cả mang nhiều tên gọi khác nhau. Đằng sau của những tên gọi đó, các
hiện tượng giá cả luôn mang một ý nghĩa chung là: lợi ích kinh tế được xác định
bằng tiền. Trong các công cụ Marketing- mix chỉ có biến số giá cả là trực tiếp tạo
doanh thu và lợi nhuận thực tế. Còn đối với người mua, giá cả là phải bỏ ra để sở
hữu và tiêu dùng hàng hóa. Vì vậy những quyết định về giá luôn luôn giữ vai trò
quan trọng và phức tạp nhất mà một doanh nghiệp phải đối mặt khi soạn thảo các
hoạt động Marketing của mình.
Chiến lược giá cả là việc xác định mục tiêu của chiến lược giá, lựa chọn
phương pháp định giá, các chiến lược giá của công ty. Trong kinh doanh sản phẩm
hàng hoá thì chính sách giá khác với dịch vụ:
Chính sách giá của dịch vụ để làm tăng bằng chứng vật chất để khách hàng
cảm nhận được chất lượng dịch vụ mà mình mua để từ đó có thể tôn tạo được hình
ảnh của dịch vụ. Nếu sản phẩm chất lượng tốt thì giá phải đặt cao để tôn vinh hình
ảnh của chúng ta. Nếu giá không đúng thì việc truyền thông sẽ có tác dụng ngược
lại. Giá ảnh hưởng đến tất cả các phần của kênh phân phối, những người bán,
người cung cấp, đối thủ cạnh tranh, khách hàng,…tất cả đều chịu tác động của
chính sách giá. Định giá hợp lý sẽ tạo dựng một kênh phân phối hoạt động tốt,
định nhãn thương hiệu cho các dịch vụ cũng có thể cho phép chúng ta thực hiện
chính sách giá cao. Đối với hàng hoá bình thường thì định giá dựa trên chi phí,
còn đối với hàng hoá dịch vụ thì định giá dựa trên giá trị cảm nhận của khách
hàng, dựa vào tình hình cạnh tranh còn chi phí chỉ là nền của giá. Trong dịch vụ
giá bao gồm giá trọn gói toàn phần hoặc giá từng phần.
Đối với mỗi doanh nghiệp thì việc định giá cho sản phẩm dịch vụ của mình
đều phải phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp. Mục tiêu định giá phải xuất phát
từ mục tiêu của doanh nghiệp và chất lượng định vị sản phẩm mà công ty đã lựa
chọn. - Trong điều kiện thị trường đầy rẫy những bất lợi thì mục tiêu định giá có

- Căn cứ vào sự tiếp xúc giữa doanh nghiệp và khách hàng tiêu dùng cuối
cùng thì chính sách sản phẩm chia làm 2 loại:
+ Chính sách phân phối trực tiếp.
+ Chính sách phân phối gián tiếp.
- Căn cứ vào mối quan hệ giao dịch giữa người sản xuất và người mua hàng
dẫn đến chính sách phân phối được chia làm hai loại:
+ Chính sách phân phối tìm đến khách hàng.
+ Chính sách phân phối khách hàng tìm đến.
- Căn cứ vào hình thức bán hàng:
+ Chính sách phân phối theo hình thức bán lẻ.
+ Chính sách theo hình thức bán buôn.
- Căn cứ vào mối quan hệ giữa người sản xuất với người tiêu dùng:
+ Chính sách phân phối độc lập.
+ Chính sách phân phối dọc.
+ Chính sách phân phối ngang.
Trong kinh doanh du lịch có 2 loại kênh phân phối chính là:
+ Kênh phân phối trực tiếp:
Người sản xuất → Người tiêu dùng.
+ Kênh phân phối gián tiếp.
Người sản xuất → các trung gian → người tiêu dùng.
Ngoài ra các doanh nghiệp còn có thể bán hàng qua catalog, qua thư, điện
thoại, fax, qua mạng internet,…
2.4.4. Chính sách xúc tiến
Cầu sản phẩm dịch vụ bao giờ cũng mang tính thời vụ và thất thường.
Thông thường khi mua sản phẩm dịch vụ nói chung khách hàng rất cần các lời
khuyên của các chuyên gia nhất là của các đại lý du lịch. Do vậy xúc tiến không
những cho các kênh phân phối mà còn phải xúc tiên cho báo chí, công luận, khách
hàng,… Xúc tiến không chỉ có quảng cáo mà phải thông qua các kênh thương mại,
kênh xã hội, kênh sản xuất,… Nhưng chỉ biết rằng kênh truyền thông kênh con
người là rất hiệu quả. Cầu về sản phẩm du lịch rất nhạy bén về giá cả và biến động

