tài nguyên nước và vấn đề ô nhiễm nước - Pdf 15

Tài nguyên nước và vấn đề ô nhiễm môi trường nước
I. Đặt vấn đề
Nước là một yếu tố sinh thái không thể thiếu đối với sự sống và là nguồn tài nguyên
có khả năng tái tạo vô cùng quý giá đối với con người. Nguồn nước quyết định ít nhiều
đến sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.
Nước là mắt xích đầu tiên của chuỗi dài dinh dưỡng chủ yếu của sự sống sinh vật, do
đó ảnh hưởng của nước đến sức khỏe là rất lớn.
Trong phát triển nông nghiệp, nước đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định đến năng
suất cây trồng và vật nuôi. Đặc biệt đối với các quốc gia nghèo, nơi sản xuất nông nghiệp
đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân thì nước lại càng có ý nghĩa sống còn.
Tuy vậy, do bùng nổ dân số, khai thác quá mức các nguồn nước, tài nguyên rừng bị tàn
phá trầm trọng nên các nước này đang phải đối mặt với thách thức lớn trong việc bảo vệ,
duy trì nguồn nước cho phát triển nông nghiệp bền vững, giải quyết vấn đề lương thực.
Trong phát triển công nghiệp và đô thị, nước cũng có vai trò to lớn. Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa là xu hướng tất yếu trong phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Cùng
với đó nhu cầu sử dung nước cũng tăng lên. Nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngày càng lớn,
ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong sinh hoạt hàng ngày, nước sạch là một nhu cầu cấp thiết của sự sống. Thiếu
nước sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống và phát sinh nhiều căn bệnh nguy hiểm.
Nước còn là môi trường sống của nhiều loại sinh vật từ thực vật, động vật đến vi sinh
vật.
Nước còn được xem là nguồn khoáng sản và năng lượng to lớn của nhân loại. Đây là
một tiềm năng cần được con người khai thác và sử dụng hợp lý.
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước đang là một trong những thực trạng đáng ngại nhất
của sự hủy hoại môi trường tự nhiên hiện nay.
Thế định viết về VĐ gì đây?
Nêu vai trò quá nhiều lại không dẫn dắt đến chủ đề chính
1
Tài nguyên nước và vấn đề ô nhiễm môi trường nước
II. Nội dung
2.1. Tài nguyên nước trên thế giới và Việt nam

ngầm và các khối băng. Dưới đây là bảng Lượng nước chảy trên sông của thế giới

Khu vực Dòng chảy hàng năm (km
3
) % so với toàn cầu Diện tích (1000 km
2
)
Châu Âu 321 7 10.500
Châu Á 14.410 31 43.475
Châu Phi 4.570 10 30.120
Bắc và Trung Mỹ 8.200 17 24.200
Nam Mỹ 11.765 25 17.800
Úc 348 1 7.683
Châu Đại Dương 2.040 4 1.267
Châu Nam Cực 2.230 5 13.977
Tổng số 46.768 100 149.022
So với nguồn nước mặt, nguồn nước ngầm có trữ lượng lớn hơn rất nhiều so với nước
của các con sông và hồ chứa. Đây là nguồn nước ngọt rất dồi dào của nhân loại. Nếu
chúng ta biết bảo vệ và khai thác hợp lý thu nước ngầm sẽ cho chúng ta nguồn nước ngọt
rất bền vững.
2.1.2. Tài nguyên nước của Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có lượng mưa bình quân hàng năm lớn
(1800 – 2000 mm) và có một hệ thống sông ngòi chằng chịt, tạo nên nguồn nước rất
phong phú. Nếu tính các sông có độ dài trên 10 km thì chúng ta có tới 2500 con sông, với
tổng chiều dài lên tới 52000 km. Trong đó hai hệ thống sông lớn nhất của cả nước là sông
Hồng và sông Cửu Long đã tạo nên hai vùng đất trù phú nhất cho phát triển nông nghiệp
Việt Nam. Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi ở miền Trung cũng rất phong phú, tạo nên
2
Tài nguyên nước và vấn đề ô nhiễm môi trường nước
các đồng bằng ven biển, tuy nhỏ hẹp nhưng rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp

hợp chất hữu cơ chứa clo. Nguyên nhân là dọc hai bên bờ sông có nhiều nhà máy, xí
nghiệp hóa chất, như ở sông Ranh chẳng hạn. Ở Hà Lan người ta đã phát hiện ra loại
nông dược độc hại và những chất vi ô nhiễm (Micropolluant) trong nước uống bắt nguồn
từ sông Ranh.
Ô nhiễm nước uống do nitrat (NO
3
-
) từ nông nghiệp là một vấn đề nghiêm trọng.
Nông nghiệp hiên đại ngày nay sử dụng quá nhiều phân hóa học (nhất là phân đạm).
Khoảng chừng 20 năm qua, lượng NO
3
-
đã khuyếch tán trong đất và gây ô nhiễm nước,
ngày càng nhiều nguồn nước có lượng NO
3
-
quá mức quy định. Song điều nguy hiểm hơn
nữa là ở vùng nông thôn thường có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật quá cao.
Tại các nguồn nước ở các khu công nghiệp thì nồng độ các chất có hại vượt quá liều
lượng cho phép bao gồm các chất hữu cơ, vô cơ khó bị phân giải trong tự nhiên. Chúng
có thể nổi trên mặt nước, lơ lửng hoặc lắng sâu dưới đáy và tan trong nước. Ví dụ chỉ một
giọt dầu cũng tạo diện tích váng 0,25 m
2
trên mặt nước, tương tự một tấn dầu sẽ tạo váng
500 ha, dù lớp màng váng rất mỏng song vẫn gây hại với sinh vật thủy sinh.
Ở các đô thị của các nước đang phát triển thì 95% cống rãnh không được xử lý nước
thải và đã xả ra các cánh đồng lân cận.
Thụy Sỹ là nước du lịch và vô cùng sạch sẽ. Song các con sông suối ngoài biên giới
Thụy Sỹ thì lại là nguồn nước bị ô nhiễm hoàn toàn.
Sông “Danuyp xanh” không còn là một hình ảnh thơ mộng, hiện nay với chiều dài

