Quản trị danh mục sản phẩm của TCT chăn nuôi VN - Pdf 82

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Là doanh nghiệp nhà nước, Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam đã dần
từng bước thích nghi được với cơ chế thị trường để tăng trưởng và phát triển.
Các sản phẩm của Tổng Công Ty (TCT) đã khẳng định được vị thế của mình
trong nước và dần chiếm lĩnh được thị trường nước ngoài. Với sự phát triển đó
TCT đã khẳng định được lợi thế của mình trong lĩnh vực chế biến các sản phẩm
chăn nuôi trong đó thịt lợn là sản phẩm có thế mạnh, chất lượng tốt, đảm bảo đủ
các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn khác do các nước nhập
khẩu yêu cầu. Hiện nay thịt lợn không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày
của con người và được sử dụng rộng rãi trên thế giới.
Tuy nhiên cũng như nhiều doanh nghiệp kinh doanh XNK khác, Tổng
công ty chăn nuôi Việt nam còn gặp nhiều khó khăn, thử thách trong công tác
kinh doanh. Mối quan tâm chung của ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công
nhân viên trong tổng công ty là: Làm thế nào để đưa ra các giải pháp phù hợp
để khắc phục và hạn chế khó khăn, thúc đẩy hơn nữa hoạt động sản xuất kinh
doanh, tăng kim ngạch xuất khẩu và mở rộng thị trường nội địa đưa Tổng công
ty chăn nuôi Việt Nam lớn mạnh xứng đáng là "con chim đầu đàn" của ngành
chăn nuôi Việt Nam.
Xuất phát từ thực tiễn trên và quá trình thực tập tại TCT tôi đã chọn đề tài
“Quản trị danh mục sản phẩm của TCT chăn nuôi VN’’ làm chuyên đề tốt
nghiệp của mình. Trọng tâm chính của chuyên đề là giải quyết vấn đề xuất khẩu
thịt lợn của TCT, đây cũng là thực trạng mà TCT phải đối mặt.
Nội dung của chuyên đề:
Chương I: Lý luận chung về thực tiễn ứng dụng marketing xuất khẩu
thịt lợn của các doanh nghiệp Việt Nam.
Chương II: Thực trạng kinh doanh xuất khẩu thịt lợn của TCT.
Chương III: Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thịt lợn của TCT.
SV: Vũ Văn Tuyến - Marketing 44B
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I

Chuyên đề tốt nghiệp
Đối với người tham gia hoạt động xuất khẩu , trước khi bước vào nghiên
cứu, thực hiện các khâu nghiệp vụ phải nắm bắt được các thông tin về nhu cầu
hàng hoá, thị hiếu, tập quán tiêu dùng, giá cả, xu hướng biến động của nó ở thị
trường nước ngoài. Những điều đó phải trở thành nếp thường xuyên trong tư
duy mỗi nhà kinh doanh Thương Mại Quốc Tế.
1.2. Nhân tố ảnh hưởng tới cung ứng thịt lợn.
Việc cung ứng thịt lợn chịu ảnh hưởng của những yếu tố gồm :
+ Dây chuyền công nghệ chế biến : ảnh hưởng đến chất lượng thịt lợn,
đảm bảo đủ các yêu cầu đặt ra của các nước nhập khẩu.
+ Chất lượng đầu vào : Hiện nay đầu vào của các doanh nghiệp Việt Nam
thường nhập khẩu trong nước vì thế chất lượng chưa cao, tuy nhiên mức giá
nhập không cao.
+ Giá khi nhập yếu tố đầu vào : Mức giá sẽ chi phối tới hoạt động cung
ứng thịt lợn trên thị trường ví dụ: Giá yếu tố đầu vào thấp sẽ khuyến khích nhà
cung ứng tạo nhiều sản phẩm hơn do họ thu được nhiều lợi nhuận hơn, ngược lại
giá cao sẽ làm lợi nhuận của họ giảm xuống.
+ Nguồn sản phẩm của công ty:
Như vậy tất cả các yếu tố trên sẽ ảnh hưởng tới việc cung ứng thịt lợn trên
thị trường và việc xuất khẩu ra thị trường thế giới. Doanh nghiệp Việt Nam hiện
nay đang dần hoàn thiện các yếu tố đó để cung ứng sản phẩm có chất lượng tốt
nhất trên thị trường và đáp ứng được yêu cầu của các nước nhập khẩu.
2. Đặc điểm thị trường xuất khẩu thịt lợn ( cầu )
2.1. Quy mô thị trường
Hiện nay nhu cầu về thực phẩm là không thể thiếu được trong đời sống
hằng ngày, lắm bắt được nhu cầu đó các doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước
mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh nhằm chiếm lĩnh thị trường trong nước
cũng như thế giới. Mỗi doanh nghiệp đều đưa ra chiến lược kinh doanh phù hợp
với nguồn lực và khả năng của mình như : Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam với
lợi thế về quy mô, sự hỗ trợ của nhà nước đã chọn quy mô thị trường rộng

