Luận văn: Quản trị danh mục sản phẩm của Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam . - Pdf 15


Luận văn

Đề tài: Quản trị danh mục sản phẩm của
Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam .
LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi các doanh nghiệp Nhà nước phải đối diện trực
tiếp với thị trường, phải thay đổi cách thức làm ăn mới có thể tồn tại và phát
triển bền vững trong cơ chế thị trường nhất là trong thời đại tự do hoá thương
mại như hiện nay Do đó các doanh nghiệp phải tự đổi mới về mọi mặt để tạo
ra được hàng hoá có sức cạnh tranh cao.
Là doanh nghiệp nhà nước, Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam đã dần từng
bước thích nghi được với cơ chế thị trường để tăng trưởng và phát triển. Các sản
phẩm của Tổng Công Ty (TCT) đã khẳng định được vị thế của mình trong nước
và dần chiếm lĩnh được thị trường nước ngoài. Với sự phát triển đó TCT đã
khẳng định được lợi thế của mình trong lĩnh vực chế biến các sản phẩm chăn
nuôi trong đó thịt lợn là sản phẩm có thế mạnh, chất lượng tốt, giá trị sử dụng
cao, đảm bảo đủ các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn khác do
các nước nhập khẩu yêu cầu. Hiện nay thịt lợn không thể thiếu được trong cuộc
sống hằng ngày của con người và được sử dụng rộng rãi trên thế giới.
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
HÀNG HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ
TRƯỜNG.
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Khái niệm:
Danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả các chủng loại hàng hoá và các đơn
vị hàng hoá do một người bán cụ thể đem chào bán cho người mua. Danh mục
hàng hoá được phản ánh qua bề rộng, mức độ phong phú, bề sâu và mức độ hài
hoà của nó.
Bề rộng của danh mục sản phẩm là tổng thể số các chủng loại hàng hoá
do công ty sản xuất.
Mức độ phong phú của danh mục sản phẩm là tổng số những mặt hàng

đem lại lợi ích cho các nước tham gia.
Hoạt động xuất khẩu được tổ chức, thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều
khâu từ điều tra thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá xuất khẩu, thương
nhân giao dịch, các bước tiến hành giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng, tổ
chức thực hiện hợp đồng cho đến khi hàng hoá chuyển đến cảng chuyển giao
quyền sở hữu cho người mua, hoàn thành thanh toán. Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ
này phải được nghiên cứu đầy đủ, kỹ lưỡng, đặt chúng trong mối quan hệ lẫn
nhau, tranh thủ nắm bắt những lợi thế nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất, phục vụ
đầy đủ và kịp thời cho sản xuất và tiêu dùng trong nước.
Đối với người tham gia hoạt động xuất khẩu, trước khi bước vào nghiên
cứu, thực hiện các khâu nghiệp vụ phải nắm bắt được các thông tin về nhu cầu
hàng hoá, thị hiếu, tập quán tiêu dùng giá cả, xu hướng biến động của nó ở thị
trường nước ngoài. Ngoài ra vấn đề mà những người tham gia hoạt động xuất
khẩu cần quan tâm là những tập tục, thói quen, những rào cản văn hoá v.v… của
mỗi quốc gia nhập khẩu. Những điều đó phải trở thành nếp thường xuyên trong
tư duy mỗi nhà kinh doanh Thương mại Quốc tế.
2. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu của doanh nghiệp.
Cùng với quá trình phát triển lâu dài của mình, các hình thức kinh doanh
xuất khẩu ngày càng trở nên phong phú và đa dạng. Hầu hết các hình thức đều
cố gắng khai thác tối đa những lợi thế do xuất khẩu mang lại. Tuy nhiên trong
điều kiện nền kinh tế như nước ta hiện nay việc huy động tất cả những nguồn lực, những hình thức xuất khẩu chưa thực sự được khai thác tối đa, các hình
thức xuất khẩu của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu còn nghèo nàn
và chưa sử dụng được các nguồn lực trong nước để xuất khẩu có hiệu quả cao
như các nước khác trong khu vực. Đây cũng thực tế mà TCT đang phải đối mặt,
tuy nhiên với việc hỗ trợ của nhà nước TCT đang ngày dần hoàn thiện mình và
trở thành mũi nhọn hàng đầu trong lĩnh vực chăn nuôi và xuất khẩu thức ăn.m
Theo Nghị định 33/CP (19/ 4/ 1994) thì hoạt động xuất khẩu ở nước ta