- Quảng cáo hướng về chiêu hiệu (định vị) dùng nhiều câu chiêu hiệu, định
vị độc đáo để thu hút khách hàng.
- Quảng cáo hướng về hình tượng: nhấn mạnh chất lượng của cơ sở như
khung cảnh thanh lịch, nơi bản sắc độc đáo.
2.4.5. Chính sách con người
Lữ hành và khách sạn là một ngành liên quan đến con người. Đó là công
việc của con người (nhân viên) cung cấp dich vụ cho con người (khách hàng).
Những người này lại chia sẻ dịch vụ với những người khác (những khách hàng
khác). Sản phẩm du lịch khách sạn với đặc điểm sản xuất cũng là sản phẩm thuộc
loại hình dịch vụ. Do vậy thời điểm tiêu thụ là sản phẩm sản xuất ra ở đâu thì tiêu
thụ ngay tại đó nên yếu tố con người là không thể tách rời và có ý nghĩa vô cùng
quan trọng, nó quyết định sự thành công của sản phẩm, uy tín của sản phẩm, mức
độ thoả mãn của sản phẩm đối với khách hàng hay nói cách khác nó quyết định lợi
nhuận của doanh nghiệp. Với tầm quan trọng như vậy chính sách con người hôm
nay là một trong những yếu tố luôn được các doanh nghiệp đầu tư và phát triển.
Nhân viên tiếp xúc được xã hội công nhận và coi là yếu tố hàng đầu trong sự
thành công của sản phẩm du lịch. Vì vậy Marketing – mix cần giải quyết được hài
hoà 2 vấn đề cơ bản.
+ Đào tạo huấn luyện nhân sự.
+ Quản lý, điều hành nhân viên.
Nhiệm vụ kế theo của chính sách con người là phải giải quyết được vấn đề.
+ Với chi phí thấp và hợp lý nhất để công tác đào tạo đạt được hiệu quả
cao và năng suất khách sạn của nhân viên được phát huy tối đa.
+ Quản lý kiểm soát được chất lượng phục vụ, chất lượng công việc của
nhân viên sao cho nó đảm bảo tính ổn định và có chất lượng cao trong lao động.
Bởi đây là các yếu tố quyết định lợi nhuận và vị thế của doanh nghiệp trên thị
trường kinh doanh du lịch.
Tuy nhiên việc đào tạo phải được diễn ra thường xuyên liên tục phù hợp với
sự phát triển của thị trường và xã hội.
2.5. Tìm hiểu chung về các doanh nghiệp kinh doanh du lịch

