ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN ĐỨC THIỆN
QUẢN LÝ SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN
THEO MÔ HÌNH VNEN Ở TRƢỜNG
TIỂU HỌC THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN NGÀNH: KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS-TS Nguyễn Đức Sơn
Thái Nguyên – 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tổ chuyên môn là một đơn vị cơ sở của nhà trường, giữ vị trí rất quan trọng
trong hoạt động nhà trường. Đó là nơi người thầy giáo sinh hoạt chuyên môn, là nơi
diễn ra các hoạt động như soạn giáo án, giúp nhau bồi dưỡng chuyên môn, tổ chức
kiểm tra đánh giá, sinh hoạt tư tưởng và tinh thần. Người Hiệu trưởng phải quản lý
tổ chuyên môn một cách khoa học, qua tổ chuyên môn để quản lý con người và
quản lý công việc. Đặc biệt là từ năm học 2012-2013 Bộ GD&ĐT triển khai dạy
Theo mô hình VNEN, sinh hoạt của tổ chuyên môn cần có những cải tiến
nhất định để đáp ứng các yêu cầu mới và nâng cao chất lượng giáo dục.
Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại thì nghiên cứu về quản lý sinh hoạt tổ
chuyên môn theo mô hình VNEN ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Việt
Trì, tỉnh Phú Thọ thì vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu. Vì vậy đề tài nghiên cứu
được lựa chọn là: “ Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở
trường tiểu học thành phố Việt Trì.”
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo
mô hình VNEN, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sinh hoạt tổ chuyên môn,
góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
3.1.
Đối tượng nghiên cứu.
Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở các trường tiểu học.
3.2.
Khách thể nghiên cứu.
Công tác quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng trường tiểu học.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
4.1.
Giới hạn về đối tượng nghiên cứu.
Đề tài chỉ nghiên cứu quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN
Giới hạn về địa bàn nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu 20 trường tiểu học trên địa bàn
thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu,... Thông qua đọc tài liệu của các tác
giả để xác định những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu. Các vấn đề lý
luận này sẽ làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp
và khả thi.
7.2. - Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Quan sát, điều tra, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, lấy ý kiến chuyên gia,...
nhóm phương pháp này dùng để khảo sát thực trạng sinh hoạt tổ chuyên môn và thực
trạng sử dụng các biện pháp quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn của các Hiệu trưởng.
7.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học.
Dùng để xử lý các kết quả khảo sát thực tiễn, giúp phân tích mối quan hệ giữa
các kết quả khảo sát được trong thực tiễn.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SINH HOẠT TỔ CHUYÊN
MÔN Ở CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC
1.1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
1.1.1. Ở nước ngoài.
Mô hình trường học mới khởi nguồn từ Côlômbia từ những năm 1995-2000 để
dạy học trong những lớp ghép ở vùng miền núi khó khăn, theo nguyên tắc lấy học
sinh làm trung tâm. Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường
học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương
trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy - học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lí lớp
học, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy- học. Mô hình này được nhiều nước trên thế giới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN4
tiểu học huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ - Nguyễn Thị Ngân - 2007.
Biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của Hiệu trưởng các trường tiểu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN5
học Huyện Tứ Kỳ - Hải Dương - Phù Thị Thanh Huệ - 2008.
Các luận văn kể trên chỉ nghiên cứu về quản lý tổ chuyên môn ở các trường
mầm non, tiểu học, THCS, THPT. Tính đến thời điểm này (năm 2014) trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu về công tác quản lý sinh hoạt tổ
chuyên môn theo mô hình VNEN ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Việt
Trì, tỉnh Phú Thọ.
1.2.
Một số khái niệm cơ bản.
1.2.1. Quản lý.
Từ buổi bình minh của lịch sử loài người, con người đã biết tập hợp nhau lại
để sống và lao động nhằm mục tiêu ban đầu mang đậm tính bản năng, đó là chống lại
sự tấn công của thú dữ. Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, hoạt động
lao động manh mún mang tính tự phát dần được thay thế bằng các hoạt động lao động
có tổ chức chặt chẽ hơn để phát huy được sức mạnh của cộng đồng. Khi xã hội phát
triển đến một trình độ nhất định thì cần có những người đứng ra tập hợp một số người
trong cộng đồng thành một nhóm để thực hiện những nhiệm vụ lao động chuyên biệt,
lúc ấy manh nha xuất hiện hoạt động phân công lao động cho các thành viên trong
nhóm. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, dưới đây là một số quan niệm
của các tác giả có tên tuổi trong lĩnh vực nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục:
Trong tập bài giảng Quản lý Giáo dục và Đào tạo PGS-TS Nguyễn Thị Tính
cho rằng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó;
c) Phân công, quản lí, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên
chuyển; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;
d) Quản lí hành chính; quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài
sản của nhà trường;
e) Quản lí học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp nhận,
giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỉ luật, phê duyệt kết quả
đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận
việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối
tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;
g) Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; tham gia
giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính
sách ưu đãi theo quy định;
h) Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã
hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;
i) Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã
hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng
đồng.