tiếp là xuất khẩu thông qua trung gian chuyên hoạt động trong lĩnh vực xuất
nhập khẩu. Phương thức này không đòi hỏi vốn đầu tư lớn và do đó rủi ro thấp.
Tuy nhiên người trung gian thưòng chỉ lựa chọn mặt hàng xuất khẩu có lợi nhất
cho họ và thường nảy sinh mâu thuẫn về phân chia lợi nhuận giữa người sản
xuất và người trung gian. Khác với hình thức xuất khẩu trực tiếp, trong hoạt
động xuất khẩu uỷ thác tất cả mọi việc kiến lập quan hệ giữa người xuất khẩu và
người nhập khẩu cũng như việc qui định các điều kiện mua bán phải thông qua
một người thứ 3 được gọi là người nhận uỷ thác. Người nhận uỷ thác tiến hành
hoạt động xuất khẩu với danh nghĩa của mình nhưng mọi chi phí đều do bên có
hàng xuất khẩu, bên uỷ thác thanh toán. Về bản chất chi phí trả cho bên nhận uỷ
thác chính là tiền thù lao trả cho đại lý. Doanh nghiệp cũng không thể kiểm soát
việc tiêu thụ sản phẩm ra nước ngoài.
*Xuất khẩu gián tiếp có 4 khả năng lựa chọn sau:
-Xuất khẩu thông qua hãng xuất khẩu trong nước.
-Xuất khẩu thông qua đại lý xuất khẩu.
-Xuất khẩu thông qua hiệp hội xuất khẩu.
-Xuất khẩu thông qua việc sử dụng kênh phân phối của người thứ ba đã
tồn tại để tiêu thụ sẩn phẩm của họ.
2.3. Buôn bán đối lưu:
Đây là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu phải kết hợp chặt chẽ
với nhập khẩu. Nhà xuất khẩu đồng thời là nhà nhập khẩu, mục đích để thu về
hàng hoá có giá trị tương đương với hàng xuất khẩu bởi vậy nó còn gọi là
phương thức đổi hàng. Trong hoạt động xuất khẩu này yêu cầu cân bằng về mặt
hàng, giá cả, tổng giá trị và điều kiện giao hàng được đặc biệt chú ý.
2.4. Gia công quốc tế:
Là phương thức kinh doanh người đặt mua gia công ở nước ngoài cung
cấp máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu theo mẫu hàng và định mức trước. Người nhận gia công làm theo yêu cầu của khách hàng, toàn bộ sản phẩm