nỗ lực vượt qua khó khăn, huy động hiệu quả các nguồn lực để thực hiện thắng lợi
những mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra.
Năm 2011 ngành Du lịch đã thu hút 6 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 30
triệu lượt khách nội địa, thu nhập từ du lịch đạt 130 ngàn tỉ đồng với tỉ lệ tăng
trưởng tương ứng so với năm 2010 là 19%, 7,14% và 30%. Hoạt động du lịch đã
trở thành một trong những điểm sáng về kinh tế trong bối cảnh đất nước có nhiều
khó khăn thách thức.
Năm Du lịch quốc gia 2011 tại các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ - Phú Yên
với chủ đề “Du lịch biển đảo” diễn ra trong suốt cả năm 2011 với sự liên kết 8 tỉnh
duyên hải Nam Trung Bộ đã tạo ra điểm nhấn trong hoạt động du lịch; Phối hợp
với các đơn vị của Bộ hoàn thành xuất sắc việc tuyên truyền, vận động bầu chọn
Vịnh Hạ Long là kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới. Việc vịnh Hạ Long là một
trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới đã mang lại cơ hội to lớn để quảng bá
cho ngành Du lịch Việt Nam.
Ngành Du lịch tập trung nghiên cứu, xây dựng và trình các đề án lớn cho giai
đoạn 2011-2020, đặc biệt đã hoàn thiện Chiến lược và Quy hoạch phát triển Du
lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 báo cáo Bộ trưởng trình Chính phủ
phê duyệt. Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Du lịch cũng như các văn bản quy
phạm pháp luật về du lịch khác (Nghị định 92, Thông tư về khu, điểm du lịch. . .)
cũng đang được triển khai một cách tích cực.
Các hoạt động quảng bá, xúc tiến trong nước và nước ngoài đã triển khai đã
mang lại hiệu quả tích cực: Các Roadshow, các sự kiện văn hóa và hội chợ du lịch
quốc tế tại Đức, Nga, Ucraina, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Trung Quốc, các nước
Đông Nam Á,… cùng với hoạt động quảng bá Du lịch Việt Nam trên một số kênh
truyền hình, báo chí của nước ngoài đã góp phần đạt được tỉ lệ tăng trưởng khách
du lịch quốc tế gần 20% trong năm 2011.
Các địa phương trong cả nước, nhất là các tỉnh du lịch trọng điểm đã tập
trung đầu tư cơ sở hạ tầng, tháo gỡ các cơ chế, chính sách để thu hút vốn đầu tư
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, phát triển sản phẩm du lịch mới,
kiểm soát và nâng cao chất lượng dịch vụ, đầu tư đào tạo nguồn nhân lực du lịch

phải nỗ lực vượt qua như: Kinh tế thế giới chưa thoát khỏi suy thoái, nợ công và
lạm phát diễn ra ở nhiều quốc gia, cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng gay gắt,
sản phẩm du lịch Việt Nam còn nghèo nàn, chất lượng sản phẩm du lịch thấp, môi
trường, an ninh du lịch còn nhiều vấn đề tồn tại…
Trong bối cảnh của năm 2012 nêu trên, ngành du lịch đã đặt các mục tiêu
và nhiệm vụ cụ thể: Mục tiêu năm 2012 là đón 6,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế
(tăng 8,3% so với năm 2011), phục vụ 32 triệu lượt khách nội địa (tăng 6,67% so
với năm 2011), thu nhập du lịch đạt 150 ngàn tỷ đồng (tăng 15,3% so với năm
2011).
Nhằm thực hiện tốt những mục tiêu trên, ngành Du lịch đưa ra một số giải
pháp cơ bản sau:
Tiếp tục củng cố, kiện toàn bộ máy cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở
Trung ương và dịa phương, hoàn thiện, bổ sung và nâng cao năng lực đội ngũ cán
bộ quản lý du lịch ở các cấp; Rà soát và sửa đổi hệ thống chính sách phát triển du
lịch, tăng cường kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch; Đẩy
mạnh công tác hơp tác quốc tế về du lịch, tranh thủ hơn nữa sự hỗ trợ của quốc tế
trong các hoạt động phát triển du lịch cũng như trong việc giải quyết các tồn tại
của ngành du lịch nước ta; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
du lịch, trong công tác xúc tiến, quảng bá và thống kê du lịch; Tăng cường các
hoạt động giáo dục và bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch; nâng cao nhận
thức của cộng đồng địa phương về bảo vệ môi trường và các hoạt động du lịch có
trách nhiệm với môi trường và xã hội.
Khắc phục được những hạn chế, vượt qua được những khó khăn, thách thức,
chắc chắn Du lịch Việt Nam sẽ có một năm thành công hơn nữa.
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING NHẰM THU HÚT
KHÁCH DU LỊCH TẠI ĐỊA ĐẠO CỦ CHI
3.1. KHÁI QUÁT VỀ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỊA ĐẠO CỦ CHI
3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của địa đạo Củ Chi
Khu di tích lịch sử Địa Đạo Củ Chi nằm trên địa bàn ấp Phú Hiệp, xã Phú

