ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN ĐỨC THIỆN
QUẢN LÝ SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN
THEO MÔ HÌNH VNEN Ở TRƯỜNG TIỂU
HỌC THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN NGÀNH: KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS-TS Nguyễn Đức Sơn
Thái Nguyên – 2015
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tổ chuyên môn là một đơn vị cơ sở của nhà trường, giữ vị trí rất quan trọng
trong hoạt động nhà trường. Đó là nơi người thầy giáo sinh hoạt chuyên môn, là nơi
diễn ra các hoạt động như soạn giáo án, giúp nhau bồi dưỡng chuyên môn, tổ chức
kiểm tra đánh giá, sinh hoạt tư tưởng và tinh thần. Người Hiệu trưởng phải quản lý
tổ chuyên môn một cách khoa học, qua tổ chuyên môn để quản lý con người và
quản lý công việc. Đặc biệt là từ năm học 2012-2013 Bộ GD&ĐT triển khai dạy
học và đánh giá tình hình học tập của học sinh ở các lớp triển khai mô hình VNEN.
Đây là một nội dung mới đối với các trường thực hiện thí điểm để những năm học
được lựa chọn là: “ Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở
trường tiểu học thành phố Việt Trì.”
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo
mô hình VNEN, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sinh hoạt tổ chuyên môn,
góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
3.1.
Đối tượng nghiên cứu.
Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở các trường tiểu học.
3.2.
Khách thể nghiên cứu.
Công tác quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng trường tiểu học.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
4.1.
Giới hạn về đối tượng nghiên cứu.
Đề tài chỉ nghiên cứu quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN
Giới hạn về địa bàn nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu 20 trường tiểu học trên địa bàn
thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
4.2.
Giới hạn về khách thể điều tra.
Đề tài điều tra về công tác quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn của 300 cán bộ quản
7.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học.
Dùng để xử lý các kết quả khảo sát thực tiễn, giúp phân tích mối quan hệ giữa
các kết quả khảo sát được trong thực tiễn.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SINH HOẠT TỔ CHUYÊN
MÔN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
1.1.1. Ở nước ngoài.
Mô hình trường học mới khởi nguồn từ Côlômbia từ những năm 1995-2000 để
dạy học trong những lớp ghép ở vùng miền núi khó khăn, theo nguyên tắc lấy học
sinh làm trung tâm. Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường
học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương
trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy - học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lí lớp
học, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy- học. Mô hình này được nhiều nước trên thế giới
thực hiện.
1.1.2. Trong nước.
Nền giáo dục cách mạng Việt Nam với nhiều lần cải cách giáo dục. Giáo dục Việt
Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn lao, trình độ dân trí được nâng cao, chất lượng
giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực, cơ sở vật chất các nhà trường được đầu tư
theo hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, giáo dục nước ta vẫn còn nhiều yếu
kém, bất cập. Nguyên nhân của những yếu kém, bấp cập của nền giáo dục nước ta thì
có nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân không thể không kể đến đó là do:
những yếu tố chủ quan, trình độ quản lý giáo dục chưa thích ứng với sự thay đổi cơ
chế từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh kế nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa; chậm đổi mới cả về tư
Một số khái niệm cơ bản.
1.2.1. Quản lý.
Từ buổi bình minh của lịch sử loài người, con người đã biết tập hợp nhau lại
để sống và lao động nhằm mục tiêu ban đầu mang đậm tính bản năng, đó là chống lại
sự tấn công của thú dữ. Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, hoạt động
lao động manh mún mang tính tự phát dần được thay thế bằng các hoạt động lao động
có tổ chức chặt chẽ hơn để phát huy được sức mạnh của cộng đồng. Khi xã hội phát
triển đến một trình độ nhất định thì cần có những người đứng ra tập hợp một số người
trong cộng đồng thành một nhóm để thực hiện những nhiệm vụ lao động chuyên biệt,
lúc ấy manh nha xuất hiện hoạt động phân công lao động cho các thành viên trong
nhóm. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, dưới đây là một số quan niệm
của các tác giả có tên tuổi trong lĩnh vực nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục:
Trong tập bài giảng Quản lý Giáo dục và Đào tạo PGS-TS Nguyễn Thị Tính
cho rằng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục
"
tiêu đề ra [ 22; 2]
Khái niệm “quản lý” được PGS-TS Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý là những
tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều
chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức một
cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [ 16; 6 ]
Như vậy, ta có thể hiểu: Quản lý là tập hợp các tác động có mục đích, có kế
hoạch, có phương pháp của người quản lý tới người được quản lý để đạt được mục
tiêu quản lý.