Ví dụ: Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm
bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các
nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp
thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về
mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu
lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH
4
là 4mg/1,
hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninh
cho thấy có lượng nước thải hàng nghìn m
3
/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn
nước và môi trường trong khu vực.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập
trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương). Mặt khác, còn rất
nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn
chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu
gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô
nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000
m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng
nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại
chưa được thu gom khoảng 1.200 m
3
/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh,
mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH
4
, NO

xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng
ven biển Việt Nam.
2.2.2. Nguồn gốc và tác nhân gây ô nhiễm nước
2.2.2.1. Nguồn gốc
Do tự nhiên: Núi lửa phun bụi lên làm ô nhiễm nước, gió cuốn bụi lên làm ô nhiễm
nước.
Do những hoạt động của con người:
 Do nước thải công nghiệp.
 Do nước thải nông nghiệp.
 Do nước thải sinh hoạt, bao gồm nước tắm giặt, nước chế biến thực phẩm, nước
cống rãnh và nước các công trình vệ sinh.
2.2.2.2. Tác nhân
 Tác nhân hóa học.
 Tác nhân lý học.
 Tác nhân sinh học.
2.2.3. Tác hại của ô nhiễm nước
Tác hại của ô nhiễm nước phụ thuộc vào tác nhân và mức độ ô nhiễm.
2.2.3.1. Ô nhiễm do các chất hữu cơ dễ phân giải
5
Tài nguyên nước và vấn đề ô nhiễm môi trường nước
Trường hợp nồng độ các chất hữu cơ không cao, các vi sinh vật hảo khí tiến hành
phân giải các chất hữu cơ thành CO
2
và H
2
O, các chất gây ô nhiễm giảm xuống và ít tác
động đến môi trường.
Trường hợp nồng độ các chất hữu cơ cao, các vi sinh vật yếm khí bắt đầu hoạt động
để phân giải chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí. Các hợp chất trung gian được tạo thành
như NH

Xử lý sơ bộ
- Hóa lý
- Hóa học
Tuyển nổi, hấp phụ,
keo tụ…
Oxy hóa, trung
bình…
Tách các chất lơ
lửng và khử màu
Trung hòa và khử
độc nước thải
Xử lý tập trung
- Cơ học
- Sinh học
- Khử trùng
- Xử lý bùn cặn
Song chắn rác, bể
lắng cát
Hồ sinh vật, cánh
đồng tưới, lọc, kênh
oxy hóa, bể lọc sinh
học…
Trạm Clorato, máng
trôn, bể tiếp xúc
Bể metan, sân phơi
bún, trạm xử lý cơ
học bùn cặn
Tách các hợp chất
rắn và cặn lơ lửng
Tách các chất hữu

sinh học bao gồm các vi sinh vật có lợi như Protaza, Lipasa, Xenluloza, Amylaza giúp
phân giải các chất hữu cơ có chứa đạm, đường, xenlulo, khử hết mùi hôi của nước thải.
Mẫu nước thải của Nhà máy tinh bột sắn Sê Pôn (thuộc Công ty Thương mại Quảng Trị)
khi chưa xử lý do Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng Quảng Trị thực hiện cho
thấy các chỉ tiêu BOD5, COD và TSS đều ở mức rất cao, vậy mà chỉ một tuần sau khi sử
dụng men Biological, lớp chất thải đã tan ra thành nước, mùi hôi biến mất đến 80%.
Kiểm tra lại các chỉ tiêu BOD5, COD và TSS ở hồ chứa cuối cùng đã giảm mạnh, chỉ còn
7
Tài nguyên nước và vấn đề ô nhiễm môi trường nước
khoảng 1 phần 10. Theo ông Nguyễn Tỷ, phương pháp này có thể áp dụng được cho tất
cả các cơ sở chế biến nông, lâm, hải sản.
Kỹ sư Nguyễn Tỷ và men Biological
Sử dụng bể tự hoại cải tiến BAST và BASTAF. Đây là giải pháp đã được nghiên cứu
thành công bởi TS. Nguyễn Việt Anh (Trường Đại học Xây dựng).
Bể BASTAF
8
Tài nguyên nước và vấn đề ô nhiễm môi trường nước
III. Kết luận và đề nghị
Ô nhiễm môi trường nước là một vấn đề mang tính thời sự hiện nay. Vấn đề bảo vệ
nguồn nước đang là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia và là mối quan tâm chung
của toàn cấu. Đây là một bài toán khó cần được loài ngưới chung tay giải dáp.
Theo tôi, để bảo vệ môi trường nước hiện nay, ngoài hai giải pháp trên chúng ta cần
phải:
− Đào tạo các cán bộ xử lý môi trường có trình độ chuyên môn cao.
− Cải tiến công nghệ xử lý nước thải trong các nhà máy, khu công nghiệp và
trong địa bàn dân cư sinh sống.
− Tăng cường tuyên truyền, nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường của
người dân.
− Giáo dục kiến thức về bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ.
Con người đang sống trong một thế giới có nhiều mối lo ngại về môi trường, chúng ta


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status