a. Yếu tố khách quan.
Mỗi một chủ thể hoạt động trong xã hội đều chịu sự chi phối nhất định
của môi trường xung quanh. Đó là tổng hợp tất cả các yếu tố có tác động trực
tiếp hoặc gián tiếp qua lại lẫn nhau. Chính những nhân tố này sẽ quy định xu
hướng và trạng thái hành động của chủ thể. Trong kinh doanh thương mại quốc
tế các doanh nghiệp xuất khẩu phải chịu sự chi phối của các nhân tố bên trong
lẫn nhân tố bên ngoài nước. Các nhân tố này thường xuyên biến đổi làm cho
hoạt động xuất khẩu càng trở nên phức tạp hơn. Chính vì thế, việc các doanh
nghiệp kinh doanh xuất khẩu phải theo dõi, nắm bắt và phân tích thường xuyên
ảnh hưởng của từng nhân tố đối với việc kinh doanh của mình là việc làm thiết
thực không thể phủ nhận được.
Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh là các yếu tố khách quan mà
doanh nghiệp không thể kiểm soát được. Nghiên cứu các yếu tố này không
nhằm để điều khiển nó theo ý muốn của doanh nghiệp mà nhằm tạo ra khả năng
thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của nó.
Môi trường kinh doanh tác động liên tục đến hoạt động của doanh nghiệp
theo những xu hướng khác nhau, vừa tạo ra cơ hội vừa hạn chế khả năng thực
hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Ảnh hưởng của môi trường kinh
doanh có thể ở các tầng (thứ bậc) khác nhau vĩ mô/vi môi; mạnh/yếu; trực
SV: Vũ Văn Tuyến - Marketing 44B
Chuyên đề tốt nghiệp
tiếp/gián tiếp... Nhưng về mặt nguyên tắc, cần phản ảnh được sự tác động của nó
trong chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.
Để nghiên cứu và đưa được tác động của môi trường kinh doanh vào
chiến lược, có thể phân tích môi trường kinh doanh bao quanh doanh nghiệp qua
các môi trường thành phần. Có thể kể đến một số môi trường chủ yếu như:
*. Môi trường văn hoá và xã hội:
Yếu tố văn hoá - xã hội luôn bao quanh doanh nghiệp và khách hàng và có
ảnh hưởng lớn đến sự hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nghiên
cứu các yếu tố này từ những giác độ khác nhau tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu.