Nhìn nhận dưới góc độ của một doanh nghiệp thì hoạt động xuất khẩu
thực chất là hoạt động bán hàng hay hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp trên phạm vi quốc tế. Như vậy việc xuất khẩu sản phẩm ra thị trường
nước ngoài lằm trong chiến lược tiêu thụ của doanh nghiệp, tuy nhiên nó khác
với tiêu thụ trong nước là: Bán hàng hoá ở những thị trường khác nhau về văn
hoá, ngôn ngữ, luật pháp, chính sách, tập quán tín ngưỡng Nhưng cũng chính
về sự khác biệt đó mà mở ra cho doanh nghiệp một cơ hội phát triển kinh doanh
lớn hơn và lâu dài hơn. Tuy nhiên để có thể khẳng định được sản phẩm của
mình trên thị trường quốc tế đòi hỏi bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải chiến
lược nghiên cứu cụ thể và một sự đầu tư nhất định.
Tiêu thụ sản phẩm là một bộ phận quan trọng của hoạt động thương mại
doanh nghiệp bởi hàng hoá được sản xuất ra, mua về phải được tiêu thụ, đó là
điều kiện quyết định sự tồn tại của một doanh nghiệp. Trong cơ chế thị trường,
với việc gia tăng hàng hoá ngày càng nhiều trên thị trường, nhiều doanh nghiệp
đã chuyển hướng từ sản xuất sang tiêu thụ. Những cố gắng này càng ngày càng
có ý nghĩa to lớn hơn trong việc thực hiện mục đích kinh doanh. Từ đó, khái
niệm MARKETING xuất hiện với nghĩa: mọi cố gắng của doanh nghiệp đều
hướng đến mục đích cần thiết là tiêu thụ sản phẩm, hướng về những thị trường
đang còn bỏ ngỏ. Hiện nay trên thị trường xuất hiện nhiều các đối thủ cạnh tranh
đây cũng là một cơ hội để doanh nghiệp khẳng định được vị thế của mình, tuy
nhiên nguy cơ bị mất thị trường là rất lớn. Một thị trường không thể tồn tại quá
nhiều các đối thủ cạnh tranh vì vậy xu thế xuất khẩu hàng hoá ra thị trường quốc
tế ngày càng phát huy được tác dụng làm giảm bớt sự tắc nghẹn trong khâu tiêu
thụ của doanh nghiệp.
Như vậy xuất khẩu đóng góp vào quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế,
thúc đẩy sản xuất phát triển. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sẽ giúp các nước
kém phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ nông nghiệp sang công nghiệp phù
hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới.
Hoạt động xuất khẩu đóng vai trò quan trọng vì nó tạo điều kiện mở rộng
khả năng tiêu dùng của một nước. Ngoại thương cho phép một nước có thể sử

từ nước ngoài, làm tăng hiệu quả sản xuất trong nước.
* Xuất khẩu có thể làm thay đổi cơ cấu sản xuất của tổng sản phẩm xã hội
và tổng thu nhập quốc dân nhằm thích ứng với nhu cầu tích luỹ. Xuất khẩu thúc
đẩy khoa học phát triển làm tăng C – giá trị máy móc thiết bị và giảm V – giá trị
lao động cấu thành trong giá trị hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu hữu cơ của tư bản. * Xuất khẩu làm tăng hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo ra môi
trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, tăng khả năng khai thác lợi thế của
mỗi quốc gia.
* Xuất khẩu tác động trực tiếp đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống nhân dân tác động của xuất khẩu ảnh hưởng rất nhiều tới các lĩnh
vực của cuộc sống như: giúp làm phong phú mặt hàng trong nước, nâng cao sự
chọn lựa cho người tiêu dùng. sản xuất hàng hoá xuất khẩu sẽ thu hút được hàng
triệu lao động vào làm việc tạo ra thu nhập ổn định, đồng thời tạo ra ngoại tệ để
nhập khẩu hàng tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu ngày càng phong phú của nhân dân.
* Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế trên cơ sở vì
lợi ích mỗi bên, đồng thời gắn liền sản xuất trong nước với phân công lao động
quốc tế. Xuất khẩu là một trong những nội dung chính trong chính sách đối
ngoại của nước ta đối với các nước trên thế giới vì mục tiêu dân giàu nước
mạnh. Như vậy có thể nói đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo động lực cần thiết cho việc
giải quyết những vấn đề thiết yếu của nền kinh tế. Điều này nói lên tính khách
quan của việc tăng cường xuất khẩu trong quá trình phát triển nền kinh tế.
* Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có thêm rất nhiều cơ
hội để tiêu thụ sản phẩm của mình với khối lượng lớn và với các chủng loại
hàng hoá phong phú đa dạng khác nhau.
+ Nhờ có xuất khẩu mà doanh nghiệp luôn luôn sẵn sàng đổi mới và hoàn
thiện cơ cấu sản xuất kinh doanh phù hợp với thị trường và theo kịp sự phát
triển chung của thế giới.
+ Doanh nghiệp trong quá trình tiền hành hoạt động xuất khẩu có nhiều