Như vậy, trong thực thi nhiệm vụ của mình theo quy định tại Điều lệ trường
Tiểu học, người Hiệu trưởng phải thực hiện rất nhiều công việc. Trong tám nhiệm vụ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN8
ở trên thì hai nhiệm vụ a và b nêu ở trên là hai nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu.
Như vậy, chúng ta thấy rằng quản lý dạy học và giáo dục là hoạt động trung
tâm của Hiệu trưởng mà tổ chuyên môn lại là nơi diễn ra các hoạt động quan trọng
đó.
Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng là những tác động tới các
Tính đảng, tính
giai cấp
Thống nhất trong
hệ thống quản lý
Hiệu quả
quản lý
Kết hợp nhà nước
và nhân dân
Kết hợp quản lý
theo ngành và
lãnh thổ
Kết hợp
các lợi ích
Tập trung
dân chủ
Kết hợp tập thể,
cá nhân, chế độ
một thủ trưởng
Chuyên môn
hóa
Pháp chế xã hội
ngũ giáo viên.
-
Tăng cường quản lý hoạt động học tập của học sinh.
-
Phối hợp chặt chẽ hoạt động của Hội cha mẹ học sinh và các lực lượng giáo
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
dục khác.
-
Bảo đảm các điều kiện thiết yếu về cơ sở vật chất, thiết bị đồ dùng và kinh phí
cho đổi mới PPDH.
Như vậy, ta có thể nói rằng Hiệu trưởng có vai trò rất quan trọng trong mọi
mặt sinh hoạt của tổ chuyên môn. Hiệu trưởng được xem như là “linh hồn” của tập
thể sư phạm. Những tư tưởng của người Hiệu trưởng sẽ ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu
cực đến các hoạt động của nhà trường nói chung và sinh hoạt của tổ chuyên môn nói
riêng.
1.3.
Nội dung sinh hoạt của tổ chuyên môn.
1.3.1. Trường Tiểu học và vai trò, vị trí của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học.
đứng vị trí thứ nhất trong giáo dục phổ thông, là cấp học nền tảng về các mặt đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản cho cấp Trung học cơ sở. Nếu
chúng ta tiếp cận theo quan điểm của “Quản lý chất lượng tổng thể” (TQM - Total
Quality Management) trong quản lý giáo dục thì cấp tiểu học là bên “cung ứng” các
“sản phẩm”, cấp trung học là “khách hàng” của cấp tiểu học. “Sản phẩm” của trường
tiểu học là “nguyên liệu” đầu vào của các trường THCS.
Các nhà trường tiểu học được xem là nền móng của chất lượng nguồn nhân
lực. Chúng ta không thể xây dựng một tòa nhà cao tầng trên một nền móng không
vững chắc. Bởi vậy, chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia muốn cao thì một điều
kiện tiên quyết đó là chất lượng giáo dục trong trường tiểu học.
Tổ chuyên môn như đã đề cập ở phần 1.2.2 của chương I, với tư cách là một
phần tử của “dây chuyền” trực tiếp tạo ra các “sản phẩm” nguồn nhân lực, thì có thể
nói rằng tổ chuyên môn có một vai trò và vị trí hết sức quan trọng trong “dây chuyền”
tạo ra các “sản phẩm” đó, các hoạt động của tổ chuyên môn quyết định trực tiếp đến
chất lượng giáo dục của nhà trường. Mặt khác, các mối quan hệ, các cách đối nhân xử
thế, môi trường giao tiếp ở tổ chuyên môn góp phần làm nên diện mạo văn hóa của
nhà trường.
1.3.2. Nội dung sinh hoạt của tổ chuyên môn.
Từ 3 nhiệm vụ của tổ chuyên môn, có thể thấy sinh hoạt của tổ chuyên môn có
những nội dung sau:
Lập kế hoạch hoạt động của tổ trên cơ sở kế hoạch hoạt động của nhà trường.
Tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục trên cơ sở kế hoạch đã lập và phân
phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo được nhà trường cụ thể hoá bằng thời
khoá biểu và và kế hoạch dạy học của các tổ chuyên môn.Phát hiện và bồi dưỡng học
sinh giỏi, phụ đạo học sinh có khó khăn trong học tập.
Thực hiện công tác chủ nhiệm lớp.
Thực hiện công tác bồi dưỡng giáo viên bằng nhiều hình thức khác nhau như:
tổ chức dự giờ đồng nghiệp, phân tích sư phạm các giờ dạy của đồng nghiệp, hội thảo
các chuyên đề về phương pháp dạy học và giáo dục thông qua các buổi sinh hoạt
trách. Tổ trưởng chuyên môn bao giờ cũng là người có năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ vững chắc, là người có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực QL điều hành tốt, đặc
biệt là người có uy tín cao trong tập thể nhà trường và tập thể tổ. Hiện nay, công việc
của người tổ trưởng chuyên môn thường phải thực hiện là:
Xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ trên cơ sở kế hoạch hoạt động của trường
và sự đóng góp của các tổ viên, đồng thời hướng dẫn tổ viên xây dựng kế hoạch hoạt
động chuyên môn của cá nhân.
Xây dựng tập thể tổ thành một khối đoàn kết nhất trí, giúp nhau cùng tiến bộ.
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Xây dựng kế hoạch giảng dạy trong tuần theo thời khóa biểu của nhà trường
cho tổ, xây dựng kế hoạch và nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu
của tổ.
Kiểm soát các khâu: soạn bài, giảng bài, chấm bài, chữa bài và đánh giá xếp
loại học sinh của từng thành viên trong tổ theo đúng các văn bản chỉ đạo của ngành.
Chủ trì các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn theo định kỳ một cách có hiệu quả
nhằm góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục.
Tổ chức cho các tổ viên làm và sử dụng đồ dùng dạy học, chỉ đạo ứng dụng
khoa học và công nghệ vào giảng dạy và giáo dục, tổ chức tổng kết và viết sáng kiến
kinh nghiệm của các thành viên trong tổ.
Tham gia kiểm tra, đánh giá giáo viên theo quyết định của Hiệu trưởng nhà
trường.
Giải đáp những ý kiến, thắc mắc của tổ viên trong phạm vi thẩm quyền của tổ
trưởng và đề đạt những ý kiến của tổ viên trong tổ không thuộc thẩm quyền của tổ
trưởng tới Hiệu trưởng giải quyết.
cũng cần có sự thay đổi cho phù hợp với hình thức giảng dạy và học tập theo mô hình
VNEN.
Tăng cường trao đổi kinh nghiệm trong quá trình thực hiện mô hình VNEN.
Sinh hoạt chuyên môn theo cụm trường là bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn ở các
lĩnh vực : Hoạt động giáo dục và hoạt động dạy học; Đánh giá kết quả giáo dục, kết
quả dạy và học. Về hoạt động giáo dục để hình thành và nâng cao năng lực tổ chức
hoạt động giáo dục cho GV dạy học ở mô hình trường học mới – VNEN
Tóm lại: Tổ trưởng chuyên môn chính là cánh tay nối dài của Hiệu trưởng, giúp
Hiệu trưởng quản lý mọi mặt hoạt động ở tổ chuyên môn. Tổ trưởng chuyên môn vừa
là một giáo viên, vừa là một nhà quản lý, lãnh đạo. Năng lực chuyên môn và năng lực
quản lý của người tổ trưởng sẽ là một trong các yếu tố rất quan trọng trong việc quyết
định đến chất lượng sinh hoạt của tổ chuyên môn.
1.4. Hiệu trưởng với vai trò quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN.
1.4.1. Quản lý của Hiệu trưởng đối với sinh hoạt của tổ chuyên môn theo mô
hình VNEN.
Quản lý theo chức năng là dựa vào những công việc của người quản lý phải
thực hiện để làm căn cứ tác động nhằm đạt được mục tiêu quản lý.
Có nhiều quan điểm khác nhau về các chức năng của quản lý, PGS.TS Trần
Kiểm cho rằng có 4 chức năng [16; 45.], có tác giả cho rằng có 6 chức năng. Tuy
nhiên, tác giả nào cũng tập trung vào 4 chức năng chính sau: Chức năng kế hoạch,
chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra đánh giá.