nhu cầu chung của cả gia đình. Đặc biệt có ý nghĩa khi phân tích trong mối liên
hệ với thu nhập của người tiêu thụ.
-Sự dịch chuyển dân cư và xu hướng vận động:
Sự hình thành hay suy giảm mức độ tập trung dân cư (người tiêu thụ) ở một
khu vực địa lý hẹp. Có ảnh hưởng lớn đến sự xuất hiện cơ hội mới hoặc suy tàn
cơ hội hiện tại của doanh nghiệp.
-Thu nhập và phân bổ thu nhập của người tiêu thụ: (Yêu cầu về sự thoả
mãu nhu cầu theo khả năng tài chính).
Lượng tiền mà người tiêu thụ có thể sử dụng để thoả mãn nhu cầu cá nhân
của họ. Trong điều kiện nguồn lực có hạn, số lượng tiền (thu nhập) sẽ được
trang trải cho các nhu cầu theo những tỷ lệ khác nhau và mức độ ưu tiên khác
nhau. Điều này ảnh hưởng đến sự lựa chọn loại sản phẩm và chất lượng cần đáp
ứng của sản phẩm, hình thành nên khái niệm về chất lượng sản phẩm theo cách
đánh giá của người tiêu thụ: Sản phẩm vừa đủ. Doanh nghiệp có nhiều cơ hội để
lựa chọn sản phẩm thoả mãn khác hàng theo mức độ yêu cầu khác nhau về chất
lượng, chủng loại (thay thế) và dịch vụ.
-Nghề nghiệp, tầng lớp xã hội: (Yêu cầu về sự thoả mãn nhu cầu theo địa vị
xã hội).
Vị trí của người tiêu thụ trong xã hội. Có ảnh hưởng lớn đến quan điểm và
cách thức ứng xử trên thị trường. Các yêu cầu về sản phẩm và phục vụ tương
ứng với quan điểm thoả mãn nhu cầu được hình thành theo nhóm.
-Dân tộc, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, nền văn hoá. (Sự đa dạng của nhu
cầu và cách thức thoả mãn).
SV: Vũ Văn Tuyến - Marketing 44B
Chuyên đề tốt nghiệp
Bản sắc, đặc điểm văn hoá - xã hội của từng nhóm khách hàng (lớn) phản
ảnh quan điểm và cách thức sử dụng sản phẩm. Vừa yêu cầu đáp ứng tính riêng
biệt về nhu cầu vừa tạo cơ hội đa dạng hoá khả năng đáp ứng của doanh nghiệp
cho nhu cầu. Đòi hỏi phân đoạn thị trường và có chiến lược marketing tương
thích để nâng cao khả năng cạnh tranh.

trường này đều tạo ra hoặc thu hẹp cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp ở những
mức độ khác nhau và thậm chí, dẫn đến yêu cầu thay đổi mục tiêu và chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp.
Các yếu tố quan trọng của môi trường này và tác động của nó đến cơ hội
kinh doanh của doanh nghiệp gồm :
+ Tiềm năng của nền kinh tế.
Yếu tố tổng quát, phản ảnh các nguồn lực có thể được huy động và chất
lượng của nó: tài nguyên, con người, vị trí địa lý, dự trữ quốc gia...
Liên quan đến các định hướng và tính bền vững của cơ hội chiến lược của
doanh nghiệp.
+ Các thay đổi về cấu trúc, cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân.
Tác động đến sự thay đổi vị trí, vai trò và xu hướng phát triển của các
ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân, kéo theo sự thay đổi chiều hướng phát
triển của doanh nghiệp.
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế ( + / -).
Xu hướng phát triển chung của nền kinh tế hoặc từng ngành. Liên quan
trực tiếp hoặc gián tiếp đến khả năng tăng trưởng/giảm thiểu, mở rộng/thu hẹp
quy mô của từng doanh nghiệp.
+ Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát.
Ảnh hưởng đến hiệu quả thực, thu nhập, tích luỹ, kích thích hoặc kìm hãm
tăng trưởng, xu hướng đầu tư, xu hướng tiêu dùng...
+ Hoạt động ngoại thương, xu hướng mở/đóng của nền kinh tế.
SV: Vũ Văn Tuyến - Marketing 44B
Chuyên đề tốt nghiệp
Tác động mạnh đến các cơ hội phát triển của doanh nghiệp, các điều kiện
của cạnh tranh, khả năng sử dụng ưu thế quốc gia và thế giới về công nghệ
nguồn vốn, hàng hoá, mở rộng quy mô hoạt động...
+ Tỷ giá hối đoái và khả năng chuyển đổi của đồng tiền quốc gia (nội tệ)
Độ ổn định của đồng tiền nội tệ, xu hướng tăng giảm giá của đồng nội tệ,
việc lựa chọn ngoại tệ, trong giao dịch thương mại... ảnh hưởng lớn đến khả