thực hiện mục tiêu đó. Hoặc cũng có thể hiểu đó là quá trình thu nhập thông tin,
số liệu về thị trường, so sánh, phân tích số liệu đó và rút ra kết luận. Những kết
luận này sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn để lập kế hoạch
MARKETING Chính vì thế, nghiên cứu thị trường là một hoạt động đóng vai
trò ngày càng quan trọng giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn trong
hoạt động xuất khẩu của mình.
Có thể nói nghiên cứu thị trường là một công việc khá phức tạp vì nó trải
ra trong một khoảng không gian rất rộng với sự khác biệt về lịch sử, điều kiện
địa lý tự nhiên và cả môi trường văn hoá. Nó đòi hỏi người nghiên cứu phải có
khả năng phân tích, giải thích được những hành vi, thái độ cơ bản trong kinh
doanh và tiêu dùng của thị trường Chính vì thế, việc nghiên cứu thị trường
Quốc tế gắn liền với chi phí cao và phải đầu tư một lượng thời gian lớn. Đối với việc xuất khẩu thịt lợn ra thị trường nước ngoài đòi hỏi các nhà
nghiên cứu thị trường phải lắm rõ tất cả các đặc tính, mức tiêu thụ, khả năng
cạnh tranh của sản phẩm v v. Sản phẩm thịt lợn khi xuất khẩu ra thị trường thế
giới sẽ có nhiều khó khăn trong việc thống nhất độ an toàn, sự kiểm định về chất
lượng chung của hai bên. Vì thế để lựa chọn được thị trường phù hợp cho sản
phẩm của mình bắt buộc mỗi doanh nghiệp phải có sự đầu tư và nghiên cứu cụ
thể thị trường muốn tung sản phẩm vào.
Nghiên cứu thị trường thường được tiến hành theo hai phương pháp
chính:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Là thu nhập các thông tin từ các nguồn tài
liệu đã được xuất bản công khai hay bán công khai, xử lý các thông tin đó.
Đây là phương pháp phổ thông nhất vì nó đỡ tốn kém và phù hợp với khả
năng của những người xuất khẩu mới tham gia vào thị trường thế giới. Tuy
nhiên nó cũng có hạn chế như chậm và mức độ tin cậy không lớn.
- Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường: Là việc thu nhập thông tin chủ
yếu thông qua tiếp xúc với mọi người trên hiện trường. Đây là một phương