1.4.1.1. Công tác lập kế hoạch.
Công tác lập kế hoạch là một hoạt động xác định mục tiêu, xác định những
công việc cần phải làm ở những khoảng thời gian xác định trong tương lai, xác định
những nguồn lực đảm bảo cho những công việc phải làm đó được thực thi. Lập kế
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
hiện công việc một cách kinh tế. Trong khi lập kế hoạch chúng ta đã cân nhắc lợi hại
rồi tính toán sự hao phí các nguồn lực sao cho có lợi nhất ở các phương án hành
động. Làm cho người quản lý dễ dàng kiểm tra việc thực hiện công việc của mọi
người trong tổ chuyên môn. Phối hợp chặt chẽ với các trường bạn để lập kế họach
sinh hoạt tổ chuyên môn theo cụm trường.
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1.4.1.2.Công tác tổ chức.
Sau khi một kế hoạch đã được xây dựng một cách khoa học và đảm bảo tính khả
thi, bản kế hoạch đó phải được hiện thực hóa. Hiện thực hóa kế hoạch chính là khâu
tổ chức thực hiện kế hoạch.
Tổ chức là sắp đặt một cách khoa học những yếu tố con người, những hoạt động
tập thể người lao động thành một hệ toàn vẹn nhằm bảo đảm cho chúng tương tác với
nhau một cách tối ưu nhằm đạt tới mục tiêu của kế hoạch.
Tổ chức là phối hợp các tác động bộ phận lại với nhau làm cho chúng tạo nên
một tác động tích hợp, mà hiệu quả của tác động tích hợp này lớn hơn tổng hiệu quả
của tác động bộ phận. Cũng có thể nói, tổ chức là tạo nên sự cộng hưởng của các tác
động bộ phận.
Như vậy, tổ chức là nhân tố sinh thành ra hệ thống toàn vẹn, biến một tập thể
các thành tố rời rạc thành một hệ toàn vẹn, tạo ra cái gọi là hiệu ứng tổ chức, như
Lênin đã khẳng định: “Liệu một trăm có mạnh hơn một ngàn không? Có chứ! Khi mà
một trăm được tổ chức lại. Tổ chức sẽ nhân sức mạnh lên gấp mười lần”.
Trong quản lý, chủ thể phải tổ chức khách thể quản lý một cách khoa học để đạt
tới mục tiêu dự kiến. Chủ thể quản lý cũng phải tự tổ chức mình, luôn cải tiến tổ chức
của chính mình, bằng cách đó mà nhân sức mạnh quản lý của bản thân.
thuận lợi để hỗ trợ, đảm bảo cho chất lượng sinh hoạt chuyên môn và hoạt động hậu
cần cho các giáo viên ; hoặc thay đổi luân phiên giữa các trường trong cùng một cụm.
1.4.1.3.
Công tác chỉ đạo.
Chức năng chỉ đạo có ý nghĩa sau:
Chỉ đạo là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, là điều hành mọi
việc nhằm đảm bảo cho hệ quản lý vận hành thuận lợi. Chỉ đạo là biến mục tiêu dự
kiến thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực. Chỉ đạo là tổ chức một cách khoa
học lao động của cả tập thể người cũng như từng người.
Nội dung của việc chỉ đạo:
Nắm quyền chỉ huy, điều hành công việc làm cho các bộ phận thành phần
cũng như toàn bộ hệ quản lý phối hợp nhịp nhàng và vận hành thuận lợi.
Động viên, khuyến khích kịp thời và thường xuyên.
Giám sát tiến hành công việc, đánh giá thực trạng của hệ ngay trong khi hệ
đang hoạt động, công việc chưa kết thúc, đánh giá hoạt động của hệ xem có đúng với
quy định hay không; giám sát để trả lời các câu hỏi:
Công việc đến đâu rồi?
Có gì trục trặc không?
Cần thay đổi, thêm, bớt, can thiệp gì?
Điều chỉnh, uốn nắn, sửa đổi, thêm bớt mà không làm thay đổi hướng vận
hành của hệ; can thiệp vào sự vận hành của hệ loại trừ trục trặc, sửa chữa lệch lạc,
thay đổi thủ thuật mà vẫn giữ được tinh thần của kế hoạch, chiến lược chung của
chương trình hành động.
Phân công trách nhiệm cho các thành viên tham gia cuộc họp sinh hoạt
18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
của những lệch lạc, thiếu sót đã phát hiện.