năng phân phối (đầu tư) có hiệu quả các nguồn vốn, khả năng quản lý có hiệu
quả các nguồn vốn trong kinh doanh thể hiện qua các chỉ tiêu:
- Vốn chủ sở hữu (vốn tự có): Độ lớn (khối lượng) tiền của chủ sở hữu
hoặc của các cổ đông tham gia góp vốn vào doanh nghiệp. Là yếu tố chủ chốt
quyết định đến quy mô của doanh nghiệp và quy mô (tầm cỡ) cơ hội có thể khai
thác.
- Vốn huy động: Vốn vay, trái phiếu doanh nghiệp... phản ánh khả năng
thu hút các nguồn đầu tư trong nền kinh tế vào hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp (do nhiều yếu tố tác
động) là khác nhau. Yếu tố này tham gia vào việc hình thành và khai thác cơ hội
của doanh nghiệp.
- Tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận: Chỉ tiêu được tính theo % từ nguồn lợi
nhuận thu được giành cho bổ sung nguồn vốn tự có. Phản ánh khả năng tăng
trưởng vốn tiềm năng và quy mô kinh doanh mới.
- Giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường: Thường biến động, thậm
chí rất lớn. Phản ánh xu thế phát triển của doanh nghiệp và là sự đánh giá của thị
trường về sức mạnh (hiệu quả) của doanh nghiệp trong kinh doanh.
- Khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn: Bao gồm các khả năng trả lãi cho
nợ dài hạn (từ lợi nhuận) và khả năng trả vốn trong nợ dài hạn (liên quan đến cơ
cấu vốn dài hạn), nguồn tiền mặt và khả năng nhanh chóng chuyển thành tiền
mặt để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn (tài khoản vãng lai) - thường thể hiện
qua vòng quay vốn lưu động, vòng quay dự trữ hàng hoá, vòng qua tài khoản
thu/chi... phản ánh mức độ “lành mạnh” của tài chính doanh nghiệp, có thể liên
quan trực tiếp đến phá sản hoặc vỡ nợ.
- Các tỷ lệ khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả đầu tư và kinh doanh của
doanh nghiệp. Có thể qua các chỉ tiêu cơ bản: % lợi nhuận trên doanh thu (lượng
lợi nhuận thu được trên một đơn vị tiền tệ doanh thu), tỷ suất thu hồi đầu tư (%
về số lợi nhuận thu được trên tổng số vốn đầu tư).
*. Tiềm năng con người:
SV: Vũ Văn Tuyến - Marketing 44B

chỉ đến những vấn đề về đội ngũ lao động hiện tại mà còn tạo khả năng thu hút
nguồn lao động xã hội nhằm kiến tạo được cho doanh nghiệp một đội ngũ lao
động:
SV: Vũ Văn Tuyến - Marketing 44B
Chuyên đề tốt nghiệp
-Trung thành và luôn hướng về doanh nghiệp
-Có khả năng chuyên môn cao, lao động giỏi, năng suất và sáng tạo.
-Có sức khoẻ, có khả năng hoà nhập và đoàn kết tốt.
*. Tiềm lực vô hình (tài sản vô hình)
Tiềm lực vô hình tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp trong hoạt động
thương mại thông qua khả năng “bán hàng” gián tiếp của doanh nghiệp. Sức
mạnh thể thiện ở khả năng và tác động đến sự lựa chọn, chấp nhận và quyết định
mua hàng của khách hàng. Vô hình bởi người ta không lượng hoá được một
cách trực tiếp mà phải “đo” qua các tham số trung gian.
Tiềm lực vô hình không tự nhiên mà có. Tuy có thể được hình thành một
cách tự nhiên, nhưng nhìn chung tiềm lực vô hình cần được tạo dựng một cách
có ý thức thông qua các mục tiêu và chiến lược xây dựng tiềm lực vô hình cho
doanh nghiệp và cần chú ý đến khía cạnh này trong tất cả các hoạt động của
doanh nghiệp.
Có nhiều nội dung khác nhau có thể sử dụng khi xác định và phát triển
tiềm lực vô hình.
+ Hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường :
Một hình ảnh “tốt” về doanh nghiệp liên quan đến hàng hoá, dịch vụ, chất
lượng sản phẩm, thái độ đối với khách hàng, giá cả... là cơ sở tạo ra sự quan tâm
của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệp. Sự “cảm tình”, “tin cậy”, “hiểu
biết đầy đủ” về doanh nghiệp (thể chế) có thể giúp đỡ nhiều cho việc ra quyết
định có tính “ưu tiên” khi mua hàng của khách hàng. Điều này cho phép doanh
nghiệp “dễ” bán được sản phẩm của mình hơn.
+ Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hoá:
Hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp thường liên quan đến khả năng bán