người và trên cơ sở đánh giá của mỗi người để tìm ra những ý kiến đồng nhất,
những ý kiến xác đáng nhất (trong những ý kiến đồng) sẽ đánh giá được thực
chất nhu cầu, thị trường và sức mua của người tiêu dùng.
Một điều mà nhà xuất khẩu phải luôn ghi nhớ rằng nghiên cứu thị trường
không có nghĩa là xác định nhu cầu, thị hiếu, sức mua Hiện nay tại thị trường
mà phải cao hơn thế, xa hơn thế là tìm được khuynh hướng của thị trường để sản
phẩm của doanh nghiệp luôn luôn hấp dẫn và thuyết phục người tiêu dùng.
Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát thị trường điều quan trọng hơn cả
đối với nhà sản xuất là tìm hiểu sự biến động giá cả trên thị trường quốc tế của
mặt hàng xuất khẩu. Vì vậy, nhà xuất khẩu cần có đầy đủ thông tin về vấn đề
này để có những quyết định kịp thời. Bên cạnh đó, do hàng hoá xuất khẩu
thường phải đi qua các nước, các khu vực khác nhau, do đó sự thay đổi giá cả
của hàng hoá chủ yếu phụ thuộc vào các khoản chi phí sau:
* Giá trị hàng hoá đơn thuần.
* Bao bì.
* Thuế xuất khẩu.
* Chi phí vận chuyển, bảo quản.
* Chi phí bảo hiểm.
* Chi phí khác.
Hiện nay Tổng công ty chăn nuôi VN đã dần khẳng định được vị thế của
mình trên thị trường thế giới, sản phẩm của công ty được xuất khẩu sang một số thị trường chính như: Trung Quốc, HongKong, Nga, Nhật, v.v…Tuy nhiên do
yêu cầu ngày càng cao của người dân cũng như do sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật mà yêu cầu chất lượng thịt lợn ngày càng cao. Tổng công ty chăn nuôi VN
đang đứng trước nhiều khó khăn nhất định, những khó khăn về việc áp dụng dây
chuyền công nghệ trong khâu chế biến, cũng như trong quá trình chăn nuôi, vì
thế khi xuất khẩu thịt lợn ra thị trường thế giới công ty đã mất đi rất nhiêu lợi
thế cạnh tranh của mình như giá xuất khẩu thường cao, chất lượng của sản phẩm

hàng hoá xuất khẩu thì đây là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất. * Những hoạt động nghiệp vụ phục vụ cho công tác tạo ra nguồn hàng
cho xuất khẩu, thường do các tổ chức ngoại thương làm chức năng trung gian.
Như đã biết, phần lớn các hoạt động nghiệp vụ tổ chức thu mua tạo nguồn
hàng xuất khẩu chỉ làm tăng thêm chi phí thuộc chi phí lưu thông chứ không làm
tăng thêm giá trị sử dụng của hàng hoá. Do vậy các nhà xuất khẩu cần nghiên
cứu để đơn giản hoá các nghiệp vụ nhằm tăng lợi nhuận cho mình.
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, hệ thống các đại lý thu
mua hàng xuất khẩu được coi là nhân tố quan trọng mang tính quyết định trực
tiếp đến chất lượng của hàng xuất khẩu, đến tiến độ giao hàng, thực hiện hợp
đồng, uy tín của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh. Thực tế cho thấy một
doanh nghiệp xuất khẩu mạnh không phải chỉ vì dài vốn mà là do có hệ thống
khách hàng mạnh, hệ thống đại lý thu mua rộng khắp, hoạt động thường xuyên,
bám sát thị trường.
Công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu là hệ thống các công
việc bao gồm:
- Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu:
Đây là việc nghiên cứu khả năng cung cấp hàng xuất khẩu trên thị trường,
được xác định bởi nguồn hàng thực tế và nguồn hàng tiềm năng. Trong đó
nguồn hàng thực tế là nguồn đã có và đang sẵn sàng đưa vào lưu thông. Nguồn
hàng tiềm năng là nguồn hàng chưa xuất hiện, nó có thể có hoặc không xuất hiện
trên thị trường. Với nguồn hàng này, nhà xuất khẩu phải có đầu tư, có đơn đặt
hàng với nhà sản xuất, và đây là nguồn hàng rất quan trọng trong xuất khẩu.
Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu còn nhằm xác định chủng loại mặt
hàng, kích cỡ, mẫu mã , công cụ, giá cả, thời vụ những đặc điểm, tính năng riêng
của từng mặt hàng. Ngoài ra doanh nghiệp còn phải xác định được xem mặt
hàng dự định xuất khẩu có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường nước ngoài
về những chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế hay không ?