như: Mở nhà hàng ăn uống, khu bắn súng thể thao quốc phòng, khu bắn súng sơn,
hàng lưu niệm, hồ bơi, hồ mô phỏng Biển Đông, khu tái hiện vùng giải phóng …
để đưa vào hoạt động, phục vụ khách tham quan. Công trình tôn tạo to lớn nhất ở
khu di tích là Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược với một quần thể kiến trúc mang
tính đặc thù dân tộc, hiện đại trang nghiêm, trong đó tháp 9 tầng cao 39m, uy nghi
giữa nền trời.
3.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Khu di tích lịch sử Địa
Đạo Củ Chi
• Chức năng:
Khu DTLS Địa Đạo có chức năng bảo tồn, tôn tạo di tích để nhằm tuyên
truyền giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ hiểu được quá khứ hào
hùng của cha anh và nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng
cũng như bảo vệ đất nước.
• Nhiệm vụ:
Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi có nhiệm vụ xây dựng, bảo tồn, phục chế
và giữ gìn các công trình địa đạo Củ Chi, nhằm phục vụ tốt công tác tuyên truyền
giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ trẻ cũng như yêu cầu của các
đoàn khách ngoai giao, du lịch đến tham quan địa đạo.
Được tổ chức các hoạt động dịch vụ có thu để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn
hóa, thể thao, vui chơi giải trí, nghỉ ngơi của khách du lịch tham quan khu địa đạo,
góp phần tăng thêm nguồn vốn để đầu tư bảo quản, nâng cấp các công trình thuộc
Khu di tích lịch sử.
Quản lý và sử dụng có hiệu quả lao động, tài sản, vật tư, vốn quỹ của đơn
vị. Bảo đảm mọi hoạt động của đơn vị theo đúng chế độ chính sách quy định
của Nhà nước.
• Quyền hạn:
Tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức công việc sắp xếp lại bộ
máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được
giao.
Thực hiện việc quản lý và sử dụng cán bộ, công nhân viên đúng quy định.

Lao động chủ yếu được đào tạo tại chỗ hoặc các khóa huấn luyện nghiệp vụ ngắn
hạn còn chiếm tỉ lệ khá cao (trên 50%)
3.1.1.3. Sơ đồ bộ máy tổ chức
Giám Đốc
Phó Giám đốc
Phụ trách mở rộng
Phó Giám đốc
Phụ trách Kinh doanh
Phó Giám đốc
Phụ trách Xây dựng
Phó Giám đốc
Phụ trách Chính trị
Phòng Kế toán
Phòng Xây dựng
Phòng Kế Hoạch Kinh doanh
Phòng Hành chính
Nhà hàng
Đội xe ô tô
Đội CVCX
ĐĐ Bến Đình
Đền TNLS Bến Dược
Đội Bảo vệ
ĐĐ Bến Dược - VGP
3.1.1.4 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban:
a/. Khối quản lý
• Ban Giám Đốc : Gồm có 01 Giám đốc và 04 Phó giám đốc
• Giám Đốc :
- Phụ trách chung, trực tiếp tổ chức, điều hành mọi hoạt động của
đơn vị. Là người đại diện pháp lý của Khu Di Tích Lịch Sử Địa Đạo Củ Chi trước
pháp luật và chịu trách nhiệm trước thủ trưởng Bộ Tư lệnh thành phố Hồ Chí

các cơ quan chức năng khi cần thiết.
• Phòng kế hoạch kinh doanh :
- Tham mưu cho Ban Giám Đốc trong công tác xây dựng cơ bản cũng
như công tác quy hoạch phát triển và mở rộng đơn vị.
- Triển khai các phương án và quản lý các hoạt động kinh doanh, Tổ
chức quản lý tài sản, hàng hóa, vật tư, công cụ, tham mưu trong việc sử dụng đồng
vốn có hiệu quả.
- Xây dựng kế hoạch tài chính cho đơn vị và xây dựng chỉ tiêu hàng
năm cho các bộ phận.
- Xây dựng các chiến lược tiếp thị, tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị
trường kinh doanh.
• Phòng xây dựng cơ bản :
- Tham mưu cho Ban Giám Đốc trong việc tổ chức quản lý thực hiện
công tác xây dựng cơ bản .
- Lập kế hoạch thực hiện các dự án đầu tư xây dựng và các dự án sửa
chữa các công trình bị xuống cấp hư hỏng.
- Thực hiện công tác sửa chữa thường xuyên các công trình nhỏ.
b/. Khối trực tiếp phục vụ du khách :
Chia làm 02 mảng như sau : Mảng phục vụ khách và mảng kinh doanh.
• Khối Địa Đạo, Đền Bến Dược, Khu tái hiện Vùng Giải Phóng
- Bộ phận địa đạo : Thực hiện nhiệm vụ đón tiếp, thuyết minh, hướng
dẫn du khách tham quan địa đạo chiến của Củ Chi.
- Bộ phận Đền tưởng niệm liệt sỹ Bến Dược : Tổ chức lễ dâng
hương cho mọi du khách khi đến đây viếng Đền.
- Bộ phận tái hiện Vùng Giải Phóng Củ Chi : Thực hiện mô hình
động tái hiện lại những quan cảnh làng mạc, con người và cảnh sinh hoạt của
những vùng khác nhau trên đất Củ Chi trong thời kỳ chiến tranh như: Vùng giải
phóng, vùng tranh chấp, vùng trắng, vùng tạm chiến.
• Khối kinh doanh dịch vụ : Nhà hàng, Dịch vụ bán hàng, Xưởng sản
xuất:

biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam. Đây chính là
điểm tham quan hấp dẫn và thú vị nhất dành cho khách du lịch.
3.2.1.3. Khu tái hiện Vùng Giải Phóng Củ Chi và 3 mô hình đặc trưng thu nhỏ
Khu tham quan rất rộng lớn và sinh động, tái
hiện lại cuộc sống, chiến đấu của người dân Củ Chi trước và trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước. Khu tái hiện Vùng Giải phóng được chia ra thành
nhiều vùng như: Vùng giải phóng, vùng tranh chấp, vùng trắng, vùng bị tạm chiến
(ấp chiến lược)
Đặc biệt tại đây, có mô hình sa bàn về trận càn
Cedarfalls mà quân đội Mỹ đã thực hiện trên vùng tam giác sắt rất ác liệt kéo dài
nhiều ngày đêm. Trận càn được thể hiện trên sa bàn hiện đại bậc nhất Việt Nam,
với sự phối hợp âm thanh, ánh sáng cùng sự chuyển động cơ học của các mô hình
và cách bố trí khói lửa hài hòa, sống động.
3.2.1.4. Ba mô hình đặc trưng thu nhỏ :
a/ Chùa Một Cột (Hà Nội) : Gắn liền với
lịch sử của thủ đô Hà Nội và từ lâu Chùa Một Cột cũng là biểu tượng của đất nước
Thăng Long ngàn năm văn vật. Chùa Một Cột đã được Bộ Văn Hóa xếp hạng di
tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật ngày 18/4/1962. Mô hình Chùa Một Cột thu nhỏ
tại Khu di tích lịch sử Địa Đạo Củ Chi có tỷ lệ bằng 9/
10
so với ngôi chùa ở Hà
Nội.
b/ Ngọ Môn Huế : Nơi đây ngày xưa thường diễn ra
các lễ lạc quan trọng nhất của Triều Nguyễn như lễ Ban Sóc (Ban lịch mới),
Truyền Lô (tuyên đọc tên Tiến sĩ tân khoa …). Mô hình Ngọ Môn Huế thu nhỏ tại
Khu di tích lịch sử Địa Đạo Củ Chi có tỷ lệ bằng ¼ công trình thật.
c/ Bến Nhà Rồng (TP.Hồ Chí Minh) : Tòa
nhà có đôi rồng gắn trên nóc, kiểu “lưỡng long chầu nguyệt” nên thường gọi Nhà
Rồng. Bến cảng Nhà Rồng còn lưu lại cho dân tộc Việt Nam một kỷ niệm thiêng
liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Mô hình Bến Nhà Rồng thu nhỏ tại Khu di