không đảm bảo được sự ổn định, chủ động về nguồn cung cấp hàng hoá cho
doanh nghiệp có thể phá vỡ hoặc làm hỏng hoàn toàn chương trình kinh doanh
của doanh nghiệp.
*. Trình độ tổ chức - quản lý:
Ảnh hưởng đến kết quả toàn bộ hệ thống nhưng không chỉ mình nó mà
luôn phụ thuộc ít nhất vào cách thức và kết quả của một phần tử khác (2).
-Hệ thống luôn được hình thành bởi các phần tử đã được tập hợp thành
các tập hợp con. Các tập hợp con này xuất hiện trong tập hợp lớn với tư cách là
các phần tử có tính chất (1) và (2).
Một cách khác, một hệ thống là một tổng thể mà nó không thể chia cắt
được thành các bộ phận có ảnh hưởng độc lập đói với nó. Và như vậy, kết quả
thực hiện của một hệ thống (doanh nghiệp) không chỉ là tổng của kết quả thực
SV: Vũ Văn Tuyến - Marketing 44B
Chuyên đề tốt nghiệp
hiện của các bộ phận, chức năng, nghiệp vụ được xem xét riêng biệt, mà nó là
hàm số của những tương tác giữa chúng. Điều đó có nghĩa là: khi mỗi một bộ
phận, chức năng, nghiệp vụ của doanh nghiệp được tách riêng ra để thực hiện,
tốt như nó có thể, thì toàn bộ hệ thống sẽ không thực hiện được tốt như nó có
thể. Một doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu của mình thì đồng thời phải đạt
đến một trình độ tổ chức, quản lý tương ứng. Khả năng tổ chức, quản lý doanh
nghiệp dựa trên quan điểm tổng hợp,bao quát tập trung vào những mối quan hệ
tương tác của tất cả các bộ phận tạo thành tổng thể tạo nên sức mạnh thật sự cho
doanh nghiệp trong doanh nghiệp.
*. Trình độ tiên tiến của trang thiết bị, công nghệ, bí quyết công nghệ của
doanh nghiệp:
Ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chi phí, giá thành và chất lượng hàng
hoá được đưa ra đáp ứng khách hàng. Liên quan đến mức độ (chất lượng) thoả
mãn nhu cầu, khả năng cạnh tranh, lựa chọn cơ hội và các tác nghiệp khác của
doanh nghiệp trên thị trường.
*. Vị trí địa lý, cơ sở vật chất - kỹ thuật của doanh nghiệp:

nhau và đòi hỏi nhà xuất khẩu phải hết sức thận trọng, linh hoạt để nắm bắt được
thời cơ, giảm rủi ro và thu được lợi nhuận cao nhất. Tuỳ theo các loại hình xuất
khẩu khác nhau mà số bước thực hiện cũng như các hình thức tiến hành có
những nét khác nhau. Song về cơ bản, nội dung của hoạt động xuất khẩu thường
bao gồm những vấn đề chủ yếu sau đây:
1. Nghiên cứu thị trường.
Nghiên cứu thị trường là công việc cần thiết đầu tiên đối với bất cứ một
nhà kinh doanh nào muốn tham gia vào thị trường thế giới. Việc nghiên cứu thị
trường tốt sẽ tạo khả năng cho các nhà kinh doanh nhận ra được quy luật vận
động của từng loại hàng hoá cụ thể thông qua sự biến đổi nhu cầu, hàng cung
ứng, giá cả trên thị trường, qua đó giúp nhà kinh doanh giải quyết được các vấn
đề của thực tiễn kinh doanh cũng như yêu cầu của thị trường.
Nghiên cứu thị trường theo nghĩa rộng là quá trình điều tra để tìm thị
trường cho một sản phẩm cụ thể hay một nhóm sản phẩm, kể cả phương pháp để
thực hiện mục tiêu đó. Hoặc cũng có thể hiểu đó là quá trình thu nhập thông tin,
số liệu về thị trường, so sánh, phân tích số liệu đó và rút ra kết luận. Những kết
luận này sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn để lập kế hoạch
SV: Vũ Văn Tuyến - Marketing 44B
Chuyên đề tốt nghiệp
MARKETING... Chính vì thế, nghiên cứu thị trường là một hoạt động đóng vai
trò ngày càng quan trọng giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn trong
hoạt động xuất khẩu của mình.
Có thể nói nghiên cứu thị trường là một công việc khá phức tạp vì nó trải
ra trong một khoảng không gian rộng với sự khác biệt về lịch sử, điều kiện địa lý
tự nhiên và cả môi trường văn hoá. Nó đòi hỏi người nghiên cứu phải có khả
năng phân tích, giải thích được những hành vi, thái độ cơ bản trong kinh doanh
và tiêu dùng của thị trường... Chính vì thế, việc nghiên cứu thị trường Quốc tế
gắn liền với chi phí cao và phải đầu tư một lượng thời gian lớn.
Đối với việc xuất khẩu thịt lợn ra thị trường nước ngoài đòi hỏi các nhà
nghiên cứu thị trường phải lắm rõ tất cả các đặc tính, mức tiêu thụ, khả năng

* Những khách hàng nào sẽ có nhu cầu về sản phẩm của doanh nghiệp ?
* Người tiêu dùng muốn gì và cần gì ?
* Làm thế nào để thoả mãn nhu cầu và thị hiếu của khách hàng ?
* Sức mua của thị trường với sản phẩm của doanh nghiệp.
* Phương thức phân phối sản phẩm và mạng lưới tiêu thụ nào sẽ phù hợp
và đạt hiệu quả nhất.
* Thời điểm nào sẽ đưa sản phẩm ra thị trường ?
Sau khi giải đáp được những câu hỏi trên, nhà xuất khẩu cần phải có kế
hoạch đưa sản phẩm ra thị trường một cách cụ thể, có chiến lược đảm bảo được
những yêu cầu về mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp đã đề ra.
Việc giải đáp những câu hỏi trên thường không đồng nhất giữa những
người được giao nhiệm vụ nghiên cứu, thăm dò và khảo sát thị trường. Điều này
cũng dễ hiểu bởi trình độ nhận thức và khả năng của mỗi người khác nhau. Do
đó, không thể cử duy nhất một người đi tìm hiểu thị trường mà phải cử nhiều
người và trên cơ sở đánh giá của mỗi người để tìm ra những ý kiến đồng nhất,
những ý kiến xác đáng nhất (trong những ý kiến đồng nhất) sẽ đánh giá được
thực chất nhu cầu, thị trường và sức mua của người tiêu dùng.
Một điều mà nhà xuất khẩu phải luôn ghi nhớ rằng nghiên cứu thị trường
không có nghĩa là xác định nhu cầu, thị hiếu, sức mua ... Hiện nay tại thị trường
mà phải cao hơn thế, xa hơn thế là tìm được khuynh hướng của thị trường để sản
phẩm của doanh nghiệp luôn luôn hấp dẫn và thuyết phục người tiêu dùng.
Ngoài ra cần thu hút được những khách hàng tiềm ẩn mà doanh nghiệp muốn
hướng tới.
Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát thị trường điều quan trọng hơn cả
đối với nhà sản xuất là tìm hiểu sự biến động giá cả trên thị trường quốc tế của
SV: Vũ Văn Tuyến - Marketing 44B
Chuyên đề tốt nghiệp
mặt hàng xuất khẩu. Vì vậy, nhà xuất khẩu cần có đầy đủ thông tin về vấn đề
này để có những quyết định kịp thời. Bên cạnh đó, do hàng hoá xuất khẩu
thường phải đi qua các nước, các khu vực khác nhau, do đó sự thay đổi giá cả