thương với các nhà sản xuất hoặc các khách hàng thông qua hợp đồng thu mua,
đổi hàng, gia công Do vậy việc ký kết hợp đồng có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu. Dựa trên những thoả thuận và
tự nguyện, các bên ký kết hợp đồng làm cơ sở vững chắc đảm bảo cho các hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách bình thường. Đây chính là
cơ sở pháp lý cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người cung cấp hàng.
- Xúc tiến khai thác nguồn hàng xuất khẩu. Sau khi đã ký kết hợp đồng với các khách hàng và các đơn vị sản xuất, nhà
xuất khẩu phải lập được kế hoạch thu mua, tiến hành sắp xếp các phần việc phải làm
và chỉ đạo các bộ phận làm việc theo kế hoạch. Cụ thể gồm những phần việc sau:
- Đưa hệ thống kênh thu mua đã được thiết lập vào hoạt động.
- Chuẩn bị đầy đủ các thủ tục giấy tờ giao nhận hàng theo hợp đồng đã
ký.
- Tổ chức hệ thống kho tàng tại điểm nút của các kênh.
- Tổ chức vận chuyển hàng theo các địa điểm đã qui định.
- Chuẩn bị đầy đủ tiền thanh toán.
Trong quá trình thu mua, nhà xuất khẩu phải ghi bảng biểu để theo dõi
tiến độ thực hiện kế hoạch thu mua nhằm kịp thời phát hiện ra những ách tắc để
có biện pháp xử lý kịp thời.
- Tiếp nhận, bảo quản và xuất kho hàng xuất khẩu.
Phần lớn hàng hoá trước khi xuất khẩu đều phải qua một hoặc một số kho
để đảm bảo, phân loại, đóng gói, nhờ làm thủ tục xuất khẩu. Nhà xuất khẩu cần
chuẩn bị tốt các kho để tiếp nhận hàng xuất khẩu.
Công tác bảo quản hàng hoá trong kho là một nhiệm vụ quan trọng của
chủ kho hàng. Chủ kho hàng phải có trách nhiệm không để hàng hư hỏng, đổ vỡ,
mất mát trừ khi những sự cố đó là do bất khả kháng gây ra.
Cuối cùng là công việc xuất kho hàng xuất khẩu. Trong công đoạn này
cần chú ý nhất là phải có đầy đủ các giấy tờ, hoá đơn hợp lệ.

Hoàn giá (mặc cả): Trong trường hợp người nhận được chào hàng không
chấp nhận hoàn toàn chào hàng đó mà muốn đưa ra đề nghị mới thì đề nghị mới
gọi là hoàn giá. Mỗi lần giao dịch thường phải trải qua nhiều lần hoàn giá mới đi
đến kết thúc.
Chấp nhận: Là sự đồng ý tất cả các điều kiện của chào hàng hoặc sau khi
đã hoàn giá, do cả hai phía cùng chấp nhận. Khi đó hợp đồng được thành lập.
Xác nhận: Sau khi hai bên mua bán đã thống nhất thoả thuận với nhau về
các điều kiện giao dịch, có ghi lại cẩn thận các điều khoản đã thoả thuận rồi gửi
cho bên kia. Đó là văn bản xác nhận thường được lập thành 2 bản, bên xác nhận
ký trước rồi gửi cho bên kia. Bên kia ký xong trả lại một bản và giữ lại một bản. Sau khi hai bên tiến hành giao dịch đàm phán có kết quả sẽ tiến hành ký
kết hợp đồng kinh tế - Hợp đồng thương mại Quốc tế. Nội dung của hợp đồng
phải thể hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền hạn của cả hai bên tham gia ký kết. Hợp
đồng thể hiện dưới hình thức bằng văn bản là hình thức bắt buộc đối với các đơn
vị xuất khẩu ở nước ta .
.3.3 - Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi hợp đồng được ký kết, cần xác định rõ trách nhiệm nội dung,
trình tự công việc làm, bố trí thời gian, bảng biểu theo dõi tiến độ công việc
không để sai xoát xảy ra.
- Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu bao gồm các bước: Sơ đồ: Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu.