1.2.2. Tổ chuyên môn.
chất lượng giáo dục.
1.2.3. Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn.
Tại điểm 5 Điều 20 Điều lệ trường Tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số
41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo quy định Hiệu trưởng trường Tiểu học có 8 nhiệm vụ sau đây:
a) Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện
kế hoạch dạy học, giáo dục; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng
trường và các cấp có thẩm quyền;
b) Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà
trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó;
c) Phân công, quản lí, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên
chuyển; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;
d) Quản lí hành chính; quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài
sản của nhà trường;
e) Quản lí học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp nhận,
giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỉ luật, phê duyệt kết quả
đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận
việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối
tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;
g) Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; tham gia
giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính
sách ưu đãi theo quy định;
h) Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã
hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;
i) Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã
hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng
đồng.
Như vậy, trong thực thi nhiệm vụ của mình theo quy định tại Điều lệ trường
tổ chức quản lý
Các nguyên tắc
hoạt động quản lý
Tính đảng, tính
giai cấp
Thống nhất trong
hệ thống quản lý
Hiệu quả
quản lý
Kết hợp nhà
nước và nhân
dân
Kết hợp quản lý
theo ngành và
lãnh thổ
Kết hợp
các lợi ích
Tập trung
dân chủ
Kết hợp tập thể,
cá nhân, chế độ
-
Chấn chỉnh hoạt động của tổ chủ nhiệm và các đoàn thể trong nhà trường.
-
Đổi mới quản lý hoạt động dạy học và bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội
ngũ giáo viên.
-
Tăng cường quản lý hoạt động học tập của học sinh.
-
Phối hợp chặt chẽ hoạt động của Hội cha mẹ học sinh và các lực lượng giáo
dục khác.
-
Bảo đảm các điều kiện thiết yếu về cơ sở vật chất, thiết bị đồ dùng và kinh phí
cho đổi mới PPDH.
Như vậy, ta có thể nói rằng Hiệu trưởng có vai trò rất quan trọng trong mọi
mặt sinh hoạt của tổ chuyên môn. Hiệu trưởng được xem như là “linh hồn” của tập
thể sư phạm. Những tư tưởng của người Hiệu trưởng sẽ ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu
cực đến các hoạt động của nhà trường nói chung và sinh hoạt của tổ chuyên môn nói
riêng.
1.3.
chúng ta tiếp cận theo quan điểm của “Quản lý chất lượng tổng thể” (TQM - Total
Quality Management) trong quản lý giáo dục thì cấp tiểu học là bên “cung ứng” các
“sản phẩm”, cấp trung học là “khách hàng” của cấp tiểu học. “Sản phẩm” của trường
tiểu học là “nguyên liệu” đầu vào của các trường THCS.
Các nhà trường tiểu học được xem là nền móng của chất lượng nguồn nhân
lực. Chúng ta không thể xây dựng một tòa nhà cao tầng trên một nền móng không
vững chắc. Bởi vậy, chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia muốn cao thì một điều
kiện tiên quyết đó là chất lượng giáo dục trong trường tiểu học.
Tổ chuyên môn như đã đề cập ở phần 1.2.2 của chương I, với tư cách là một
phần tử của “dây chuyền” trực tiếp tạo ra các “sản phẩm” nguồn nhân lực, thì có thể
nói rằng tổ chuyên môn có một vai trò và vị trí hết sức quan trọng trong “dây chuyền”
tạo ra các “sản phẩm” đó, các hoạt động của tổ chuyên môn quyết định trực tiếp đến
chất lượng giáo dục của nhà trường. Mặt khác, các mối quan hệ, các cách đối nhân xử
thế, môi trường giao tiếp ở tổ chuyên môn góp phần làm nên diện mạo văn hóa của
nhà trường.
1.3.2. Nội dung sinh hoạt của tổ chuyên môn.
Từ 3 nhiệm vụ của tổ chuyên môn, có thể thấy sinh hoạt của tổ chuyên môn có
những nội dung sau:
Lập kế hoạch hoạt động của tổ trên cơ sở kế hoạch hoạt động của nhà trường.
Tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục trên cơ sở kế hoạch đã lập và phân
phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo được nhà trường cụ thể hoá bằng thời
khoá biểu và và kế hoạch dạy học của các tổ chuyên môn.Phát hiện và bồi dưỡng học
sinh giỏi, phụ đạo học sinh có khó khăn trong học tập.
Thực hiện công tác chủ nhiệm lớp.
