Chủ nghĩa tư bản trong bối cảnh toàn cầu hoá - Pdf 15

Chủ nghĩa tư bản trong bối cảnh toàn cầu
hoá
Theo www.tapchicongsan.org.vn - 1 năm trước
TCCS - Chủ nghĩa tư bản thực hiện được một bước phát triển thì cũng tạo ra
những gì không dung được với chính nó. Từ góc nhìn này, chủ nghĩa tư bản toàn
cầu hoá thực sự là "chủ nghĩa tư bản chống chủ nghĩa tư bản", là "chủ nghĩa tư bản
hướng tới hậu tư bản, phi tư bản".
Chủ nghĩa tư bản độc quyền quốc tế
Từ đầu thập niên 80 thế kỷ XX đến nay, sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của xu thế toàn
cầu hoá thúc đẩy chủ nghĩa tư bản hiện đại chuyển sang giai đoạn độc quyền quốc tế (độc
quyền xuyên quốc gia). Nó triệt để tận dụng ưu thế về thực lực mọi mặt nhằm bành
trướng thế lực trên quy mô toàn cầu với mục đích cố hữu là thu lợi nhuận độc quyền cao.
Thực tế cho thấy, bình quân tỷ suất chiếm đoạt lợi nhuận trong các nước tư bản phát triển
là 300%, cá biệt có những nơi lên tới 700% - 800%. Do đó về thực chất, "nhà nước phúc
lợi", "chủ nghĩa tư bản nhân dân", "chủ nghĩa tư bản xã hội" không phải là biện pháp
đổi mới triệt để chất lượng cuộc sống người lao động, xoá bỏ nghèo khổ, mà là để duy trì
sự nghèo khổ trong trật tự. Xã hội tư bản hiện đại luôn có từ 15% - 20% dân cư nghèo
khổ, cho dù chính phủ luôn tuyên bố "tấn công" vào nghèo đói. Đây là một mô hình cơ
cấu tự nhiên của xã hội tư bản chứ không phải là điều nhất thời. Chương trình phúc lợi
không phải để giảm nghèo túng mà để chịu được cảnh nghèo túng
(1)
.
Trào lưu chủ nghĩa tự do mới ra đời (các đại diện tiêu biểu là R. Ri-gân và M. Thát-chơ),
trở thành căn cứ lý luận để chủ nghĩa tư bản (CNTB) lũng đoạn quốc tế bành trướng ra
toàn cầu. Sự bùng nổ mạng lưới các công ty xuyên quốc gia và internet làm cho thị
trường toàn cầu trở thành công xưởng toàn cầu, tạo cơ sở vật chất to lớn để CNTB thực
hiện tham vọng lũng đoạn, khống chế toàn cầu. Chủ trương cơ bản của chủ nghĩa tự do
mới là tư nhân hoá mạnh mẽ tất cả những gì tư nhân làm có lợi hơn là chính phủ làm;
giảm thuế, tài trợ kích thích tư nhân đầu tư; giảm mạnh chi tiêu phúc lợi xã hội, tạo điều
kiện tăng lợi nhuận cho giới tư nhân kinh doanh. Qua đó, đẩy nhanh việc ứng dụng công
nghệ mới, tạo ra sự nhảy vọt của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế

nhà nước, tung ra hàng loạt gói kích cầu rất lớn để giải cứu, vực dậy nền kinh tế. Điều đó
thực chất không thể nào khác là cứu nguy cho giới chủ tư bản, bằng cách chủ yếu dùng
ngân sách từ nguồn thu thuế của người dân lao động. Đây là điểm thuộc bản chất
không thay đổi của nhà nước trong CNTB nói chung, CNTB toàn cầu hoá nói riêng.
Chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá được coi là giai đoạn mới của CNTB độc quyền quốc tế,
nó có những cách thức tồn tại và hình thức thống trị mới nhưng không thay đổi về bản
chất. Tính chất phức tạp và gay gắt của đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản đương đại
có nhiều nét mới, nhưng trọng tâm vẫn xoay quanh mối quan hệ giữa lao động làm thuê
và giới chủ tư bản. Đối diện với khối nhân dân lao động trí óc và chân tay đông đảo là
giai cấp các nhà tư bản. Giai cấp này vẫn là giai cấp thống trị, là giới chủ trong xã hội, có
vai trò chi phối nhà nước, nhưng nó cũng có sự phân tầng theo một cách mới, không hoàn
toàn giống với nửa đầu thế kỷ XX. Mối quan hệ giữa lao động và tư bản về bản chất
mang tính chất đối kháng. Giai cấp tư sản cầm quyền hiểu rất rõ điều này và luôn tìm
cách điều chỉnh, hướng chủ yếu là "xả van an toàn", ngăn chặn khả năng bùng nổ các đối
kháng, tạo ra một sự ổn định xã hội tương đối cho trật tự tư bản chủ nghĩa. Tận dụng
được cuộc cách mạng khoa học và công nghệ và do những nguyên nhân khác nữa, CNTB
toàn cầu hoá giải quyết được một số vấn đề nhất định về việc làm và thu nhập cho người
lao động. Thế nhưng, cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính toàn cầu hiện nay cho thấy rõ:
việc bảo đảm cho người lao động có công ăn việc làm ổn định, yên tâm đối với cuộc sống
tương lai theo thân phận người lao động của mình thì CNTB toàn cầu hoá không thể làm
được. Nỗi lo lắng cho ngày mai trở thành nỗi lo lắng thường trực hơn, không chỉ đối với
người lao động chân tay, mà cả đối với người lao động trí óc. Điều đó có liên quan đến
đặc điểm của khủng hoảng kinh tế, cái tất yếu kinh tế của CNTB.
Vẫn diễn ra các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ
Trong CNTB toàn cầu hoá, các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ vẫn diễn ra tuy không
kéo dài như trước nhưng diễn biến lại phức tạp hơn, ranh giới giữa giai đoạn tiêu điều và
phục hồi không thật rõ rệt. Vật giá leo thang ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng tiêu
điều, còn trong giai đoạn phục hồi thì mức tăng của sản xuất cũng rất thấp, tình trạng
ngưng trệ hầu như diễn ra dài hơn Với chu kỳ tái sản xuất ngắn hơn nên nạn thất nghiệp
trở nên thường xuyên hơn, sự bần cùng hoá tuyệt đối luôn diễn ra với một bộ phận không

.
CNTB toàn cầu hoá vì mục đích lợi nhuận đã khách quan thúc đẩy, phát triển nền văn
minh, song đồng thời cũng đẩy tới sự tiêu dùng vật chất đến mức đe doạ ngay chính sự
tồn tại hợp lý của con người. Đã có những nhà tư tưởng phương Tây nhận thức ra sự tha
hoá lối sống trong xã hội tư bản đương đại và đề xướng trào lưu "Hãy sống đơn giản
hơn". CNTB trong kỷ nguyên toàn cầu hoá cũng đang làm nảy sinh tâm trạng bi quan về
khoa học ngày càng tăng, bởi mỗi bước tiến của khoa học đều đặt các nhà khoa học trước
trách nhiệm đối với cuộc sống con người. Đó là sự tha hoá của khoa học, sự tha hoá ấy
không phải lỗi từ khoa học, mà từ việc sử dụng khoa học của CNTB toàn cầu hoá.
Mối quan hệ với các nước đang phát triển
Khi xem xét CNTB toàn cầu hoá, người ta quan tâm nhiều tới mối quan hệ của nó đối với
các nước đang phát triển. Ngày nay, hầu như không còn sự độc chiếm và bóc lột siêu
kinh tế ở thuộc địa kiểu như trước đây. Mặc dù CNTB toàn cầu hoá không có hệ thống
thuộc địa, nhưng vẫn có chủ nghĩa thực dân của nó. Cuộc đấu tranh của các dân tộc đang
phát triển chống lại ách áp bức bóc lột ngoại bang trong điều kiện toàn cầu hoá đã không
"tắt dần" để nhường chỗ cho một quan hệ bình đẳng hợp tác và phát triển, mà vẫn tồn tại,
thậm chí có mặt còn sâu sắc hơn. Cuộc đấu tranh cho những lợi ích sống còn của các dân
tộc đang phát triển chỉ di chuyển nội dung, thay đổi hình thức chứ không mất đi. Trước
đây, nội dung chủ yếu của cuộc đấu tranh là chính trị và quân sự để giành độc lập dân
tộc, thì ngày nay là kinh tế, chính trị, văn hoá để đi tới chấm dứt sự áp bức bóc lột về
kinh tế, để giữ vững nền độc lập trong xu thế toàn cầu hoá, đấu tranh vì một sự bình
đẳng, hợp tác phát triển lâu dài và bền vững, vì một toàn cầu hoá nhân bản hơn và cho đại
đa số nhân dân lao động. CNTB toàn cầu hoá đem đến cho các nước đang phát triển
nhiều thách thức. Khu vực Mỹ La-tinh, cái "sân sau" của Mỹ, do thực hiện mô hình "chủ
nghĩa tự do mới" với việc tư nhân hoá tràn lan và tự do hoá kinh tế một cách thái quá, nên
có đến 44% dân số sống dưới mức nghèo khổ, số người thất nghiệp tăng gấp hai lần trong
thập niên 90 thế kỷ XX. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến bùng nổ
trào lưu cánh tả tại khu vực này trong giai đoạn hiện nay.
Chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá không cần đến những hình thức bóc lột siêu kinh tế như
thời áp đặt chế độ thuộc địa trước đây, mà bằng những hình thức mới, chỉ bằng những

Một là, CNTB trong xu thế toàn cầu hoá còn khả năng phát triển kinh tế - xã hội, nhất là
chuyển sản xuất sang chiều sâu như hiện nay. Sở hữu tư nhân, lợi ích tư nhân vẫn còn là
động lực lâu dài của phát triển kinh tế nói chung trong CNTB.
Hai là, sự thích ứng của CNTB thông qua những điều chỉnh về nhiều mặt, không vượt
được giới hạn lợi ích tư sản. Kinh tế - xã hội phát triển được một bước thì mâu thuẫn tư
bản và lao động lại bộc lộ ra có quy mô rộng lớn hơn và đi vào chiều sâu hơn, không thể
có cách giải quyết triệt để trong khuôn khổ CNTB.
Ba là, CNTB toàn cầu hoá tạo ra được nền kinh tế tri thức, chuyển mạnh được sản xuất ở
trình độ cơ khí sang tin học hoá và từ đây quá trình toàn cầu hoá kinh tế ngày càng phát
triển. Nhưng toàn cầu hoá, bên cạnh mặt tích cực, thì do sự gia tăng khống chế của
CNTB lũng đoạn toàn cầu với mạng lưới đồ sộ vươn rộng khắp hành tinh của các tổ chức
tư bản độc quyền xuyên quốc gia, thực sự là một quá trình đầy mâu thuẫn, hàm chứa sự
bất bình đẳng mà phần bất lợi đang thuộc về các nước đang phát triển với nguy cơ tụt hậu
ngày càng xa.
Bốn là, CNTB thực hiện được một bước phát triển thì cũng tạo ra những gì không dung
được với chính nó. Từ góc nhìn này, CNTB toàn cầu hoá thực sự là "chủ nghĩa tư bản
chống chủ nghĩa tư bản", là "chủ nghĩa tư bản hướng tới hậu tư bản, phi tư bản". Chiến
tranh, môi sinh, bất bình đẳng, phát triển vì con người biết bao nhiêu vấn đề có tính
sống còn phải khắc phục trong các lĩnh vực trên, và sự khắc phục này về cơ bản là khắc
phục chính CNTB toàn cầu hoá.
Như vậy, những biện pháp điều chỉnh của CNTB không làm thay đổi bản chất của nó.
Tuy nhiên, xu hướng vận động khách quan của CNTB trong xu thế toàn cầu hoá tiếp tục
chuẩn bị tiền đề không chỉ vật chất - kỹ thuật, mà cả những nhân tố hợp lý trong thiết chế
chính trị, nhà nước cho chủ nghĩa xã hội. Trên góc nhìn này, xây dựng chủ nghĩa xã hội
cũng chính là sự hiện thực hoá cái lô-gic phát triển của lực lượng sản xuất và nền văn
minh mà nhân loại đạt được trong CNTB. Toàn bộ tình hình như đã nêu làm cho việc
thay thế chế độ tư bản để mở đường cho sự phát triển xã hội trở thành vấn đề thời sự của
lịch sử đương đại. Bước đi tuỳ thuộc hoàn cảnh cụ thể, nhưng đó là xu thế lịch sử không
thể đảo ngược./.
Về một chủ nghĩa tư bản mới 10:29' 7/2/2011

Để đối phó với những bất trắc của kinh tế thế giới cuối những năm 90, Tổng thống Mỹ B. Clin-tơn và các
lãnh đạo APEC công bố sự ra đời của G22 mang tính chất lâm thời, với sự tham gia của bộ trưởng tài chính
và thống đốc ngân hàng của 22 nước bao gồm G7 và 15 quốc gia (và vùng lãnh thổ) khác là Ác-hen-ti-na,
Ô-xtrây-li-a, Bra-xin, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô,
Ba Lan, Nga, Xin-ga-po, Nam Phi và Thái Lan.
Tiếp đó là G33 thay cho G22 nhưng cũng chỉ mang tính chất lâm thời để cho các nước lớn đánh giá quốc
gia nào thực sự đáng được đưa vào ngôi thứ lãnh đạo nền kinh tế thế giới và để gạt bỏ những nước không
đủ tiêu chuẩn. G33 bao gồm các nước G22 cộng thêm 11 nước khác là Bỉ, Chi-lê, Cốt Đi-voa (Bờ biển
Ngà), Ai Cập, Hà Lan, A-rập Xê-út, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ma-rốc.
Các nước lớn G7 sớm nhận ra một số nước trong G33 và G22 không đủ tiêu chuẩn nên đã sàng lọc lại lập
nên G20, được coi như một tổ chức kinh tế quốc tế mang tính chất thường trực hơn thay thế cho G7, bao
gồm cả đại diện của các nước mới nổi. Các thành viên còn lại sau hai lần sàng lọc là Ác-hen-ti-na, Ô-xtrây-
li-a, Bra-xin, Anh, Ca-na-đa, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, I-ta-li-a, Nhật Bản, Mê-hi-cô,
Nga, A-rập Xê-út, Nam Phi, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Hoa Kỳ. Liên minh châu Âu cũng là một thành
viên được đại diện theo chế độ chủ tịch luân lưu EU và Ngân hàng Trung ương châu Âu. Thành viên của
G20 không thay đổi kể từ khi thành lập. Tổ chức này tuyên bố “không có tiêu chí chính thức cho chế độ
thành viên G20”. Trừ ba nước Ác-hen-ti-na, A-rập Xê-út và Nam Phi, tất cả các thành viên còn lại nằm
trong danh sách 20 quốc gia có GDP cao nhất thế giới (theo bảng xếp hạng năm 2007 của CIA, IMF và
WB).
Thông thường, những hội nghị hằng năm có sự tham dự của các bộ trưởng tài chính và các thống đốc ngân
hàng cùng với lãnh đạo của IMF và WB. Tháng 11-2008, các lãnh đạo chính phủ cũng tham dự phiên họp
khẩn cấp của G20 ở Oa-sinh-tơn để bàn thảo đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đang lan rộng
thành một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Hội nghị Oa-sinh-tơn được nhiều nhà nghiên cứu coi như màn dạo đầu của một kiểu Brét-tơn út II (Bretton
Woods)(2), mang ý nghĩa một sự kiện đánh dấu sự bắt đầu của một khung khổ tài chính quốc tế mới thay
cho hệ thống Brét-tơn út I sụp đổ vào những năm 70. Hội nghị thượng đỉnh được triệu tập ở thành phố gang
thép cũ Pi-xbớc (Pittsburgh) ngày 24-9-2009, năm tháng sau cuộc họp ở Luân-đôn bàn về giải cứu các
nước đang phát triển, vực dậy thương mại thế giới và điều tiết tài chính chặt chẽ hơn.
Tại Pi-xbớc, các lãnh đạo thế giới đồng ý thay câu lạc bộ những nước công nghiệp giàu được biết dưới tên
G7 bằng G20, một diễn đàn toàn cầu thường trực về chính sách kinh tế bao gồm cả các nước lớn đang phát

Times cũng cho biết ngày 7-4-2010, Tổng thống Pháp đã ca ngợi chương trình y tế vừa được hai viện Hoa
Kỳ thông qua, hứa sẽ cùng Tổng thống Hoa Kỳ “tiến xa hơn trong điều tiết chủ nghĩa tư bản thế giới". Đại
diện Pháp, Bộ trưởng Tài chính Crít-xtin La-gác-đê, sẽ nhân cơ hội đảm nhận chức chủ tịch G20 của Pháp
để cùng với Bộ trưởng Tài chính Mỹ Tim Gây-nơ thúc đẩy một chế độ điều tiết kinh tế mới. Tổng thống B.
Ô-ba-ma cũng khẳng định “sẽ cùng Tổng thống N. Xác-cô-di và những nhà lãnh đạo khác của thế giới phối
hợp các nỗ lực bởi chúng tôi muốn bất cứ biện pháp nào được đưa ra cũng phải là của cả hai bờ Đại Tây
Dương”. Chủ nghĩa tư bản mới, trên ý nghĩa đó, là chủ nghĩa tư bản của Mỹ và đa số các đồng minh G20.
5 - Trong bối cảnh này, tương lai của chủ nghĩa xã hội sẽ thế nào? Trong nhiều văn kiện, Đảng ta luôn xác
định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng cũng nói rõ nền kinh tế Việt Nam
nay chịu tác động của cả quy luật kinh tế tư bản chủ nghĩa và quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa. Cũng có
thể hiểu nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế hỗn hợp. Thực vậy, chúng ta đang ở thời kỳ quá độ cải
biến cách mạng, cái cũ song song tồn tại với cái mới, đấu tranh và hợp tác giữa cũ và mới quyết định tương
lai của xã hội. Chúng ta là thành viên của ba thiết chế tư bản chủ nghĩa IMF, WB và WTO, là thành viên
của ASEAN, APEC chủ yếu gồm các nước tư bản chủ nghĩa. Chúng ta đang bị chi phối bởi các quy luật thị
trường tư bản chủ nghĩa, từ quy luật giá trị đến các luật lệ thương mại của WTO. Chúng ta có thị trường
chứng khoán, thị trường lao động, thị trường tiền tệ (neo đồng USD). Chúng ta yêu cầu và cũng có hàng
chục nước thừa nhận ta có “nền kinh tế thị trường”. Chúng ta nhận đầu tư nước ngoài (FDI), nhưng chủ yếu
đó là những đầu tư vào lĩnh vực du lịch, khách sạn, giải trí, sân gôn, đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp còn ít
và chỉ là những công nghiệp tốn nhiều nhân công, gây nhiều ô nhiễm, những công nghiệp của thế kỷ trước.
Đã đến lúc phải cân nhắc từng hạng mục đầu tư, coi trọng “tấc đất tấc vàng”, công nghiệp hóa và hiện đại
hóa đồng thời với xây dựng một nền nông nghiệp tiên tiến, nông thôn theo kịp thành thị, nông dân sát cánh
với công nhân.
Kiên định con đường xã hội chủ nghĩa nhưng cần có đầu óc thực tế. Chúng ta phải qua một thời kỳ quá độ
với kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế tư nhân cũng phát triển như các thành phần kinh tế khác. Để
tiếp tục định hướng xã hội chủ nghĩa tất yếu phải coi trọng nhà nước hơn thị trường; công nghiệp và dịch
vụ công hơn tư; có chính sách xã hội vì người nghèo chứ không vì người giàu như chủ nghĩa tự do mới; lấy
công bằng làm trọng chứ không phải cạnh tranh bất bình đẳng của chủ nghĩa tư bản trong hình thái tự do
mới. Thông báo Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) tiếp tục khẳng định: “Kinh
tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.

nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội.
Ngay cả đối với những người dân chủ, nếu 39% tán thành chủ nghĩa tư bản, thì 30% ủng hộ chủ nghĩa xã
hội.
Đối với mỗi người cách mạng, công bằng và dân chủ là những khẩu hiệu thiêng liêng nhất. Định hướng xã
hội chủ nghĩa là xây dựng một xã hội trong đó mỗi người đều được hưởng những quyền lợi vật chất và tinh
thần xứng đáng với sự cống hiến của mình./.

Nguyễn Văn Thanh
Chủ nghĩa tư bản
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bài viết (hoặc đoạn) này hiện gây tranh cãi về tính trung lập.
Đề nghị: Người gắn tiêu bản nêu lý do tại trang thảo luận. Nếu không có lý do
tại trang thảo luận, tiêu bản có thể bị tháo bỏ.
Xin đừng xóa bảng thông báo này cho đến khi kết thúc hoặc đạt được đồng thuận trong vấn đề
này.
Tập tin:Cme.jpg
Thị trường chứng khoán Chicago
Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế – xã hội phát triển cao của xã hội loài người,
xuất hiện đầu tiên tại châu Âu phôi thai và phát triển từ trong lòng xã hội phong kiến
châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tại Anh và Hà Lan ở thế kỷ
thứ 18. Sau cách mạng Pháp cuối thế kỷ 18 hình thái chính trị của "nhà nước tư bản chủ
nghĩa" dần dần chiếm ưu thế hoàn toàn tại châu Âu và loại bỏ dần hình thái nhà nước của
chế độ phong kiến, quý tộc. Và sau này hình thái chính trị – kinh tế – xã hội tư bản chủ
nghĩa lan ra khắp châu Âu và thế giới. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản (với tư cách
một hình thái kinh tế) từ chủ nghĩa phong kiến không do một lý thuyết gia nào xây dựng.
Tuy nhiên A.Smith là người có đóng góp to lớn nhất xây dựng một hệ thống lý luận
tương đối hoàn chỉnh về chủ nghĩa tư bản tự do hay tự do kinh tế. Chủ nghĩa tư bản
không đồng nhất với chủ nghĩa tự do dù nền tảng là kinh tế tư hữu, nói cách khác chủ
nghĩa tư bản là một trong các hình thái kinh tế của sản xuất tư hữu, và đối lập với chủ
nghĩa xã hội trên nền tảng sở hữu công cộng. Các chính sách an sinh xã hội trong nền

• 6 Đọc thêm
• 7 Xem thêm
[sửa] Các đặc điểm của kinh tế tư bản chủ nghĩa
"Chủ nghĩa tư bản" hay các định nghĩa, lý thuyết liên quan đến "chủ nghĩa tư bản"
(CNTB) có thể được hiểu là một hệ thống các quan điểm, các định nghĩa được những
người cộng sản, những chính khách theo phe cộng sản và các chính khách cánh tả khác
đưa ra để xác định một chế độ xã hội trong đó có sự sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
gắn với nền công nghiệp có năng suất lao động cao làm bộc lộ bản chất "bóc lột" lao
động làm thuê của các "nhà tư bản". Do ảnh hưởng lý luận theo quan điểm duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, nhiều lý thuyết gia khái quát "chế độ chính trị tư bản chủ
nghĩa". Trong khi đó nhiều học giả khác không coi chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh
tế xã hội hay gắn nó với chế độ chính trị. Quan niệm của họ chủ nghĩa tư bản chỉ phản
ánh một quan hệ sản xuất trên nền tảng chế độ tư hữu. Ở các nước mà những người cộng
sản gọi là theo chế độ chính trị "tư bản chủ nghĩa" (đối lập với xã hội chủ nghĩa) thì
không có định nghĩa rõ ràng thế nào là CNTB trong các văn kiện pháp luật hay các văn
kiện mang tầm cỡ quốc gia
[cần dẫn nguồn]
. . Về mặt chính trị, ở những "quốc gia tư bản" quyền
chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt không hề bị nghi ngờ, họ không đưa ra khái
niệm thế nào là CNTB
[cần dẫn nguồn]
mà chỉ định nghĩa các chế độ chính trị như thế nào thì
được gọi là một nhà nước quân chủ lập hiến, quân chủ hợp hiến, nhà nước dân chủ, quân
phiệt, chế độ độc tài, chế độ cộng hòa.v.v
Do nhận thức khác nhau trên cơ sở kinh tế hay chính trị, "các nước tư bản" thường tự gọi
họ là các nước thuộc "Thế giới tự do", trong khi gọi các nước đảng cộng sản lãnh đạo là
"các nước cộng sản"; trong khi đó các nước đảng cộng sản lãnh đạo gọi nước họ là "các
nước xã hội chủ nghĩa", và các nước kinh tế tư bản chủ đạo là "các nước tư bản", và
không gọi các nước tuyên bố "xã hội chủ nghĩa" (trong Hiến pháp,v.v.) nhưng không do
đảng cộng sản lãnh đạo là "các nước xã hội chủ nghĩa".

vai trò năng động, lực đẩy quyết định tính hiệu quả của nền kinh tế tư bản, còn
thành phần kinh tế nhà nước chủ yếu để giải quyết các vấn đề xã hội đảm bảo
công ăn việc làm cho lực lượng lao động tránh gây xáo trộn lớn trong xã hội và để
kinh doanh trong các ngành cần thiết nhưng khó sinh lời. Theo thời gian giữa hai
thành phần này thỉnh thoảng lại có sự hiệu chỉnh bằng các quá trình tư nhân hoá
hoặc quốc hữu hoá doanh nghiệp thông qua việc bán và mua các cổ phần của
doanh nghiệp.
• Nền sản xuất lớn và động lực lợi nhuận: Khác với nền sản xuất phong kiến là
nền sản xuất lấy ruộng đất làm phương tiện sản xuất cơ bản và sở hữu ruộng đất là
đặc quyền của vua, quý tộc và lãnh chúa, ngành kinh tế chính là nông nghiệp và
thương mại. Kinh tế tư bản chủ nghĩa bác bỏ đặc quyền về ruộng đất hoặc bất cứ
độc quyền của tầng lớp quý tộc, thượng lưu nào. Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là
tự do kinh doanh lấy công nghệ, máy móc, và chất xám làm phương tiện sản xuất
chính và là nền kinh tế định hướng sang công nghiệp, dịch vụ và thương mại. Sự
định hướng này hoàn toàn do yếu tố lợi nhuận và thị trường điều phối. Do phương
tiện sản xuất là công nghệ, tri thức nên nền sản xuất tư bản chủ nghĩa để có lợi
nhuận tối đa luôn có xu hướng hướng đến "nền sản xuất lớn" với sự tái đầu tư mở
rộng và gắn liền với cách mạng khoa học-công nghệ. Việc nâng cao năng suất lao
động và hiệu quả kinh doanh là lợi ích sống còn của các chủ sở hữu doanh nghiệp
trong cạnh tranh giành lợi nhuận.
• Mua bán sức lao động (thị trường lao động): đây là đặc điểm rất nổi bật của nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trong nền kinh tế phong kiến và các nền kinh tế cấp
thấp lực lượng nhân công (nông dân, nông nô) bị phụ thuộc vào chủ đất (địa chủ,
lãnh chúa) và quý tộc về mặt pháp lý, họ bị gắn chặt vào ruộng đất và ý chí của
chủ đất và quý tộc. Còn nhân công (người lao động) trong kinh tế tư bản chủ
nghĩa về mặt pháp lý là hoàn toàn bình đẳng với chủ sở hữu doanh nghiệp (người
thuê lao động). Giữa người thuê lao động và người lao động ràng buộc kinh tế với
nhau bằng hợp đồng lao động: người lao động và chủ doanh nghiệp mua bán sức
lao động theo các yếu tố của thị trường. Công nhân có thể thanh lý hợp đồng lao
động với người thuê lao động này và sang làm việc cho người thuê lao động khác

mô hình chỉ huy tập trung, kinh tế tư bản đề cao sự hành động sáng tạo của cá
nhân nên tâm lý xã hội cũng xa lạ với những giáo điều là "chân lý" không cần bàn
cãi. Các quốc gia tư bản chủ nghĩa không có giáo lý chung cho "chủ nghĩa" của hệ
thống này. Xã hội tư bản chủ nghĩa không bắt buộc công nhận bất cứ "chủ nghĩa",
học thuyết hoặc nhân vật thần thánh nào. Thượng đế cũng bị phán xét, mọi lý
thuyết xã hội, chính trị hoặc lý luận của các tổ chức và cá nhân đều phải qua thực
tế kiểm nghiệm và phán xét công khai và được chấp nhận hoặc loại bỏ thông qua
bầu cử của hệ thống chính trị. Do đó chế độ chính trị của xã hội tư bản chủ nghĩa
thường dựa trên chế độ đa đảng cạnh tranh và đa nguyên chính trị. Đây là đặc
điểm tư tưởng chính trị khác nhau cơ bản của một nhà nước tư bản chủ nghĩa với
một nhà nước xã hội chủ nghĩa, cộng sản hoặc một nhà nước thần quyền.
[sửa] Các hình thái của chủ nghĩa tư bản
Chủ nghĩa tư bản phát triển trong lòng chủ nghĩa phong kiến tại châu Âu đến nay đã có
sự đa dạng về các hình thức quản lý và sở hữu, nhưng về cơ bản vẫn trên nền tảng chế độ
tư hữu và lao động làm thuê. Các hình thái: chủ nghĩa tư bản độc quyền, rồi "chủ nghĩa tư
bản độc quyền nhà nước", chủ nghĩa tư bản nhà nước.v.v cùng với nhiều hình thái khác
phát sinh sau này phản ánh sự thích ứng chủ nghĩa tư bản trong xã hội hiện đại. Trong khi
đó sự xuất hiện của các hình thức "sở hữu Nhà nước" hay "sở hữu toàn dân" thông qua
quốc hữu hóa thường được xem như là một biểu hiện của "chủ nghĩa xã hội" - theo lý
thuyết của những người xét lại chủ nghĩa Marx.
[sửa] Các đánh giá trái chiều về chủ nghĩa tư bản hiện đại
Adam Smith: cha đẻ kinh tế học tư bản chủ nghĩa - tác phẩm: Sự giàu có của quốc gia
Ngay từ khi xuất hiện cho đến ngày nay chủ nghĩa tư bản luôn là đối tượng nghiên cứu và
đánh giá của môn xã hội học của thế giới và đến tận hôm nay vẫn chưa thể có đánh giá
nhất quán về vai trò và tương lai của chủ nghĩa tư bản. Trong thế kỷ 20 đã xuất hiện
phong trào cộng sản mà mục tiêu cơ bản là để loại bỏ bất công của chủ nghĩa tư bản. Với
thất bại của những nhà nước theo chủ nghĩa cộng sản cổ điển, với độ lùi nhất định về thời
gian sự đánh giá về chủ nghĩa tư bản đã có một nội dung mới khách quan hơn và toàn
diện hơn:
Những người phản đối chủ nghĩa tư bản cho rằng:

[cần dẫn nguồn]
• Kinh tế tư bản đặt lợi nhuận làm nền tảng, do đó thường gây ra các vấn nạn ô
nhiễm môi trường, hủy hoại môi sinh, bất chấp hậu quả đối với sức khỏe cộng
đồng
Những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản cho rằng:
• Hình thức kinh tế thị trường tự do không bị nhà nước can thiệp của nền kinh tế tư
bản chủ nghĩa là bộ điều tiết kinh tế tổng hợp vạn năng cho kinh tế thế giới và
cùng với các kinh nghiệm phòng tránh khủng hoảng mà kinh tế tư bản chủ nghĩa
thu nhận được nó sẽ mang một sức sống mới cho tương lai kinh tế nhân loại. Đây
là luận điểm của một số nhà kinh tế học hàng đầu của châu Âu và Mỹ ngày nay
đứng đầu là Alan Greenspan là đại điện cổ vũ cho một nền kinh tế thị trường tự
do toàn phần không bị nhà nước can thiệp.
• Trong quá trình tự tổ chức và cạnh tranh vì lợi nhuận của các doanh nghiệp tư
bản, xã hội sẽ được lợi hơn và xã hội sẽ tiến nhanh về phía trước hơn là hình thái
đặt mục tiêu trực tiếp thoả mãn các quyền lợi của xã hội lên trên quyền lợi của các
doanh nghiệp tư bản tư nhân. Đây là luận điểm mà đại diện là Adam Smith ông tổ
của kinh tế học tư bản chủ nghĩa và đã phần nào được chứng thực bằng thực tế
tranh đua của hai nền kinh tế cộng sản – tư bản trong thế kỷ 20.
• Chủ nghĩa tư bản là tương lai của nhân loại vì nó phát triển tính năng động của
nền kinh tế nói riêng và xã hội nói chung.
• Chủ nghĩa tư bản sẽ mất dần tính ích kỷ và dần sẽ biến đổi thành chủ nghĩa tư bản
nhà nước với sở hữu dần tập trung vào tay nhà nước hoặc chủ nghĩa tư bản toàn
dân với hình thức các công ty cổ phần. Đây là phái lý luận ủng hộ sự can thiệp
của nhà nước vào kinh tế tư bản chủ nghĩa mà đại diện là John Maynard Keynes
và cũng là lý luận của chủ nghĩa cộng sản châu Âu (Eurocommunism).
• Xã hội công dân của chủ nghĩa tư bản có khả năng điều tiết các bất bình đẳng để
hướng đến một xã hội ngày càng công bằng hơn mà vẫn giữ được tính năng động
tư bản chủ nghĩa (chủ nghĩa cộng sản châu Âu,v.v)
• Chủ nghĩa tư bản trên cơ sở cạnh tranh để tồn tại và tối đa hóa lợi nhuận, do đó
chú trọng phát triển khoa học kỹ thuật, sáng tạo, tôn trọng người tài năng, có trí

năng động nhất. Điều mà mọi người ít nhìn thấy rõ hơn chính là bí mật tạo nên thành công
này. Nhiều người lờ mờ cho rằng đó là một dạng "chủ nghĩa tư bản mang đặc trưng của
Trung Quốc" - chủ yếu nhằm giải thích cho bộ máy hành chính với bàn tay "rắn chắc và
vô hình" đã tạo nên điều kỳ diệu này. Theo lẽ tự nhiên, quan điểm trên cho rằng chính phủ
Trung Quốc rất vui vẻ khuyến khích.
Nhưng có thật sự như vậy không? Tất nhiên, nhà nước có rất nhiều hoạt động mạnh mẽ và
có vai trò quan trọng. Họ đã rất hiệu quả trong việc tiễu trừ các trở ngại về mặt vật chất
cũng như về kỹ thuật: về vật chất, đó là thông qua việc xây dựng các con đường, các nhà
máy điện và các cây cầu; về kỹ thuật, bằng cách tạo điều kiện (bằng mọi cách khác nhau)
cho việc chuyển hóa sở hữu trí tuệ nước ngoài.
Tuy nhiên, sự hưng thịnh của Trung Quốc lại phần lớn nhờ vào những gì vẫn đang xảy ra
từ dưới lên trên cũng như từ trên xuống dưới. Cũng như nước Đức có vô vàn các
Mittelstand (từ chỉ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức, thường do tư nhân và các hộ gia đình
sở hữu và điều hành) đóng vai trò xương sống của nền kinh tế, Trung Quốc cũng có hằng
hà sa số các doanh nghiệp tư nhân vô cùng mạnh mẽ: đó là một nền tư bản phát triển
nhanh, mạnh như những rừng trúc đại ngàn.
Những doanh nghiệp này không chỉ hoạt động bên ngoài các công ty quốc doanh đầy
quyền uy của nhà nước, mà còn bên ngoài vòng pháp luật. Hệ quả là, các dữ liệu thống kê
của nhà nước không thể nắm bắt được vai trò lớn lao của các doanh nghiệp này đối với
nền kinh tế của Trung Quốc. Nhưng như tờ báo đã đưa tin, họ quả là một thế lực vô cùng
kinh ngạc.
Ảnh minh họa.
Một thế giới kỳ lạ
Trước tiên, đó là quy mô hoạt động của họ. Ba thập kỷ trước, hầu như toàn bộ doanh
nghiệp tại Trung Quốc đều do một cấp nào đó trong chính quyền quản lý. Giờ thì một ước
tính - và nó có thể sẽ là một cú sốc nặng - cho rằng đóng góp vào GDP của các doanh
nghiệp không do chính quyền nắm phần lớn quyền điều hành chiếm vào khoảng 70%.
Zheng Yumin - Bí thư Đảng Cộng sản trong bộ phận thương mại của tỉnh Chiết Giang
phát biểu trong cuộc họp báo năm ngoái rằng, trong tổng số 43 triệu công ty của Trung
Quốc thì có đến hơn 90% là công ty tư nhân. Trung tâm của các cụm doanh nghiệp đó

trọng sống còn với sự trỗi dậy của Trung Quốc - chắc chắn sẽ gây ra va chạm lớn hơn.
Những người bảo thủ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể sẽ nghĩ tới việc trốc tận rễ
thứ chủ nghĩa tư bản tre trúc này.
Sẽ tốt hơn rất nhiều nếu như thay vào đó, họ cố gắng mang lại cho các doanh nghiệp một
khuôn khổ pháp lý phù hợp. Có thể hiểu, rất nhiều doanh nghiệp e sợ sự kiểm soát chặt
chẽ: họ sợ bị chú ý nhiều vì rằng các hoạt động của họ sẽ trở thành mối quan tâm của cơ
quan điều tra. Nhưng thiếu một nền tảng pháp lý vững chãi (bao gồm cả các luật sở hữu
trí tuệ), rất khó để có thể tạo nên các doanh nghiệp và thương hiệu lớn.
Sự mơ hồ về mặt pháp lý cũng khiến cho hoạt động gây vốn trở thành lén lút. Hệ quả là
nó sản sinh ra một hệ thống tài chính linh hoạt tới mức kinh ngạc, nhưng phải trả giá rất
cao. Hoạt động thế chấp cũng bị nghi ngờ và hệ thống tài chính do nhà nước điều hành
không thưởng cho các nhân viên tín dụng vì đã thừa nhận các rủi ro mà các công ty ngoài
quốc doanh mang lại. Thay vào đó, tiền thường được cung cấp từ các nguồn không chính
thống, với mức giá rất đắt. Tỉ lệ cho vay nặng lãi ở Ôn Châu (sau một thành phố nổi tiếng
nhất về kiểu hoạt động tài chính này) được cho là bắt đầu từ mức 18%, thậm chí còn có
thể tăng 200%. Một khoản cho vay hiếm khi được kéo dài quá hai năm. Những người bên
ngoài thường tự hỏi về việc lên kế hoạch dài hạn gắn với nền kinh tế Trung Quốc, nhưng
rất nhiều xưởng chế biến năng động nhất của Trung Quốc vẫn chật vật trong việc gieo hạt
và thu hoạch trong một mùa vụ nông nghiệp.
Do vậy, chủ nghĩa tư bản kiểu "rừng trúc" này sẽ phải thay đổi. Nhưng nó cũng khiến cho
Trung Quốc thay đổi. Sức cạnh tranh từ các công ty tư nhân đã đẩy mức lương và lợi
nhuận lên cao hơn bất kỳ một bộ luật mới nào - nhằm giúp tạo thêm người tiêu dùng mà
Trung Quốc (và các doanh nghiệp của họ) cần tới. Và đằng sau hàng loạt các doanh
nghiệp mới được thành lập với số vốn hạn hẹp là những người từng làm công nhân cho
các nhà máy, họ đã chứng kiến thành quả thu được từ việc kinh doanh theo "phường, hội"
hơn là đứng ở thế "đơn thương độc mã". Trong tất cả mọi phương diện thì lĩnh vực tư
nhân đóng một vai trò có tính chất sống còn trong việc nâng cao mức sống - và thúc đẩy
nền kinh tế Trung Quốc theo hướng tiêu dùng nội địa hơn là chỉ xuất khẩu ra bên ngoài.
Phương Tây nên biết ơn Trung Quốc vì điều này. Và họ cũng nên chào đón chủ nghĩa tư
bản kiểu "rừng trúc" này rộng rãi hơn. Có rất nhiều người - không chỉ ở các quốc gia

bản "nhân dân" của học thuyết Keynes từ năm 1950 đến 1975 và chủ nghĩa tự do mới từ
cuối những năm 1970 đầu những năm 1980 cho đến nay. Tương ứng với ba hình thái đó
là ba hình thức Nhà nước: Nhà nước mạnh; Nhà nước phúc lợi can thiệp và Nhà nước tối
thiểu thu hẹp cả chức năng kinh tế lẫn chức năng xã hội.
Mặc dù, cuộc khủng hoảng năm 1974 do tăng trưởng thấp, lạm phát cao làm tiền đề cho
thời cơ của chủ nghĩa tự do mới nhưng bước ngoặt chỉ đến từ năm 1979 khi ở Anh, bà
Margaret Thatcher lên nắm quyền. Đây là chính phủ tư bản phát triển đầu tiên công khai
cam kết áp dụng chủ nghĩa tự do mới trong hoạt động thực tiễn. Một năm sau (năm
1980), Ronald Reagan được bầu làm Tổng thống Mỹ thì thập kỷ tự do mới bắt đầu hình
thành ở Mỹ. Kinh tế Mỹ đã trải qua một cuộc tái cơ cấu sâu sắc ảnh hưởng đến mọi mặt
của đời sống xã hội. Tái cơ cấu tự do mới đó tập trung vào biến đổi vai trò của Nhà nước
trong nền kinh tế, kéo theo việc hạn chế sử dụng chi tiêu của Chính phủ và đánh thuế để
điều hòa chu kỳ kinh doanh, nới lỏng hoặc hủy bỏ điều tiết của Chính phủ đối với hành vi
của tư bản trong các lĩnh vực trong nước và quốc tế, tư hữu hóa các doanh nghiệp nhà
nước và tiện ích công, cắt giảm mạnh ngân sách cho các chương trình xã hội. Sự tái cơ
cấu đó được gọi là “tự do mới” bởi nó là một hình thái được cập nhật và cực đoan hơn
của lý thuyết kinh tế “tự do cổ điển” do Adam Smith và David Ricardo phát triển trong
thế kỷ XVIII và XIX, với lập luận rằng nền kinh tế tư bản chủ yếu tự điều tiết thông qua
hoạt động của các lực lượng thị trường.
Chủ nghĩa tự do mới ngày nay có quy mô rộng lớn hơn do sự tiến bộ của khoa học - công
nghệ, nhất là công nghệ thông tin, đã làm cho các dân tộc gần với nhau hơn và do toàn
cầu hóa cùng với hội nhập quốc tế đang diễn ra trên một phạm vi rộng hơn với cường độ
mạnh mẽ hơn.
2. Những ưu điểm và nhược điểm của mô hình:
2.1. Ưu điểm:
Sự thắng lợi của nền kinh tế theo chủ nghĩa tự do mới được minh chứng bằng sự thăng
hoa của kinh tế Mỹ nửa sau thập kỷ 90 với tăng trưởng kéo dài, tỷ lệ thất nghiệp khá thấp
và ít lạm phát, sản lượng và năng suất cao hơn.
Mô hình kinh tế tự do mới đề cao vai trò cá nhân. Thật vậy, một xã hội muốn phát triển
thịnh vượng trước hết phải phát huy tính độc lập, sáng tạo của mọi cá nhân và muốn làm

tất cả các nước và tổ chức quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập và chủ quyền, bình đẳng
và cùng có lợi”. Là nước đi sau do những hoàn cảnh lịch sử, chúng ta rất xem trọng học
tập và tiếp thu những thành tựu của các quốc gia đi trước một cách có chọn lọc và vận
dụng thích hợp với tình hình thực tế của nước ta. Vì vậy, trước những luận thuyết kinh tế
mới chúng ta phải thận trọng cân nhắc, biết chọn lọc cái đúng, gạt bỏ cái sai, không phủ
định hết cũng không học tập một cách giáo điều.
Khi chủ nghĩa tự do mới hối thúc tư hữu hóa, Nhà nước Việt Nam chủ trương sắp xếp lại
các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ. Mặt khác, các doanh nghiệp Việt Nam vừa
hợp tác vừa cạnh tranh với các doanh nghiệp tư bản nước ngoài nên cần giảm mạnh
những doanh nghiệp nhỏ, thua lỗ và tập trung hơn vào các ngành và lĩnh vực then chốt.
Doanh nghiệp nhà nước tiếp tục giữ vai trò nồng cốt trong toàn bộ nền kinh tế đất nước,
đáp ứng cơ bản những yêu cầu về quốc phòng và an ninh, về những dịch vụ công ích
hướng về người nghèo. Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong những doanh nghiệp quan
trọng với quốc kế dân sinh. Chúng ta cổ phần hóa chứ không tư hữu hóa, kiên quyết
chống lại những khuynh hướng lệch lạc nhằm biến cổ phần hóa thành tư hữu hóa. Chủ
nghĩa xã hội dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, chứ không dựa trên
chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.
Khi chủ nghĩa tự do mới ráo riết đòi “người sử dụng phải trả tiền” hoặc chính sách “thu
hồi chi phí”, Nhà nước Việt Nam đã có chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm” và
rất xem trọng chính sách đối với người nghèo. Hàng loạt các chương trình đã ra đời và đi
vào cuộc sống như xây dựng nhà tình thương cho người nghèo không đủ tiền để xây nhà;
xây dựng nhà tình nghĩa cho người thân của các liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ
quốc; khám chữa bệnh miễn phí đối với trẻ em dưới 6 tuổi; giảm 50% học phí và các
khoản đóng góp xây dựng trường đối với những học sinh bị khuyết tật; miễn 100% học
phí và các khoản đóng góp xây dựng trường đối với những học sinh bị khuyết tật thuộc
diện hộ nghèo; học sinh dân tộc thiểu số thuộc diện nghèo; học sinh mồ côi cha mẹ, mồ
côi cha hoặc mẹ mà người còn lại không đủ khả năng nuôi dưỡng; học sinh bị bỏ rơi, bị
mất nguồn nuôi dưỡng. Đó là những cố gắng hỗ trợ thực hiện phổ cập giáo dục trung học
cơ sở cho những học sinh nghèo trong hoàn cảnh một nước nghèo như Việt Nam mà
chuẩn nghèo mới đối với khu vực thành thị là những hộ có thu nhập bình quân dưới

của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng một Nhà nước vì dân, một nền kinh tế công bằng,
một xã hội không còn đói nghèo, dốt nát và kém văn hóa. Đây là mục tiêu quan trọng mà
Việt Nam hướng tới chứ không phải một kiểu tự do hại người lợi mình, cạnh tranh không
lành mạnh, lấy bất bình đẳng làm động lực của phát triển, lấy thị trường làm thống soái,
đặt cá nhân quyền thế và giàu sang lên trên hết.
Tải liệu tham khảo
1. TS.Đinh Sơn Hùng - Sách tham khảo ”Những vấn đề cơ bản của các lý thuyết kinh tế”
- Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh - năm 1993.
2. Nguyễn Văn Thanh - Sách tham khảo ”Nhận diện chủ nghĩa tự do mới” - Nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội - năm 2005.
3. Thời báo Kinh tế Sài Gòn.
4. Thời báo Kinh tế Việt Nam.
5. Các tin tức trên TuanVietnam – Vietnamweek – Asiaweek.
Những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc
quyền
Những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền
a) Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền
Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền là đặc điểm
kinh tế cơ bản của chủ nghĩa đế quốc.
Trong những năm 1900, ở Mỹ, Đức, Anh, Pháp đều có tình hình là các xí nghiệp lớn chỉ
chiếm khoảng 1% tổng số xí nghiệp, nhưng chiếm hơn 3,4 tổng số máy hơi nước và điện
lực gần một nửa tổng số công nhân và sản xuất ra gần một nửa tổng số sản phẩm. Sự tích
tụ và tập trung sản xuất đến mức cao như vậy đã trực tiếp dẫn đến hình thành các tổ chức
độc quyền. Bởi vì, một mặt, do có một số ít các xí nghiệp lớn nên có thể dễ dàng thoả
thuận với nhau; mặt khác, các xí nghiệp có quy mô lớn, kỹ thuật cao nên cạnh tranh sẽ rất
gay gắt, quyết liệt, khó đánh bại nhau, do đó đã dẫn đến khuynh hướng thoả hiệp với
nhau để nắm độc quyền.
Tổ chức độc quyền là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản lớn để tập trung vào trong
tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hoá nào đó nhằm mục đích thu
được lợi nhuận độc quyền cao.

thành những ngân hàng lớn. Khi sản xuất trong ngành công nghiệp tích tụ ở mức độ cao,
thì các ngân hàng nhỏ không đủ tiềm lực và uy tín phục vụ cho công việc kinh doanh của
các xí nghiệp công nghiệp lớn.
Các tổ chức độc quyền này tìm kiếm các ngân hàng lớn hơn, thích hợp với các điều kiện
tài chính và tín dụng của mình. Trong điều kiện đó, các ngân hàng nhỏ phải tự sát nhập
vào các ngân hàng mạnh hơn, hoặc phải chấm dứt sự tồn tại của mình trước quy luật khốc
liệt của cạnh tranh. Quá trình này đã thúc đẩy các tổ chức độc quyền ngân hàng ra đời.
Sự xuất hiện, phát triển của các tổ chức độc quyền trong ngân hàng đã làm thay đổi quan
hệ giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp, làm cho ngân hàng bắt đầu có vai trò
mới. Ngân hàng từ chỗ chỉ là trung gian trong việc thanh toán và tín dụng, nay đã nắm
được hầu hết tư bản tiền tệ của xã hội nên có quyền lực vạn năng, khống chế mọi hoạt
động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Dựa trên địa vị người chủ cho vay, độc quyền
ngân hàng cử đại diện của mình vào các cơ quan quản lý của độc quyền công nghiệp để
theo dõi việc sử dụng tiền vay, hoặc trực tiếp đầu tư vào công nghiệp. Trước sự khống
chế và chi phối ngày càng xiết chặt của ngân hàng, một quá trình xâm nhập tương ứng trở
lại của các độc quyền công nghiệp vào ngân hàng cũng diễn ra. Các tổ chức độc quyền
công nghiệp cũng tham gia vào công việc của ngân hàng bằng cách mua cổ phần của
ngân hàng lớn để chi phối hoạt động của ngân hàng, hoặc lập ngân hàng riêng phục vụ
cho mình. Quá trình độc quyền hoá trong công nghiệp và trong ngân hàng xoắn xuýt với
nhau và thúc đẩy lẫn nhau làm nảy sinh một thứ tư bản mới, gọi là tư bản tài chính.
V.I.Lênin nói: “Tư bản tài chính là kết quả của sự hợp nhất giữa tư bản ngân hàng của
một số ít ngân hàng độc quyền lớn nhất, với tư bản của những liên minh độc quyền các
nhà công nghiệp”.
Sự phát triển của tư bản tài chính dẫn đến sự hình thành một nhóm nhỏ độc quyền, chi
phối toàn bộ đời sống kinh tế và chính trị của toàn xã hội tư bản gọi là bọn đầu sỏ tài
chính.
Bọn đầu sỏ tài chính thiết lập sự thống trị của mình thông qua chế độ tham dự. Thực chất
của chế độ tham dự là một nhà tài chính lớn, hoặc một tập đoàn tài chính nhờ có số cổ
phiếu khống chế mà nắm được một công ty lớn nhất với tư cách là công ty gốc (hay là
“công ty mẹ”); công ty này lại mua được cổ phiếu khống chế, thống trị được công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status