Điều chỉnh kế hoạch, tìm biện pháp uốn nắn lệch lạc, loại trừ chúng nếu có
thể được.
Kiểm tra sẽ giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kế hoạch tiếp theo. Kiểm tra
tốt, đánh giá được sâu sắc và chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ thì đến kỳ kế hoạch
tiếp theo, việc chuẩn bị và soạn thảo kế hoạch mới sẽ thuận lợi, kế thừa được mặt
mạnh để phát huy, phát hiện được lệch lạc để uốn nắn, loại trừ.
Kiểm tra còn giúp cho việc thu nhận mối liên hệ ngược trong quá trình quản
19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
lý, giúp chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý. Có thể nói rằng,
không có kiểm tra thì không có quản lý.
Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ chặt chẽ, tương tác lẫn nhau.
Việc phân chia thành bốn giai đoạn quản lý này giúp cho chủ thể có định hướng
chính xác, đúng đắn vào công việc trọng tâm của từng giai đoạn và tính toán đầu tư
hợp lý kinh phí, nhân lực cho những giai đoạn cần thiết.
Hoạt động kiểm tra, đánh giá có thể xuất hiện trong tất cả các giai đoạn chứ
không chỉ ở giai đoạn cuối của chu kỳ. Chu kỳ quản lý nói chung, chu kỳ quản lý
giáo dục nói riêng có mối quan hệ giữa các giai đoạn như sau:
Kế hoạch
hóa
Kiểm tra,
đánh giá
Bộ máy nhân sự.
-
Các phương tiện thông tin.
-
Các nguồn lực.
Những quyết định của người quản lý được thể hiện qua các văn bản quản lý
như: văn bản pháp quy của các cấp quản lý, văn bản bổ sung của nhà trường. Những
văn bản này được ban hành buộc đối tượng quản lý phải thực hiện nhằm hiện thực
hóa các kế hoạch. Đối với người Hiệu trưởng, việc có trong tay các văn bản pháp quy
của các cấp quản lý là hết sức quan trọng. Hệ thống văn bản pháp quy sẽ giúp cho
Hiệu trưởng thực hiện việc quản lý nhà trường đúng quy định của cấp trên. Tuy nhiên
trên thực tế, mỗi một trường đều có những đặc điểm khác nhau. Bởi vậy, Hiệu trưởng
mỗi trường đều phải xây dựng cho trường mình những quy định riêng phù hợp.
Những quy định riêng này được xây dựng dựa trên cơ sở các văn bản pháp quy do
các cơ quan quản lý cấp trên ban hành. Những quy định riêng này phải tuân thủ các
yêu cầu sau đây:
+ Không trái với các văn bản pháp quy của cấp trên.
+ Phù hợp với thực tiễn của nhà trường.
+ Được cấp trên phê duyệt.
+ Được toàn thể cán bộ, giáo viên đồng tình.
Tổ chức nhân sự: Trong nhà trường, thường phải tổ chức rất nhiều công việc.
Mặc nhiên, những công việc đó một mình Hiệu trưởng không thể gánh vác hết được.
Bởi vậy, những công việc đó phải được phân chia cho các cán bộ, giáo viên, nhân
viên trong nhà trường. Việc phân chia công việc cho các thành viên trong nhà trường
thế này của CNTT để thực hiện các công việc bồi dưỡng đội ngũ như: tạo các diễn
đàn trao đổi về chuyên môn, nghiệp vụ; tổ chức cho giáo viên tìm kiếm thông tin để
thực hiện công tác tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ trên mạng máy tính toàn cầu.
Thực hiện bất kỳ một công việc nào cũng đều phải cần đến những điều kiện về
cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và một nguồn kinh phí nhất định. Các nguồn lực
như: cơ sở vật chất, nguồn kinh phí được phân bổ để cho tổ chuyên môn tổ chức các
hoạt động theo kế hoạch. Các nguồn lực này phải được Hiệu trưởng phân bổ một
cách công khai dựa trên khối lượng công việc thực tiễn mà Hiệu trưởng đã giao cho
các tổ. Ngoài ra, căn cứ vào việc sử dụng các nguồn lực này, Hiệu trưởng sẽ nắm bắt
được việc tổ chức thực hiện kế hoạch ở tổ chuyên môn diễn ra như thế nào. Trên cơ
sở đó có những đánh giá sơ bộ về hiệu quả hoạt động và có những tác động để điều
chỉnh những sai phạm nếu có.