Thực hiện công tác bồi dưỡng giáo viên bằng nhiều hình thức khác nhau như:
tổ chức dự giờ đồng nghiệp, phân tích sư phạm các giờ dạy của đồng nghiệp, hội thảo
các chuyên đề về phương pháp dạy học và giáo dục thông qua các buổi sinh hoạt
chuyên môn hoặc tự nghiên cứu tài liệu. Ứng dụng thành tựu của khoa học và công
Xây dựng tập thể tổ thành một khối đoàn kết nhất trí, giúp nhau cùng tiến bộ.
Xây dựng kế hoạch giảng dạy trong tuần theo thời khóa biểu của nhà trường
cho tổ, xây dựng kế hoạch và nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu
của tổ.
Kiểm soát các khâu: soạn bài, giảng bài, chấm bài, chữa bài và đánh giá xếp
loại học sinh của từng thành viên trong tổ theo đúng các văn bản chỉ đạo của ngành.
Chủ trì các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn theo định kỳ một cách có hiệu quả
nhằm góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục.
Tổ chức cho các tổ viên làm và sử dụng đồ dùng dạy học, chỉ đạo ứng dụng
khoa học và công nghệ vào giảng dạy và giáo dục, tổ chức tổng kết và viết sáng kiến
kinh nghiệm của các thành viên trong tổ.
Tham gia kiểm tra, đánh giá giáo viên theo quyết định của Hiệu trưởng nhà
trường.
Giải đáp những ý kiến, thắc mắc của tổ viên trong phạm vi thẩm quyền của tổ
trưởng và đề đạt những ý kiến của tổ viên trong tổ không thuộc thẩm quyền của tổ
trưởng tới Hiệu trưởng giải quyết.
Từ những nhiệm vụ của tổ chuyên môn và nhiệm vụ của của Tổ trưởng chuyên
môn, trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi tổ trưởng chuyên môn phải đáp ứng được
những yêu cầu sau đây:
Yêu cầu về năng lực nhanh thích ứng với sự thay đổi. Trong một xã hội mà
nền kinh tế, xã hội, nhất là khoa học công nghệ luôn thay đổi và phát triển. Bởi vậy,
các lĩnh vực khác đặc biệt là giáo dục và đào tạo cũng phải thay đổi theo để đáp ứng
được với những yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội.
Yêu cầu về năng lực tự học. Tri thức của nhân loại tăng lên hàng ngày, trong
khi đó giáo dục nhà trường lại không thể cung cấp đầy đủ tri thức cho người học. Bởi
vậy, để không bị lạc hậu về tri thức nhằm đáp ứng yêu cầu công việc thì bắt buộc mọi
người phải liên tục cập nhật tri thức mới có liên quan đến công việc của mình.
Yêu cầu về năng lực quản lý, điều hành. Thực tế hiện nay, các tổ trưởng
Có nhiều quan điểm khác nhau về các chức năng của quản lý, PGS.TS Trần
Kiểm cho rằng có 4 chức năng [16; 45.], có tác giả cho rằng có 6 chức năng. Tuy
nhiên, tác giả nào cũng tập trung vào 4 chức năng chính sau: Chức năng kế hoạch,
chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra đánh giá.
1.4.1.1. Công tác lập kế hoạch.
Công tác lập kế hoạch là một hoạt động xác định mục tiêu, xác định những
công việc cần phải làm ở những khoảng thời gian xác định trong tương lai, xác định
những nguồn lực đảm bảo cho những công việc phải làm đó được thực thi. Lập kế
hoạch thực chất là chúng ta đi tìm các câu trả lời cho 4 câu hỏi:
- Những việc cần phải làm là những việc gì?
- Làm những việc đó bằng cách nào?
- Làm những việc đó vào những thời điểm nào?
- Những ai, những bộ phận nào sẽ làm những việc đó?
Chức năng lập kế hoạch là chức năng khởi đầu quan trọng nhất của công tác
quản lý, lập kế hoạch là một thành tố không thể thiếu đối với các nhà quản lý. Thực tế
chứng minh, các nhà quản lý thường làm việc theo thói quen và chỉ thực hiện chức
năng quản lý hàng ngày và mỗi khi có một vấn đề nào đó xuất hiện người quản lý
mới tập trung sức lực giải quyết mà không dành thời gian thích đáng cho việc lập kế
hoạch để cho mọi việc hoặc ít ra là nhiều việc xảy ra theo ý muốn của mình. Việc lập
kế hoạch là một hoạt động quản lý bao gồm phân tích môi trường bên ngoài, bên
trong của tổ chức, rồi xác định xứ mệnh của tổ chức, xác lập các mục tiêu, quyết định
các kế hoạch hành động hoặc các biện pháp cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu đó.