* Kiểm tra L/C:
Sau khi hợp đồng xuất khẩu đã được hai bên ký kết, người xuất khẩu cần
phải kiểm tra lại L/C do người nhập khẩu mở tại ngân hàng có khớp với nội
dung trong hợp đồng không. Nếu có yêu cầu sửa đổi thì phải thông báo cho

phép xuất
kh

u

Chu

n b


hàng hoá
Giao hàng
lên tàu
Làm thủ
tục hải
quan
Kiểm
nghiệm
hàng hoá
Uỷ thác
thuê tàu
Mua bảo
hiểm
Làm thủ
tục thanh
toán

Giải quyết
khiếu nại


người ta thường không thuê tàu chuyến mà thuê tàu chợ.
Như vậy, trên thực tế người xuất khẩu có nhiệm vụ thuê tàu hay không
còn tuỳ thuộc vào điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng đã ký kết.
* Kiểm nghiệm hàng hoá.
Kiểm tra lại chất lượng hàng hoá xuất khẩu là công việc cần thiết và quan
trọng vì nhờ công tác này mà quyền lợi của khách hàng được bảo đảm, ngăn
chặn kịp thời những hậu quả xấu phân định trách nhiệm rõ ràng giữa các khâu
sản xuất cũng như tạo nguồn hàng, đảm bảo uy tín của nhà xuất khẩu cũng như
nhà sản xuất trong quan hệ buôn bán.
Công tác kiểm tra hàng xuất khẩu được tiến hành ngay sau khi hàng
chuẩn bị đóng gói tại cơ sở sản xuất, còn hàng kiểm tra ở cửa khẩu là do khách
hàng trực tiếp kiểm tra hoặc cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, phụ thuộc vào sự
thoả thuận của 2 bên.
* Làm thủ tục hải quan.
Đây là qui định bắt buộc đối với bất cứ loại hàng hoá nào, công tác này
được tiến hành qua 3 bước:
-Khai báo hải quan: Chủ hàng có trách nhiệm kê khai đầy đủ các chi tiết
về hàng hoá một cách trung thực và chính xác lên tờ khai hải quan. Nội dung tờ
khai hải quan gồm có: Loại hàng, tên hàng, số lượng, giá trị hàng hoá, nước
nhập khẩu. Tờ khai hải quan được xuất trình cùng với một số giấy tờ khác như
hợp đồng xuất khẩu, giấy phép, hoá đơn
- Xuất trình hàng hoá và nộp thuế: Sau khi khai báo chủ hàng cần sắp xếp
hàng hóa một cách hợp lý để thuận tiện cho việc hải quan kiểm tra và tính thuế.
-Thực hiện các quyết định của hải quan: Đây là khâu cuối cùng nhằm
hoàn tất quá trình làm thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất khẩu. Đơn vị xuất
khẩu có nghĩa vụ thực hiện một cách nghiêm túc các quyết định của hải quan
đối với lô hàng là cho phép hay không cho phép xuất khẩu

của hoạt động xuất khẩu. Hiệu quả kinh tế của khu vực kinh doanh xuất khẩu
một phần nhờ vào chất lượng của việc thanh toán.
Do đặc điểm buôn bán với người nước ngoài nên khâu thanh toán khá phức
tạp bởi có nhiều phương thức thanh toán khác nhau như thanh toán bằng thư tín
dụng, nhờ thu kèm chứng từ, chuyển tiền Tuỳ theo mỗi giao dịch xuất khẩu cụ
thể mà ta có thể lựa chọn phương thức nào có lợi cho mình nhất. Nhưng nói
chung đều cần phải lưu ý đến các vấn đề sau:
-Tỷ giá hối đoái.
-Tiền tệ trong thanh toán.
-Thời hạn thanh toán.
-Phương thức và hình thức thanh toán.

Trích đoạn Nguyên nhân của những tồn tại Phương hướng, mục tiêu phát triển chăn nuôi và xuất khẩu thịt lợn của Đảm bảo đủ giống có chất lượng cao Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường Tổ chức quảng cáo giới thiệu ra thị trường nước ngoài
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status