hiện được sự hấp dẫn và thu hút của Địa Đạo Củ Chi đối với mọi đối tượng khách
– nhất là khách quốc tế.
Năm Tổng số khách Việt Nam Ngoại quốc
2008 790.529 354.069 436.460
2009 1.125.000 766.339 358.661
2010 1.263.919 852.243 411.676
2011 1.420.000 927.484 492.516
6 tháng đầu năm 2012 482.845 206.078 276.767
Bảng 3.2.2.1.1. : Số lượng khách du lịch đến địa đạo Củ Chi từ năm 2008 –
2012
Nguồn: Phòng kế hoạch kinh doanh địa đạo Củ Chi
Qua bảng số liệu ta thấy, tổng số khách du lịch qua các năm, có tăng, nhưng
không ổn định, như:
Tốc độ tăng năm 2009 đạt 29,7% (khách nội địa tăng rất cao 53,8% khách
quốc tế giảm 21,7%) do đình trệ kinh tế thế giới nên lượt khách quốc tế giảm so
với năm trước, trong khi đó khách nội địa tăng (nhờ các chương trình kích cầu du
lịch đối với khách nội địa). Đến năm 2010, Địa Đạo Củ Chi được bình chọn là 1
trong 10 điểm tham quan hấp dẫn nhất TP. Hồ Chí Minh vì vậy khách quốc tế tăng
12,9%, khách nội địa tăng chỉ còn 10,1%. Trong năm 2011 tốc độ tăng trưởng
bằng năm 2010 là 10,99% (trong đó khách nội địa tăng ít 8,1% và khách quốc tế
tăng 16,4%). Khách đến tham quan trong 6 tháng đầu năm 2012 đạt 49,83% kế
hoạch đã đề ra, trong đó khách Việt Nam đạt 49,26%, ngoại quốc đạt 50,2%.
Từ đó, có thể nhận xét rằng đối với khách Việt Nam ở năm 2008 và 2009
có sự chênh lệch lớn, năm 2009 tăng gấp đôi so với năm 2008, nhưng đến các năm
sau đó, tốc độ giảm rõ rệt, thậm chí không đạt với tốc độ tăng trưởng mà kế hoạch
của Địa Đạo đề ra là 12%.
3.2.2.2. Doanh thu
Khu di tích lịch sử Địa Đạo đã phục vụ và tổ chức kinh doanh các loại
hình dịch vụ khá thành công, vì vậy doanh thu của đơn vị ngày càng tăng đáp ứng
các nhu cầu về chi thường xuyên và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, có

tặng danh hiệu “Đất thép thành đồng”.
Khu di tích lịch sử Địa Đạo Củ Chi ngày nay đã và đang trở thành khu du
lịch sinh thái quan trọng của Thành phố Hố Chí Minh với lượng khách bình quân
khoảng 2.000 - 4000 khách/ngày bao gồm cả khách nội địa và khách nước ngoài.
Đến Địa Đạo Củ Chi du khách sẽ được trải nghiệm cuộc sống, được mắt thấy, tai
nghe mới thấy hết sự thú vị, độc đáo của vùng đất thép thần đồng này. Với nét đặc
trưng này sẽ là tiềm năng lớn để khai thác du lịch, tạo nên lợi thế so sánh với các
điểm tham quan di tích khác.
Địa Đạo Củ Chi đã được Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh và Bộ Tư
Lệnh Thành Phố đầu tư phát triển, quản lý và nâng cao chất lượng phục vụ nhằm
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.
Doanh thu từ năm 2008 đến 6 tháng đầu năm 2012, ta thấy doanh thu liên tục
tăng và vượt kế hoạch, từ 3,17%, 11,31%, 26,75%, 26,88%
3.2.3.2. Khó khăn
Là Di tích lịch sử nên đa số khách nội địa đến tìm hiểu về lịch sử một hoặc
hai lần chứ không đến nhiều lần như các điểm du lịch khác, vì vậy lượng khách
nội địa đến Địa Đạo Củ Chi có tăng hàng năm nhưng không đạt kế hoạch và
không theo tốc độ tăng trưởng 12% .
- Hầu như tất cả các công ty du lịch lữ hành sắp xếp tour Địa Đạo Củ Chi là
một trong những điểm du lịch trong ngày, nghĩa là điểm đến là Địa Đạo Củ Chi –
Dinh Độc Lập – Chợ Bến Thành, hoặc Địa Đạo Củ Chi – Tây Ninh, do đó việc
lưu giữ khách du lịch ở lâu tại địa đạo là rất khó khăn.
3.3. THỰC TRẠNG MARKETING CỦA KHU DI TÍCH ĐỊA ĐẠO CỦ CHI
TRONG THỜI GIAN QUA
Nhìn chung lượng khách đến với khu di tích lịch sử Địa Đạo Củ Chi hàng
năm đều tăng tuy không đồng đều nhưng Địa Đạo Củ Chi cũng đã cố gắng nâng
cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, nâng cao phong cách phục vụ và tăng cường
công tác tiếp thị, quảng cáo nhằm thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách trong
nước. Công tác marketing được giao cho phòng kế hoạch kinh doanh.
3.3.1. Công tác nghiên cứu thị trường