Lập kế hoạch là một quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương
thức hành động để đạt được các mục tiêu đó. Đứng về mặt lý luận người ta nói: nếu
không có các kế hoạch thì các nhà quản lý có thể không biết tổ chức và khai thác con
người cũng như các nguồn lực khác của tổ chức có hiệu quả, thậm chí không có một
ý tưởng rõ ràng về cái mà họ cần tổ chức và khai thác và không có kế hoạch thì các
nhà quản lý và nhân viên của họ có rất ít cơ hội để đạt được mục tiêu của mình,
tới mục tiêu dự kiến. Chủ thể quản lý cũng phải tự tổ chức mình, luôn cải tiến tổ chức
của chính mình, bằng cách đó mà nhân sức mạnh quản lý của bản thân.
Tổ chức trải qua 5 bước cụ thể sau:
Bước tiếp nhận các nguồn lực: bước này bao gồm tiếp nhận nguồn lực về con
người như: giáo viên, học sinh; cơ sở vật chất, thiết bị dạy học bổ sung; kinh phí.
Bước đưa nội dung kế hoạch đến những người thực hiện: trong bước này, người
tổ chức cần phải trình bày, giải thích, thuyết phục, phân tích và động viên, kích thích
người thực hiện. Nêu lên viễn cảnh của việc hoàn thành kế hoạch. Làm cho mọi
người tự giác chấp hành kế hoạch.
Bước thiết lập cấu trúc tổ chức bộ máy: bước này, cần phải bố trí, sắp xếp các
bộ phận và cá nhân, quy định chức năng, quyền hạn và biên chế nhân lực, phân công,
phân nhiệm đến từng người về từng mặt hoạt động của tổ chức.
Bước xác lập cơ chế phối hợp, cộng tác, giám sát: xác lập các mối quan hệ quản
lý ngang, dọc; quy định quyền hạn cân đối với trách nhiệm trong sự phối hợp và công
tác; chuyên môn hóa các chức năng riêng của từng bộ phận; thiết lập các cơ chế
thông tin liên hệ ngược, giám sát, trọng tài, can thiệp.
Bước nâng cao trình độ nghiệp vụ, cải thiện đời sống của cán bộ, giáo viên: Đây
là việc làm thường xuyên từ đầu đến cuối chu trình quản lý. Đối với nhà trường, làm
giàu nhân cách của giáo viên có nghĩa là làm cho tổ chức mạnh lên, làm cho hiệu quả
thực hiện kế hoạch được tăng lên. Theo mô hình VNEN tổ chức và cách thức tiến
hành sinh hoạt chuyên môn định kì của các trường (cụm trường) được thực hiện như
sau:
Xác định đối tượng, thời gian, địa điểm. Tất cả các giáo viên dạy trong cùng
một trường (cụm trường) : Khoảng 10 đến 20 GV (bao gồm cả các GV dạy và không
dạy theo mô hình VNEN). Định kì 2 tuần/lần. Cố định tại một trường có điều kiện
thuận lợi để hỗ trợ, đảm bảo cho chất lượng sinh hoạt chuyên môn và hoạt động hậu
cần cho các giáo viên ; hoặc thay đổi luân phiên giữa các trường trong cùng một cụm.
1.4.1.3.
cùng một trường (cụm trường). Tất cả các giáo viên này sẽ tự nghiên cứu những vấn
đề liên quan tới nội dung sinh hoạt chuyên môn định kỳ (theo kế hoạch của cụm,
trường) đã xây dựng. Đồng thời thảo luận những vấn đề mới, khó trong chương trình,
tài liệu ở mô hình trường học mới – VNEN cùng những vấn đề có thể nảy sinh trong
quá trình thực hiện chương trình. Tìm những giải pháp, biện pháp khả thi, phù hợp
với khả năng của GV trong tổ chuyên môn. Mặt khác, việc tổ chức tham dự những
tiết dạy thử nghiệm những nội dung đã thống nhất hoặc dự giờ để trao đổi, rút kinh
nghiệm là hết sức cần thiết và hữu ích.
Chia tổ, khối chuyên môn : Chia theo khối lớp 2, khối lớp 3, khối lớp 4, khối
lớp 5. Mỗi khối có một khối trưởng. Khối trưởng được bầu trong số khối trưởng
chuyên môn của các trường trong cụm sinh hoạt chuyên môn. Các thành viên sinh
hoạt trong tổ, khối chuyên môn : Tất cả các giáo viên cùng dạy trong khối lớp đó.
1.4.1.4. Công tác kiểm tra.
Đây là giai đoạn cuối cùng của chu trình quản lý. Giai đoạn này có những
nhiệm vụ cơ bản sau:
Đánh giá thực trạng kết thúc của hệ (theo kỳ hay năm học), xác định xem
mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt ở mức độ nào.
