1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở VIỆT NAM
TS. Võ Đại Lược
Cơ sở hạ tầng có thể được hiểu là hệ thống giao thông vận tải - đường bộ,
đường sông, đường biển, đường sắt, đường hàng không, đường ống; Hệ thống
liên lạc viễn thông, hệ thống cung cấp năng lượng, nước, v.v… Hệ thống cơ sở
hạ tầng hiện đại có một tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của mọi
nền kinh tế, vì nó đảm bảo vận tải nhanh chóng với chi phí thấp, đảm bảo các
quan hệ liên lạc thông suốt kịp thời, cung cấp đủ điện nước cho toàn bộ hoạt
động của nền kinh tế đất nước… Chính vì tầm quan trọng như vậy, nên các quốc
gia phát triển đã ngay từ đầu ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại trong một
thời gian ngắn 20-30 năm, tạo ra những tiền đề cho sự bứt phá phát triển. Từ
thực tế phát triển cơ sở hạ tầng của các quốc gia trên thế giới và của Việt Nam,
có thể có một số nhận xét sau:
Thứ nhất, quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng phải được xem trọng trước
hết. Nếu chậm làm công tác quy hoạch, hoặc quy hoạch không đúng sẽ dẫn tới
những tổn thất khó lường. Trên thế giới ngay cả ở những nước phát triển như
Nhật, Mỹ cũng đã từng xây dựng những con đường mà dường như không có
người đi.
Cơ sở hạ tầng phải được quy hoạch ưu tiên cho những vùng nào?
Quan trọng nhất và trước hết phải ưu tiên quy hoạch cơ sở hạ tầng cho các
tuyến hàng đầu của đất nước. Việt Nam đã có đường cao tốc lớn nhất, hoành
tráng nhất - đó là trục Thăng Long, từ Hoà Lạc về Hà Nội. Nhưng đây không
phải là một tuyến phát triển, phát triển công nghiệp ở đây là không thích hợp,
công nghệ cao không cần đường cao tốc, mà cần sân bay, phát triển đô thị cũng
không dễ vì khi công nghiệp, dịch vụ, thương mại không phát triển, thì làm gì có
đô thị. Hai tuyến phát triển quan trọng nhất của Việt Nam hiện nay là Hà Nội –
Hải Phòng, Hồ Chí Minh – Bà Rịa Vũng Tàu – cho tới nay dù đã được quy
hoạch, nhưng chưa đúng tầm và đã chưa được Nhà nước xem trọng.
tự do. Từ thực tế hai tuyến phát triển này mà mở thêm các tuyến phát triển ở
miền Trung.
Thứ ba, Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong việc xây dựng cơ sở hạ
tầng trên các phương diện:
- Xây dựng quy hoạch phát triển, giải phóng mặt bằng.
- Đầu tư xây dựng những công trình sau đó, nhượng lại cho tư nhân quản lý
khai thác, nhà nước rút vốn ra làm các công trình khác. Đây là phương thức rất
hiệu quả mà nhiều nước đã làm.
- Trong một số lĩnh vực cơ sở hạ tầng, Nhà nước có vai trò độc quyền,
nhưng nhà nước phải vận hành theo các nguyên tắc của thị trường, chẳng hạn
định giá điện, giá nước, giávé máy bay, v.v… phải theo thị trường – có thể lấy
giá thị trường khu vực làm chuẩn để điều chỉnh phù hợp.
3
- Việc huy động nguồn vốn của khu vực tư nhân vào xây dựng cơ sở hạ
tầng theo các hình thức BOT, BT … là hoàn toàn cần thiết, đã và đang bắt đầu
được áp dụng ở Việt Nam.
- Trong một số lĩnh vực có thể huy động cả vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt
là năng lượng, tuy nhiên cần có hình thức phù hợp, đảm bảo lợi ích hợp lý cho
các nhà đàu tư.
Thứ tư, định hướng phát triển giao thông vận tải nên theo các hướng sau:
- Trước hết các đường giao thông nên trước hết theo hướng Đông – Tây,
hướng ra các cảng biển.
- Vận tải hàng hoá phải lấy vận tải đường biển là chính, Việt Nam có 3260
km bờ biển với hàng chục cảng biển nối với nhiều con sông vào sâu nội địa. Vận
tải thuỷ, pha sông biển, đa phương thức kết hợp phải là định hướng chính, vừa
đảm bảo chi phí thấp, vừa giảm tải cho các tuyến đường bộ, đường sắt.
- Hệ thống đường sắt phải được hiện đại hoá theo hướng nâng tốc độ tàu
chạy trên 100 km.giờ, với hai chiều, xây thêm các tuyến đường sắt mới theo
hướng Đông Tây, trước hết là Hồ Chí Minh đi Vũng Tàu.
Cơ sở hạ tầng có tầm quan trọng không ai phủ nhận.
Nước ta đã trải qua 20 năm đổi mới, nhưng mới có mấy chục km đường
cao tốc, hệ thống đường sắt lạc hậu, vận tải biển kém phát triển, nguy cơ thiếu
điện thường xuyên xảy ra, tình trạng tắc nghẽn giao thông đô thị khá trầm trọng,
v.v… là những cảnh báo rõ ràng nhất. Nếu tiếp tục để tình trạng lạc hậu về cơ sở
hạ tầng kéo dài, chắc chắn Việt Nam khó có thể bứt phá vươn lên. Việt Nam cần
một thể chế về phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại mở đường cho một thời kỳ phát
triển mới. Thể chế này phải bao gồm cả luật lệ, bộ máy điều hành quản lý,
phương thức điều hành. Việt Nam có thể học hỏi ở một số nước Đông Á như
Hàn quốc, Nhật Bản, và một số nước phương Tây khác.