SV: Vũ Văn Tuyến - Marketing 44B
Chuyên đề tốt nghiệp
* Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc kinh doanh thông qua một số
các chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ.
- Chỉ tiêu thời gian hoà vốn.
- Chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi.
- Chỉ tiêu điểm hoà vốn.
3 - Tổ chức thực hiện kế hoạch xuất khẩu.
3.1 - Tạo nguồn hàng xuất khẩu.
Tạo nguồn hàng cho xuất khẩu là toàn bộ hoạt động từ đầu tư, sản xuất
cho các nghiệp vụ nghiên cứu thị trường, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng,
vận chuyển, bảo quản ... Nhằm tạo ra hàng hoá có đầy đủ tiêu chuẩn cần thiết
cho xuất khẩu. Như vậy công tác tạo nguồn cho xuất khẩu có thể được chia
thành hai hoạt động chính:
* Hoạt động sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Đối với doanh nghiệp sản xuất
hàng hoá xuất khẩu thì đây là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất.
* Những hoạt động nghiệp vụ phục vụ cho công tác tạo ra nguồn hàng
cho xuất khẩu, thường do các tổ chức ngoại thương làm chức năng trung gian.
Như đã biết, phần lớn các hoạt động nghiệp vụ tổ chức thu mua tạo nguồn
hàng xuất khẩu chỉ làm tăng thêm chi phí thuộc chi phí lưu thông chứ không làm
tăng thêm giá trị sử dụng của hàng hoá. Do vậy các nhà xuất khẩu cần nghiên
cứu để đơn giản hoá các nghiệp vụ nhằm tăng lợi nhuận cho mình.
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, hệ thống các đại lý thu
mua hàng xuất khẩu được coi là nhân tố quan trọng mang tính quyết định trực
tiếp đến chất lượng của hàng xuất khẩu, đến tiến độ giao hàng, thực hiện hợp
đồng, uy tín của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh. Thực tế cho thấy một
doanh nghiệp xuất khẩu mạnh không phải chỉ vì dài vốn mà do có hệ thống
khách hàng lớn, hệ thống đại lý thu mua rộng khắp, hoạt động thường xuyên,
bám sát thị trường.

Hệ thống thu mua bao gồm: mạng lưới các đại lý, hệ thống kho tàng ở các
địa phương, các khu vực có loại hàng thu mua. Chi phí này lớn do vậy doanh
nghiệp phải có sự lựa chọn cân nhắc trước khi chọn đại lý và xây dựng kho, đặc
biệt là những kho đòi hỏi phải trang bị những phương tiện hiện đại, đắt tiền. Hệ
thống thu mua đồng thời phải gắn với các phương án vận chuyển hàng hoá, với
điều kiện giao thông của các địa phương.
Ngoài ra đầu tư cho người sản xuất cũng là một cách làm chắc chắn, lâu
dài để đảm bảo có nguồn hàng ổn định trước sự tranh mua trên thị trường nội
địa. Tuy vậy, do yêu cầu của đầu tư nên các doanh nghiệp phải có vốn lớn và
cũng chứa đựng nhiều rủi ro do sự biến động của thị trường, nhất là khi giá cả
trên thị trường hạ xuống dưới mức kinh doanh có lãi. Trong việc này đòi hỏi các
doanh nghiệp phải có đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật cao, hiểu biết về sản
phẩm, am hiểu tình hình thị trường. Điều này không phải bao giờ các nhà xuất
khẩu cũng làm được bởi ngày nay có nhiều sản phẩm thuộc loại kỹ thuật cao,
phức tạp và rất đa dạng.
- Ký kết hợp đồng thu mua.
Phần lớn khối lượng hàng hoá được mua bán giữa các doanh nghiệp ngoại
thương với các nhà sản xuất hoặc các khách hàng thông qua hợp đồng thu mua,
đổi hàng, gia công ... Do vậy việc ký kết hợp đồng có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu. Dựa trên những thoả thuận và
tự nguyện, các bên ký kết hợp đồng làm cơ sở vững chắc đảm bảo cho các hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách bình thường. Đây chính là
cơ sở pháp lý cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người cung cấp hàng.
- Xúc tiến khai thác nguồn hàng xuất khẩu.
Sau khi đã ký kết hợp đồng với các khách hàng và các đơn vị sản xuất, nhà
xuất khẩu phải lập được kế hoạch thu mua, tiến hành sắp xếp các phần việc phải làm
và chỉ đạo các bộ phận làm việc theo kế hoạch. Cụ thể gồm những phần việc sau:
- Đưa hệ thống kênh thu mua đã được thiết lập vào hoạt động.
- Chuẩn bị đầy đủ các thủ tục giấy tờ giao nhận hàng theo hợp đồng đã
ký.