Phát hiện lệch lạc, sai sót, những gì trong kế hoạch còn chưa đạt được,
những khó khăn, yếu kém, trở ngại, thậm chí những thất bại, tìm hiểu nguyên nhân
của những lệch lạc, thiếu sót đã phát hiện.
Điều chỉnh kế hoạch, tìm biện pháp uốn nắn lệch lạc, loại trừ chúng nếu có
thể được.
Kiểm tra sẽ giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kế hoạch tiếp theo. Kiểm tra
tốt, đánh giá được sâu sắc và chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ thì đến kỳ kế hoạch
tiếp theo, việc chuẩn bị và soạn thảo kế hoạch mới sẽ thuận lợi, kế thừa được mặt
mạnh để phát huy, phát hiện được lệch lạc để uốn nắn, loại trừ.
Kiểm tra còn giúp cho việc thu nhận mối liên hệ ngược trong quá trình quản
Quản lý qua phương tiện.
Để quản lý có hiệu quả, người Hiệu trưởng cần phải sử dụng các phương tiện
quản lý. Các phương tiện quản lý chủ yếu của Hiệu trưởng thường là:
-
Các văn bản pháp quy.
-
Bộ máy nhân sự.
-
Các phương tiện thông tin.
-
Các nguồn lực.
Những quyết định của người quản lý được thể hiện qua các văn bản quản lý
như: văn bản pháp quy của các cấp quản lý, văn bản bổ sung của nhà trường. Những
văn bản này được ban hành buộc đối tượng quản lý phải thực hiện nhằm hiện thực
hóa các kế hoạch. Đối với người Hiệu trưởng, việc có trong tay các văn bản pháp quy
của các cấp quản lý là hết sức quan trọng. Hệ thống văn bản pháp quy sẽ giúp cho
Hiệu trưởng thực hiện việc quản lý nhà trường đúng quy định của cấp trên. Tuy nhiên
trên thực tế, mỗi một trường đều có những đặc điểm khác nhau. Bởi vậy, Hiệu trưởng
nhà quản lý kịp thời điều chỉnh các biện pháp thực thi kế hoạch cho phù hợp với diễn
biến của thực tiễn. Cũng qua phương tiện thông tin, đối tượng quản lý nắm bắt được
chủ trương, kế hoạch, biện pháp thực hiện và những kỳ vọng của nhà quản lý. Mặt
khác, phương tiện thông tin cũng là công cụ để nhà quản lý tổ chức bồi dưỡng nâng
cao chất lượng đội ngũ. Bước sang thế kỷ XXI, loài người đã bước sang nền văn
minh tin học. Máy tính và mạng máy tính toàn cầu đã trở thành một công cụ phổ biến
thông tin cực kỳ nhanh chóng và hiệu quả. Người Hiệu trưởng phải biết tận dụng ưu
thế này của CNTT để thực hiện các công việc bồi dưỡng đội ngũ như: tạo các diễn
đàn trao đổi về chuyên môn, nghiệp vụ; tổ chức cho giáo viên tìm kiếm thông tin để
thực hiện công tác tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ trên mạng máy tính toàn cầu.
Thực hiện bất kỳ một công việc nào cũng đều phải cần đến những điều kiện về
cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và một nguồn kinh phí nhất định. Các nguồn lực
như: cơ sở vật chất, nguồn kinh phí được phân bổ để cho tổ chuyên môn tổ chức các
hoạt động theo kế hoạch. Các nguồn lực này phải được Hiệu trưởng phân bổ một
cách công khai dựa trên khối lượng công việc thực tiễn mà Hiệu trưởng đã giao cho
các tổ. Ngoài ra, căn cứ vào việc sử dụng các nguồn lực này, Hiệu trưởng sẽ nắm bắt
được việc tổ chức thực hiện kế hoạch ở tổ chuyên môn diễn ra như thế nào. Trên cơ
sở đó có những đánh giá sơ bộ về hiệu quả hoạt động và có những tác động để điều
chỉnh những sai phạm nếu có.
1.4.3 Quản lý theo quá trình.
- Mục tiêu dạy học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh cần đạt
được trong một tương lai gần và là cột mốc mong muốn vươn tới của quá trình dạy
học. Mục tiêu dạy học là phương tiện để đạt được mục đích dạy học, làm cơ sở để xác
lập nội dung dạy học và kế hoạch hoạt động dạy học. Mục tiêu cũng quyết định hiệu
quả hoạt động dạy học. Quản lý mục tiêu đào tạo là nhà quản lý lấy mục tiêu đào tạo