Địa Đạo Củ Chi với lợi thế riêng của mình là di tích lịch sử nổi tiếng trong
nước và cả thế giới, vì vậy, khu di tích đã xác định được thị trường khách hàng
mục tiêu của mình để tập trung phục vụ tốt nhất.
Với đối tượng là khách nội địa, thị trường mục tiêu là khách du lịch truyền
thống, tìm hiểu lịch sử, về nguồn từ các tổ chức của sở, ban ngành, vì vậy Địa Đạo
Củ Chi luôn tập trung quan tâm sâu sắc đến thị trường này. Bởi đây là nguồn
khách rất lớn, ngoài đem lại doanh thu cho khu di tích, thì với nhiệm vụ lớn hơn -
Địa Đạo Củ Chi là nơi tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế
hệ trẻ mà Ủy Ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã giao .
Với thị trường khách Châu Âu, khu di tích tập trung vào khách Pháp, Đức,
Tây Ban Nha, Nga. Thị trường khách Châu Á thì tập trung vào khách Hàn Quốc,
Nhật, Trung Quốc, Thái. Châu Mỹ thì tập trung và thị trường khách Mỹ. Điều này
cũng dễ dàng nhận thấy tại Địa Đạo Củ Chi các dĩa phim tư liệu, tập gấp, các sản
phẩm lưu niệm, sách, hình ảnh về địa đạo chỉ có ra ngôn ngữ của các nước này.
3.3.3. Các chính sách Marketing của Địa Đạo Củ Chi
3.3.3.1. Chính sách sản phẩm
Khu di tích là điểm đến du lịch, vì vậy Địa Đạo Củ Chi cũng cung cấp sản
hẩm chính của mình là tham quan và các dịch vụ Chẳng hạn như tổ chức cho du
khách đến tham quan địa đạo, tham quan Đền Bến Dược, Khu tái hiện Vùng Giải
phóng, khách lớn tuổi không thể chui hầm được nhưng có thể tham quan Vùng
Giải Phóng do có những công trình nằm trên mặt đất. Nhằm để thu hút khách, Địa
Đạo Củ Chi đã xây dựng thêm một số công trình phụ trợ nhằm làm phong phú, đa
dạng sản phẩm của mình để cung cấp cho khách hàng nhiều loại hình dịch vụ phục
vụ cho các đối tượng khách khác nhau như : Hồ mô phỏng, ba mô hình đặc trưng
thu nhỏ ba miền, khu vui chơi, khu nghỉ ngơi, hotel, khu cắm trại, sinh hoạt dã
ngoại, ăn uống, khu bắn súng sơn, bắn súng thể thao quốc phòng, quầy hàng lưu
niệm, giải khát…
Hiện nay, Địa Đạo Củ Chi đang mở thêm dịch vụ ở các vùng lân cận nhằm
tạo điều kiện thuận lợi hơn khi du khách có nhu cầu như mở trường bắn súng sơn
ở Thủ Đức, Tân Bình, trường bắn súng thể thao quốc phòng ở Madagui. Ví dụ, du

đoàn thể, trường học có nhu cầu tổ chức kết nạp Đảng, Đoàn thì họ có thể đưa
đoàn đến Đền Tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược vì nơi đây rất trang nghiêm, rất thiêng
liêng và có ý nghĩa. Hoặc khi có nhu cầu tổ chức hội nghị, cắm trại, sinh hoạt dã
ngoại thì Địa Đạo Củ Chi luôn đáp ứng với phong cảnh thoáng mát Đây là kênh
phân phối mà Địa Đạo Củ Chi sử dụng khá hiệu quả đối với đối tượng là khách
nội địa, chiếm hơn 50% lượng khách đến địa đạo.
- Kênh phân phối gián tiếp thông qua việc Địa Đạo Củ Chi đã ký hợp đồng

Trích đoạn Chính sách sản phẩm. Chính sách con ngườ i: Đối với nhà nước và các ngành chức năng. CHƯƠNG IV : KẾT LUẬN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status