điện tín để khắc phục nhược điểm này.
SV: Vũ Văn Tuyến - Marketing 44B
Chuyên đề tốt nghiệp
Đàm phán bằng gặp gỡ trực tiếp: Gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên để trao đổi
mọi điều kiện buôn bán là một hình thức đặc biệt quan trọng. Hình thức này đẩy
nhanh tốc độ giải quyết mọi vấn đề giữa hai bên và nhiều khi là lối thoát cho
những đàm phán bằng thư tín đã kéo dài quá lâu mà không có kết quả. Đàm
phán bằng gặp gỡ trực tiếp tuy hiệu quả hơn hình thức bằng thư tín, điện tín,
song đây cũng là hình thức đàm phán khó khăn nhất, đòi hỏi người tiến hành
đàm phám phải giỏi nghiệp vụ, tự tin, phản ứng nhạy bén đủ tỉnh táo và bình
tĩnh dò xét ý đồ của đối phương.
- Mặc dù có sự khác nhau giữa các hình thức đàm phán song nhìn chung
các cuộc đàm phán đều tập trung giải quyết những nội dung sau:
Chào giá (phát giá): Là việc nhà kinh doanh thể hiện rõ ý định bán hàng
của mình là thời cơ đề nghị ký kết hợp đồng. Trong chào hàng, nhà xuất khẩu
phải nêu rõ tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lượng, điều kiện, cơ sở giao hàng,
giá cả ...
Hoàn giá (mặc cả): Trong trường hợp người nhận được chào hàng không
chấp nhận hoàn toàn chào hàng đó mà muốn đưa ra đề nghị mới thì đề nghị mới
gọi là hoàn giá. Mỗi lần giao dịch thường phải trải qua nhiều lần hoàn giá mới đi
đến kết thúc.
Chấp nhận: Là sự đồng ý tất cả các điều kiện của chào hàng hoặc sau khi
đã hoàn giá, do cả hai phía cùng chấp nhận. Khi đó hợp đồng được thành lập.
Xác nhận: Sau khi hai bên mua bán đã thống nhất thoả thuận với nhau về
các điều kiện giao dịch, có ghi lại cẩn thận các điều khoản đã thoả thuận rồi gửi
cho bên kia. Đó là văn bản xác nhận thường được lập thành 2 bản, bên xác nhận
ký trước rồi gửi cho bên kia. Bên kia ký xong trả lại một bản và giữ lại một bản.
Sau khi hai bên tiến hành giao dịch đàm phán có kết quả sẽ tiến hành ký
kết hợp đồng kinh tế - Hợp đồng thương mại Quốc tế. Nội dung của hợp đồng
phải thể hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền hạn của cả hai bên tham gia ký kết. Hợp

Kiểm tra
L/C
Xin giấy
phép xuất
khẩu
Chuẩn bị
hàng hoá
Giao hàng
lên tàu
Làm thủ
tục hải
quan
Kiểm
nghiệm
hàng hoá
Uỷ thác
thuê tàu
Mua bảo
hiểm
Làm thủ
tục thanh
toán
Giải quyết
khiếu nại

Trích đoạn Các yếu tố nguồn lực của Công ty Tình hình XNK năm 2002, 2004 của toàn công ty Thị trường xuất khẩu thịt lợn Hình thức xuất khẩu mặt hàng thịt lợn của Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam. Những tồn tại trong việc thúc đẩy xuất khẩu thịt lợn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status