1.4.3 Quản lý theo quá trình.
- Mục tiêu dạy học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh cần đạt
được trong một tương lai gần và là cột mốc mong muốn vươn tới của quá trình dạy
học. Mục tiêu dạy học là phương tiện để đạt được mục đích dạy học, làm cơ sở để xác
lập nội dung dạy học và kế hoạch hoạt động dạy học. Mục tiêu cũng quyết định hiệu
quả hoạt động dạy học. Quản lý mục tiêu đào tạo là nhà quản lý lấy mục tiêu đào tạo
22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
làm căn cứ để định hướng cho tổ chức các hoạt động của đơn vị. Quản lý mục tiêu
cũng sẽ giúp cho đội ngũ năng động hơn trong công việc.
- Nội dung, chương trình giáo dục là một trong các thành tố quan trọng của
quá trình giáo dục. Nội dung, chương trình xây dựng dựa trên mục tiêu giáo dục, nội
dung, chương trình cụ thể hóa mục tiêu dạy học và giáo dục. Bởi vậy, nếu thiếu nội
23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
như máy tính, mạng máy tính, các phần mềm, người điều khiển các thiết bị kỹ
thuật… Trong xu thế hiện nay, các thiết bị này cần phải được trang bị ở các nhà
trường. Tuy nhiên, máy móc dù có thông minh đến đâu thì cũng không thể thay thế
hoàn toàn con người mà chúng chỉ hỗ trợ con người tốt hơn mà thôi. Bởi vậy, người
sử dụng cần phải được bồi dưỡng để làm chủ được công nghệ và ứng dụng tốt để giải
được các bài toán thực tiễn đặt ra.
Trong thực tế hiện nay nhiều Hiệu trưởng không được đào tạo về trình độ Tin
học, một số tuổi đã cao cho nên việc tiếp cận công nghệ thông tin còn hạn chế. Cá
biệt có một số còn giao cho bộ phận giúp việc không kiểm tra được nhân viên làm
như thế nào?
Đội ngũ giáo viên, đội ngũ tổ trưởng còn nhiều hạn chế về trình độ tin học.
Nhiều giáo viên còn hạn chế về mặt kinh tế. Do vậy việc trang bị thiết bị như máy
tính, mạng Internet còn gặp nhiều khó khăn.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Ở chương I đã hệ thống hoá lại một số vấn đề lý luận chủ yếu của đề tài. Đó là
những nội dung cơ bản sau:
- Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng là những tác động tới các
mặt hoạt động của tổ chuyên môn như: lập kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn, tổ
chức thực hiện kế hoạch của tổ chuyên môn, công tác chỉ đạo của tổ trưởng chuyên
môn trong quá trình thực hiện kế hoạch của tổ, công tác kiểm tra đánh giá của tổ
trưởng chuyên môn đối với hoạt động của các thành viên trong tổ. Công tác quản lý
của Hiệu trưởng theo mô hình VNEN. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý sinh hoạt
tổ chuyên môn theo mô hình VNEN. Nhằm góp phần đạt được mục tiêu chung của
giá là đơn vị đứng đầu về chất lượng giáo dục và cũng là đơn vị dẫn đầu về phong
trào ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học và quản lý, trong đó các trường Tiểu
học trong thành phố có những đóng góp không nhỏ làm nên những thành tích đó.
Cả 25 trường Tiểu học trong thành phố đều có ít nhất một phòng máy tính để
cho học sinh thực hành tin học, các trường đều có các thiết bị dạy học hiện đại như
máy chiếu đa năng, bảng điện tử thông minh…..
Đội ngũ cán bộ quản lý các trường Tiểu học trong thành phố còn rất trẻ được
đào tạo qua nhiều lớp quản lý, năng động, sáng tạo trong công tác quản lý nhà trường.
Trình độ giáo viên ngày càng được nâng lên, tính đến nay đã có 85 % trình độ
đạt trên chuẩn. Nhiều giáo viên đã có trình độ Thạc sỹ. Trình độ ngoại ngữ, tin học
ngày càng được nâng lên.
Phụ huynh thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi để quan tâm đến việc học
tập của con em mình.
Giáo dục- đào tạo Việt Trì tiếp tục phát triển, đạt được kết quả toàn diện cả về
quy mô, loại hình, chất lượng dạy và học, góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân
trí, bổ sung nguồn nhân lực cho Thành phố và các địa phương khác. Đến nay, Thành
phố có 55/75 trường đạt chuẩn Quốc gia, 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn,
25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN