Giáo trình Ký sinh trùng học thú y (Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên) doc - Pdf 15

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM Chủ biên: PGS.TS. NGUYỄN THỊ KIM LAN
GS. TSKH. NGUYỄN THỊ LÊ - PGS. TS. PHẠM SỸ LĂNG
- TS. NGUYỄN VĂN QUANG GIÁO TRÌNH
KÝ SINH TRÙNG HỌC THÚ Y
(Giáo trình dùng cho bậc Cao học)
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2008

1
2
MỞ ĐẦU

1. KHÁI NIỆM KÝ SINH VÀ VẬT KÝ SINH
Ký sinh - Parasitos là một trong những phương thức sinh tồn của sinh vật, là
hiện tượng phổ biến trong thiên nhiên, bao gồm những động vật, thực vật sống nhờ cơ
thể khác (gọi là vật ký sinh), sử dụng cơ thể đó (gọi là vật chủ) như là môi trường sống
và nguồn thức ăn, thường xuyên liên hệ với môi trường ngoài thông qua vật chủ của
mình. Nh
ư vậy, khái niệm về ký sinh trước hết là khái niệm về sinh thái học. Đó là
mối quan hệ qua lại giữa hai quần thể thuộc hai loài khác nhau.
Vậy ký sinh trùng học là gì? Ký sinh trùng học là khoa học không chỉ nghiên cứu
vật ký sinh và vật chủ của chúng, mà còn nghiên cứu mối quan hệ thích nghi của một
cơ thể này sống trên hoặc trong cơ thể khác, giống như trong sinh thái học nghiên cứu
mối quan hệ giữa động vật số
ng tự do với môi trường sống của chúng. Nhưng, sinh
thái học đại cương chủ yếu nghiên cứu một mặt là ảnh hưởng của môi trường đối với
cơ thể sống, còn ký sinh trùng học đại cương nghiên cứu đồng thời hai mặt: ảnh hưởng
của cơ thể đối với môi trường, ảnh hưởng của môi trường đối với cơ thể và mối quan
hệ qua l
ại ổn định của chúng. Do vậy, các phương pháp nghiên cứu thông thường của
sinh thái học đối với môi trường không đủ để nghiên cứu các hiện tượng của sự ký
sinh, mà phải sử dụng hàng loạt các phương pháp đặc biệt như là phương pháp miễn
dịch để nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường (cơ thể vật chủ) lên vật ký sinh; hay là
các biến đổi về sinh lý của vật ký sinh do sự tác độ
ng của môi trường (vật chất lên vật
ký sinh, hoặc những biến đổi bệnh lý đòi hỏi phải có những phương pháp nghiên cứu
đặc trưng không phải những phương pháp nghiên cứu về sinh thái học.

các động vật sống tự do.
Những vật ký sinh đầu tiên được tìm thấy ở động vật nuôi Việt Nam - theo ý kiến
của Railliet A. (1924) là do Bourger (1886) và Cattoin (1888). Cả hai tác giả này đều
ngẫu nhiên úm thấy hai loài sán lá: Fasciola gigantica và Gastrothylax crumenifer ở
gia súc tại Bắc Bộ. Sau đó, Evans và Rennie (1908) tìm thấy F. gigantica ở gia súc tại
Trung Bộ .
Năm 1892, Giam A. và Billet A. đã xuất bản công trình "Về một vài loài sán lá
ký sinh ở gia súc tại Bắc Bộ". Các tác giả đã tìm thấy ở bò và trâu của tỉnh Cao Bằng
loài sán lá:
F. hepatica và hai loài mới: Homalogaster poirieri (sau này được đặt lại
tên là H. paloniae Poirier, 1882) và Distoma coelomaticum (sau này được đặt lại tên là
Eurytrema coelomaticum) ở tuyến tuỵ của gia súc.
Trong các công trình của Railliet A. và Gomy (1897), Railliet A. và Marotel G.
(1898) đã thông báo về các lem sán lá F. hepatica, E. pancreaticum tìm thấy ở gia súc
tại Nam Bộ và Bắc Bộ.
Năm 1905, Gai de L. tìm thấy hai loài sán lá gan: Opisthorchis felineus và
Clonorchis sinensis ở người. Barrois và Nọc (1908) tìm thấy loài sán lá Fascilopsis
buski ở người (Nam Bộ).
Năm 1910 - 1911 , Mathis C. và Leger M . đã mô tả một số loài mới đối vớ
i khoa
học và công bố một số danh sách về các loài sán lá ký sinh ở người và động vật.
Năm 1911 , Railliet A. và Henry xuất bản công trình kết quả nghiên cứu 12 loài
giun sán ở lợn do Bauche thu thập ở lò mổ của thành phố Huế trong 2 năm liên tục.
Năm 1911- 1913 , Brau và Bruyant tìm thấy loài sán lá Gastrodiscoides hominis
ở lợn và người tại Nam Bộ.
Năm 1912, Bauche J. và Bemard N. thông báo về loài giun tròn Oxyspirura
mansoni ký sinh ở mắt gà nuôi tại Huế.

4
Năm 1924, Railliet A. công bố công trình “Giun sán ở động vật và người tại

trùng ngoại ký sinh: ve - bét, muỗi, ruồi, mồng.
* Giai đoạn từ 1955 đến nay
Sau khi được giải phóng (1954), mi
ền Bắc Việt Nam bắt đầu một giai đoạn phát
triển mới trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học
Đây là thời kỳ đào tạo đội ngũ cán bộ ở mọi lĩnh vực, trong đó có khoa học ký
sinh trùng. Công tác điều tra cơ bản về ký sinh trùng và các bệnh ký sinh trùng ở
người, vật nuôi, cây trồng được tiến hành có hệ thống, liên tục với những kỹ thuậ
t,
phương pháp, trang thiết bị đầy đủ hơn.

5
Năm 1975, phạm vi điều tra cơ bản về ký sinh trùng có điều kiện mở rộng trên
toàn lãnh thổ Việt Nam.
Những năm đầu của giai đoạn này là thời kỳ triển khai các nghiên cứu hợp tác
quốc tế chủ yếu do các chuyên gia Liên Xô (cũ) và các nước bạn sang để giúp đỡ, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ trong nước, đồng thời Nhà nước ta cũng gửi một số cán bộ
đi
đào tạo ở nước ngoài.
Cuối năm 1960 - 1961, đoàn điều tra của Viện sinh học thổ nhưỡng ở Viễn Đông
(Liên Xô cũ) đã tiến hành điều tra trên 6.000 động vật có xương sống ở Hải Phòng,
trong đó có 327 gia cầm và 619 chim hoang. Đã tìm thấy 115 loài sán lá, 54 loài sán
dây ở chim nhà và chim hoang, trong số đó có 33 loài mới đối với khoa học
(Oschmarin P. G. (1964 - 1971); Oschmarin P. G.; Mamaev I. U., Lebexev B. I., 1970;
Oschmarin P. G. và Demchin N. I., 1972).
Cuối năm 1961, đầu năm 1962, đ
oàn điều tra hợp tác Việt - Xô do Giáo sư
Spasski A. A., Sudarikov V: E., Đặng Văn Ngữ, Đào Văn Tiến và nhiều cán bộ từ các
cơ quan khác nhau tham gia. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu tại một số
vùng trung du, đồng bằng, ven biển miền Bắc, đã mổ 623 cá thể động vật và tìm thấy 1

Việt (1970) ; Nguyễn Kim Bằng (1970); Nguyễn Thị Lê (1971 , 1977, 1979, 1980,
1983, 1985, 1988, 1990, 1991, 1995, 1996); Hà Ký (1968, 1976 ); Matskasi (1973);
Phạm Văn Khuê (1970, 1971, 1973 ); Phạm Sỹ Lăng (1973, 1975 ); Nguyễn Thị
Lê, Nguyễn Quý Tuấn (1976); Nguyễn Thị
Lê, Phạm Văn Lực (1976); Phan Trọng
Cung, Đoàn Văn Thụ, Nguyễn Văn Chí (1977); Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh
(1978); Phan Thế Việt, Phan Lục (1978); Phan Thế Việt (1966, 1973, 1977, 1978,
1981, 1983, 1984 ); Nguyễn Thị Kỳ (1977, 1980, 1994); Nguyễn Thị Lê và cộng sự
(1987, 1990, 1996); Hà Duy Ngọ (1985, 1990 ); Nguyễn Văn Châu (19971; Nguyễn
Thu Vân (1997); Phạm Văn Lực, Nguyễn Văn Đức, Bùi Quang Tề, Lương Tố Thế, Lê
Ngọc Mỹ đã công bố về khu hệ, sinh họ
c, sinh thái của ký sinh trùng ở các nhóm
động vật Việt Nam.
Từ năm 1990 đến nay, đã có những công trình nghiên cứu về giun sán ký sinh ở
lợn một số tỉnh phía Nam và biện pháp phòng ngừa của Lương Văn Huấn (1990 -
1994); những công trình nghiên cứu về bệnh sán lá gan và bệnh tiên mao trùng của
Lương Tố Thu và cs (1992 - 1996); công trình nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học của
các bệnh ký sinh trùng chính ở trâu, bò, lợn Việt Nam và biện pháp phòng trừ củ
a
Nguyên Đăng Khai (1992 - 1996); công trình nghiên cứu về bệnh giun phổi lợn của
Nguyễn Đức Tân (1992 - 1996); công trình nghiên cứu về sự liên quan giữa tỷ lệ
nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc (KCTG) với tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò (KCCC)
để đánh giá tình hình dịch tễ bệnh của Nguyễn Trọng Kim (1993 - 1997); công trình
nghiên cứu một số đặc tính sinh học của Trypanosoma evansi (Steel, -1885) và bệnh
học do Trypanosoma evansi gây nên của Nguyễn Quốc Doanh (1993 - 1998); công
trình nghiên cứu về d
ịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở tỉnh Bắc Thái (cũ) của Lê Hải
Đường (1994 - 1998); công trình nghiên cứu tình hình nhiễm cầu trùng Eimeria, một
số đặc điểm của bệnh cầu trùng gà ở TP. Hồ Chí Minh và thử nghiệm thuốc phòng trị
của Hoàng Thạch (1994 - 1999); công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, dịch tễ

p những hiểu biết về sự phân bố của ký sinh
trùng trong thiên nhiên, về hiện tượng ký sinh trong giới động vật, về các kiểu liên hệ
khác nhau của vật ký sinh và vật chủ; về nguồn gốc của ngoại ký sinh trùng, nội ký
sinh trùng và ký sinh trùng đường máu.
Chương 2. Sự thích nghi của vật ký sinh với đời sống ký sinh
Nội dung chương 2 trình bày sâu những thích nghi về llllul thái, cấu tạo của vật
ký sinh (trong đó có những biến thái thoái hoá, bi
ến thái tiến hoá và những thể hiện
của sự thích nghi về hình thái, cấu tạo của vật ký sinh; những thích nghi về sinh sản và
sự phát triển của vật ký sinh (thích nghi về sinh sản, sự phát tán ra ngoại cảnh, thích
nghi về chu kỳ sống phù hợp với vật chủ ).
Chương 3. Vật chủ, mối quan hệ vật ký sinh và vật chủ
Nội dung chương 3 trình bày chi tiết các loại vật chủ của ký sinh trùng, nguồ
n
gốc của vật chủ trung gian, mối quan hệ giữa vật ký sinh và vật chủ. Những nội dung
của mối quan hệ này là: đường xâm nhập của vật ký sinh vào vật chủ, hiện tương di
chuyển của ký sinh trùng trong cơ thể vật chủ, hoạt động của vật ký sinh ảnh hưởng
đến vật chủ và phản ứng của vật chủ lên vật ký sinh.
Chương 4. Khu hệ ký sinh trùng và môi trườ
ng
Nội dung chương 4 giới thiệu sự phụ thuộc của khu hệ ký sinh trùng vào tuổi vật
chủ và các mùa trong năm, vào thức ăn và đời sống của vật chủ, vào sự di cư của vật
chủ, vào đời sống xã hội của vật chủ, vào vùng địa lý, vào sự có mặt của các loại khác
trong quần lạc ký sinh và quần lạc sinh vật.

8
Chương 5. Miễn dịch, vấn đề kháng thuốc và vắcxin chống ký sinh trùng
Nội dung chương 5 trình bày những quan điểm mới về miễn dịch, về vấn đề
kháng thuốc chống ký sinh trùng (trong đó có những tiến bộ của hoá trị liệu và hoá dự
phòng nhiễm ký sinh trùng, tính kháng thuốc chống ký sinh trùng), về vắcxin chống ký

ngoài nước, giúp người học có kiến thức sâu và rộng về một s
ố bệnh ký sinh trùng
quan trọng thường gặp ở gia súc, gia cầm. 9
Phần thứ nhất
KÝ SINH TRÙNG HỌC ĐẠI CƯƠNG

10
Chương 1

PHÂN BỐ VÀ NGUỒN GỐC CỦA KÝ SINH TRÙNG

1. PHÂN BỐ VÀ HIỆN TƯỢNG KÝ SINH CỦA KÝ SINH TRÙNG TRONG
THIÊN NHIÊN
1.1. Phân bố của giới ký sinh trùng trong thiên nhiên
Ký sinh trùng phân bố rất rộng trong thiên nhiên, gồm các đại diện của 20 lớp

Trong thiên nhiên thường gặp một số hiện tượng có thể tưởng nhầm là ký sinh,

11
đó là hiện tượng hội sinh và cộng sinh.
Hiện tượng cộng sinh (symbiosis hoặc mutualis: hội sinh hoặc hỗ trợ) là hai cơ
thể sống chung với nhau và mang lại lợi ích cho nhau. Ví dụ: cua biển giống Melia và
hải quỳ Cua giúp hải quỳ di chuyển và tìm nguồn thức ăn phong phú hơn, còn hải quỳ
dùng những thích ty bào của mình để bảo vệ cua (hình l).

Hình 1 . Hiện tượng cộng sinh (symbiosis) giữa cua và hải quỳ
A - Cua ký cư và hải quỳ. B - Cua Melia và hải quỳ (a. hải quỳ)

Hiện tượng hội sinh (commensalism) là hai cơ thể sống chung với nhau, nhưng
chỉ một bên thu lợi còn bên kia không có tác hại gì và cũng không được lợi gì. Ví dụ
cua ký cư trong vỏ ốc, giun ít tơ (Cllaetogaster lymnae) ở ốc Lymnae, cá Flerafer họ
Anlmodytidae sống trong Hotothltria tublosa (hình 2) hoặc cá dính Ecchneis remora
bám vào cá hồng để sử dụng thức ăn thừa của cá hồng (hình 3).
Hiện tượng ký sinh (parasilism) là hiện tượng sinh vật này sống trên sinh vậ
t kia,
giữa hai cơ thể một bên thu được lợi ích, còn bên kia bị tác hại. Thường vật ký sinh
gây bệnh cho vật chủ, rất ít khi vật chủ không bị phát bệnh. Khi đó, vật chủ trở thành
vật mang ký sinh trùng, nghĩa là ký sinh trùng ở trong mô, cơ quan của vật chủ hoàn
toàn khoẻ mạnh và vật chủ trở thành nguồn phát tán bệnh. Nét chủ yếu đặc trưng cho
đời sống ký sinh và khác biệt với cơ thể sống tự do là m
ối quan hệ với môi trường bên
ngoài. Động vật sống tự do trực tiếp liên hệ với môi trường bên ngoài, chịu tác động
của khí hậu, thổ nhưỡng và các yếu tố sinh học; còn động vật sống ký sinh phụ thuộc
vào vật chủ, thông qua sự tiếp xúc của vật chủ với môi trường mà đảm bảo khả năng
tồn tại của vật ký sinh. Như vậy, nguyên lý sinh thái là nét đặc trưng cơ
bản trong sự

F - Ong Angitia punctoria ký sinh bậc 2 trên Pyrausta nubilalis
G - Ong Pimpla ký sinh bậc 2 trên Angitia
H - Ong Eupteromatus nidulans ký sinh bậc 2 trên Angitia

14

Hình 5. Sơ đồ môi liên hệ giữa vật chủ, vật ký sinh và hiện tượng ký sinh
bậc 2 của chúng (Nguyễn Thị Lê, 1998)

Trung tâm là vật chủ (Loxotege sticticillis).
Xung quanh là vật ký sinh.
Tiếp theo là ký sinh bậc 2, ngoài cùng là ký sinh bậc 3

1. 3. Các kiểu trên hệ khác nhau của vật ký sinh và vật chủ
Trong thiên nhiên, giữa đời sống ký sinh và đời sống tự do của giới sinh vật,
người ta đã gặp các khâu trung gian và sự chuyển tiếp từ đời sống tự do sang đời sống
ký sinh.
1.3.1. Ký sinh tuỳ ý và ký sinh bắt buộc

Trong hình thức liên hệ giữa vật ký sinh và vật chủ, do mức độ thích nghi dần
của cơ thể sống tự do với đời sống ký sinh mà ký sinh trùng lúc sống nhờ cơ thể vật
chủ, lúc sống tự do. Người ta gọi đó là "ký sinh tuỳ ý" hay còn gọi "ký sinh giả"; nghĩa
là động vật sống tự do nếu ngẫu nhiên gặp vật chủ thích hợp thì nó chuyển sang đời
sống ký sinh và làm ảnh h
ưởng đến hoạt động bình thường của vật chủ. Như vậy,
trong chu kỳ sống của những động vật này, giai đoạn ký sinh không phải là bắt buộc.

15
Ví dụ: Các loài đỉa là những động vật sống tự do, dinh dưỡng bằng các loài động vật
không xương sống rất nhỏ. Nhưng nếu bám được vào động vật và người, chúng sẽ tạm

Dựa vào thời gian tiếp xúc giữa vật ký sinh và vật chủ, người ta chia vật ký sinh
thành "vật ký sinh tạm thời" và "vật ký sinh cố định" hay "vật ký sinh vĩnh viễn".
- Vật ký sinh tạm thời: những vật ký sinh này phát triển từ trứng đến giai đoạn
trưởng thành đều ở ngoài cơ thể ký chủ, chúng xâm nhập vào ký chủ cốt để lấy thức
ăn, sau khi ăn no, chúng rời bỏ ký chủ và l
ại chỉ tìm đến ký chủ khi đói (ví dụ: đỉa,
muỗi ).
Vật ký sinh tạm thời thường ký sinh trên các bộ phận bên ngoài của ký chủ, hay
ở các xoang của cơ thể (xoang mũi, miệng, mang cá).
Nói cách khác, những vật ký sinh tạm thời là những vật ký sinh bên ngoài - ngoại

16
ký sinh.
Do phương thức sống tương đối tự do mà ngoại ký sinh trùng (trong đó có cả đỉa)
không khác lắm so với các loài cùng giống sống tự do về cấu tạo cơ thể, vì môi trường
tạm thời sống trên cơ thể ký chủ không thể làm thay đổi nhiều đến hình thái và cấu tạo
cơ thể của những vật ký sinh này.
Vật ký sinh tạm thời chỉ tiếp xúc với vật chủ từ
ng lúc. Ví dụ: để hút máu, muỗi
chỉ tiếp xúc với vật chủ 1 - 2 phút. Do đó, ở chúng sự thích nghi hình thái thể hiện rất
ít (chủ yếu là vòi hút), còn những cơ quan khác không sai khác gì so với các loài muỗi
khác sống tự do không dinh dưỡng bằng máu. Hoặc đối với loài ve Ixodes cũng vậy,
thời gian hút máu của các giai đoạn ấu trùng, thiếu trùng, trưởng thành chỉ từ 3 - 20
ngày.
- Vật ký sinh cố định: những vật ký sinh này sống ký sinh trong thời gian dài, đôi
khi cả đời trên hoặc trong cơ thể vật chủ (chấy, rận, giun sán ).
Ngược với vật ký sinh tạm thời, các vật ký sinh cố định xâm nhập vào ký chủ
không chỉ để ăn, mà còn cư trú ở ngoài hoặc bên trong ký chủ với thời gian dài hoặc
suốt đời. Những giun sán thuộc loại này thường hay sống trong các cơ quan phủ tạng,
trong các mô và các xoang của ký chủ. Skrjabin K. I. và Schutz R. S. (1940) đã chia

1.3.4. Ký sinh thời kỳ

* Sự ký sinh lặp lại ở một số pha trong chu kỳ phát triển
Vật ký sinh chỉ sống những giai đoạn nhất định ở vật chủ. Ví dụ như giun tròn
Rhabdias bufonis ký sinh trong phổi ếch. Khi sống trong phổi ếch, chúng là thế hệ
lưỡng tính. Giun trưởng thành đẻ trứng, trứng ra ngoài qua miệng hoặc ruột vào đất
phát triển thành ấu trùng phân tính sống tự do. Sau đó con đực và con cái thụ tinh và
đẻ ra ấu trùng. âu trùng l
ại xâm nhập vào vật chủ là ếch. Thế hệ Rhabdias sống tự do
về cấu trúc rất gần với giun tròn sống tự do giống Rhabditis. Như vậy, ở đây có sự xen
kẽ thế hệ ký sinh với thế hệ tự do.
* Sự ký sinh lặp lại ở tất cả các pha phát triển khác nhau trong một thê hệ
Hiện tượng này gặp ở ve - bét (Ixodidae). Ký sinh trùng này có 3 pha (3 giai
đoạn) phát triể
n (ấu trùng, thiếu trùng và trưởng thành).
Ở các pha ấu trùng, thiếu trùng và trưởng thành đều có sự xen kẽ giữa đời sống
ký sinh và đời sống tự do.
* Sự lặp lại đời sống ký sinh trong suốt chu kỳ sống ở các thế hệ khác nhau
Kiểu này gặp ở vật ký sinh có chu kỳ sống phức tạp như sán lá (Trematoda) cần
2 ký chủ trung gian. Chúng thường có 3 thế hệ: sán lá trưởng thành và hai thế hệ đơn
tính sinh
(Sporocyst và Redia). Sán trưởng thành - thế hệ lưỡng tính - sống ký sinh ở
vật chủ có xương sống, đẻ trứng, trứng rơi vào nước phát triển thành Miracidillm (pha
sống tự do đầu tiên). Miracidium xâm nhập vào ốc trở thành các thế hệ đơn tính sinh là
Sporocyst và Redia. Trong Redia hình thành Cercaria (thế hệ lưỡng tính trong tương
lai). Cercaria thoát khỏi ốc vào nước (pha sống tự do thứ hai), tìm vật chủ trung gian
thứ hai (thường là cá hoặc các loài côn trùng sống trong nướ
c). Trong vật chủ trung
gian thứ hai, Cercaria rụng đuôi và trở thành Metacercana. Phần lớn vật chủ trung
gian thứ hai bị động vật có xương sống nuốt phải, Metacercaria được giải phóng trong

định. Ví dụ như đơn bào Infusoria (Tricllodina). Tổ tiên của nó có đời sống cố định
bằng cách bám chắc vào đáy ao, hồ hoặc bám vào các cơ thể sống ở nước và sống tự
do. Sau đó, một số loài trong đơn bào này (như Coronua sp.) luồn sâu vào da vật chủ
(cá) và chuyển sang đời sống ngoại ký sinh.
2.2. Nguồn gốc nội ký sinh trùng
Nội ký sinh trùng bắt nguồn từ
đời sống ngoại ký sinh. Ví dụ, đơn bào Infllsoria
(Trichodina) là ngoại ký sinh trùng ở mang và da cá, nhưng một số loài trong chúng,
ví dụ như T. urinaria ký sinh ở cá hồng chuyển sang đời sống nội ký sinh trong túi bài
tiết, ống dẫn bài tiết hay ống dẫn trứng.
Một ví dụ điển hình nữa là sán lá đơn chủ (Polystoma integerrimum) sống ở
mang nòng nọc, khi nòng nọc biến thái thành ếch chúng chuyển vào sống ở túi niệu
ếch và trở thành n
ội ký sinh trùng.
2.3. Nguồn gốc ký sinh trùng đường máu
Dạng nội ký sinh trùng đặc biệt là ký sinh trùng đường máu. Hiện nay có hai
quan điểm:
- Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ký sinh trùng đường máu ở động vật có xương
sống trước đây là ký sinh trùng đường ruột của động vật không xương sống. Động vật
không xương sống (ví dụ: các loài côn trùng) hút máu động vật có xương sống. Từ đó,
ký sinh trùng đường ruột của các côn trùng này thích nghi d
ần với môi trường dinh
dưỡng là máu của động vật có xương sống. Đến lúc nào đó, các ký sinh trùng này từ

19
ruột của côn trùng chuyển sang cơ thể động vật có xương sống qua hoạt động chích
hút của côn trùng, và có sự thích nghi lần thứ hai với môi trường dinh dưỡng mới là
máu của động vật có xương sống.
Quan điểm ngược lại cho rằng, ký sinh trùng đường máu của động vật có xương
sống trước đây là ký sinh trùng đường ruột của chính động vật có xương sống đó. Dần

Những vật ký sinh tạm thời ít chịu ảnh hưởng của phương thức ký sinh nhất.
Ph
ần lớn các trường hợp hình thái, cấu tạo của vật ký sinh giống như các loài cùng
giống sống tự do, một số cơ quan chỉ biến đổi ở mức độ nhất định. Ngược lại, các vật
ký sinh cố định có sự biến đổi sâu sắc hình thái, cấu tạo cơ thể. Ngoài ra, các loài nội
ký sinh có những biến đổi được thể hiện rõ nét hơn nhiều so với các loài ngoại ký sinh.
Nh
ững biến đổi do phương thức sống ký sinh gây nên có thể thể hiện ở dạng biến
thái thoái hoá, hay ngược lại, có thể ở dạng biến thái tiến hoá và tạo ra một số phần cơ
thể mới mà các loài sống tự do cùng giống không có.
1.1. Biến thái thoái hoá
Để thích ứng với phương thức sống ký sinh, một số cơ quan trở thành không cần
thiết, và vì ít sử dụng nên các cơ quan này dần dần thoái hoá đ
i, có khi hoàn toàn
không còn nữa.
Nhiều loại ký sinh vật không có vỏ lông mao - cơ quan vận động như ở các loài
cùng giống sống tự do khác. Ví dụ, sán lá chỉ có vỏ lông mao trong giai đoạn tiền phát
phát triển - mao ấu (Miracidium), còn giai đoạn trưởng thành thì không có. Sán dây
cũng vậy, lông mao chỉ có ở giai đoạn ấu trùng (ví dụ, ấu trùng hình cầu của sán dây
đầu có móc ngoạm).
Thường thấy biến thái thoái hoá ở các cơ quan cảm giác của ký sinh vật. H
ầu như
tất cả nội ký sinh vật đều không có mắt, bởi vì chúng sống trong nội tạng, trong mô là
những nơi hoàn toàn tối. Ở sán lá, các điểm sắc tố mắt chỉ có ở mao ấu, hơn nữa ở đại
diện của họ Cyclocoeliidae, những "mắt" này thấy rõ qua vỏ trứng khi còn nằm trong
gấp khúc tử cung của các đốt già. Chỉ loài sán lá Acarthopsolus oculeatus Lewinsen là
còn có những điểm sắc t
ố mắt ở giai đoạn trưởng thành (ký sinh trùng ký sinh ở ruột
cá biển).
Cùng với cơ quan thị giác, cơ quan xúc giác cũng thường thấy thoái hoá. Vì mất

âm đạo sống độc lập, rồi sau đó mất dần.
Ví dụ 3. Giun tròn Bradynema rigidum. Giai đoạn lưỡng tính ký sinh trong cơ thể
bọ hung Aphodiusfimetaris, khi phát triển thành con đực, con cái riêng thì sống trong
đất. Con cái của loài này không sinh sản mà chết đi; còn ở con đực thì phát triển cơ
quan sinh dục cái, rồi con đực biến thành ký sinh trùng lưỡng tính và lại vào ký sinh ở
trong cơ thể bọ hung.
1 .2. Biến thái tiế
n hoá
Những động vật sống ký sinh có thể có những bộ phận mà hình thái hoàn toàn
mới phù hợp với đời sống ký sinh, trong khi những loài cùng giống sống tự do không
có.
Cấu tạo bộ phận miệng của đỉa (ký sinh trùng ngẫu nhiên) thật đáng chú ý. Ví dụ
như loài đỉa Hirudo medicinalis là đại diện của đỉa hàm (Gentahobdeltiae): trong hốc
miệng của loài này có ba u cơ dài hình bầu dục, gọi là hàm. Trên mỗi hàm lại có
nhữ
ng răng nhỏ, nhọn. Nhờ có những cái "cưa" hình bán nguyệt đặc biệt này mà đỉa có
thể cắt sâu vào da hay vào niêm mạc cơ thể ký chủ để làm chảy máu. Trong khoảng
giữa các răng có các ống tuyến nước bọt, các enzim giữ cho máu không đông.

22
Biến thái tiến hoá của ký sinh trùng được thể hiện đầy đủ nhất là ở sự hình thành
những cơ quan cố định. Cũng dễ hiểu, khi cơ thể chuyển từ phương thức sống tự do
sang phương thức sống ký sinh và mất đi khả năng tự chọn thức ăn thì điều cần thiết
trước tiên là phải bám thật chặt vào cơ thể ký chủ
để không bị các tác động bên ngoài
như dòng nước chảy, nhu động ruột v.v có thể bật chúng ra khỏi nơi cư trú.
Giun, sán có hai loại cơ quan cố định: cơ quan hút và các bộ phận móc bám bằng
kinh. Những bộ phận này có thể là những cơ quan riêng (móc, gai ) hay là bộ phận
chuyên biệt của cơ quan nào đó mà loài cùng giống sống tự do không có.
Mức độ phát triển những bộ phận cố định tuỳ từ

Trichodina, Monogenea, Trematoda, Nermetini, đỉa, ve, bét
Kéo dài hoặc co ngắn cơ thể lại. Ví dụ: đỉa, Copepoda.

23
- Hợp nhất các đốt. Ví dụ: Copepoda.
* Đối với nội ký sinh trùng
So với ngoại ký sinh trùng, sự biến đổi của nội ký sinh trùng còn rõ rệt hơn
nhiều.
- Ký sinh trùng đường ruột: phát triển theo hướng kéo dài cơ thể. Ví dụ: sán dây,
giun đầu gai lợn.
- Ký sinh trùng bên trong mô: thường phát triển theo hướng co cơ thể lại thành
dạng tròn để tăng bề mặt tiếp xúc. Ví dụ như giun tròn Tetrameres: con đực ở
xoang
dạ dày thì cơ thể dài, con cái sống trong niêm mạc thì cơ thể tròn. Hoặc có những loài
phát triển theo hướng phân nhánh cũng nhằm tăng bề mặt tiếp xúc. Ví dụ: giáp xác
Dendrogaster sống trong xoang cơ thể sao biển, cơ thể chúng phân nhiều nhánh giúp
bề mặt tiếp xúc với cơ thể sao biển tăng lên nhiều lần. 1. 3.2. Kích thước cơ thể

Ảnh hưởng của đời sống ký sinh đến kích thước cơ thể của phần lớn các ký sinh
trùng nói chung khó nhận thấy. Nhưng đối với một số trường hợp thì thể hiện rõ theo
xu hướng tăng kích thước cơ thể. Ví dụ, trong lớp giun tròn: giun đũa lợn (Ascaris
suum) dài tới 35 cái, giun đầu gai lợn có thể dài 70cm và rất dày. Trong lớp sán dây:
sán dây Diphyllobothrium latum dài đến hàng chục mét. Trong số giáp xác, các loài

24
thuộc giống Copepoda sống tự do, kích thước thường không quá mỉm, trong khi các
loài ký sinh ở cá dài tới 4 - 5cm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status