LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Vấn đề cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Phục
Hoà - Thực trạng và giải pháp
Chương I : Ngân hàng thương mại và kinh tế ngoài quốc doanh trong
nền kinh tế thị trường.
Chương II : Thực trạng về cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại NHNo
& PTNT Phục Hoà. Chương III : Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín
dụng Ngân hàng với kinh tế ngoài quốc doanh Tại
NHNO&PTNT Phục Hoà Chương I
Kinh tế ngoài quốc doanh và vai trò của Ngân hàng
thương mại đối với kinh tế ngoài quốc doanh
I. Kinh tế ngoài quốc doanh:
1. Khái niệm:
Kinh tế ngoài quốc doanh là một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc
dân, kinh tế ngoài quốc doanh do kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác hợp
thành. Trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh được khuyến khích phát triển, đây là điều kiện thuận lợi cho
kinh tế ngoài quốc doanh trỗi dậy. Các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh đã
nhanh chóng thích ứng với nền kinh tế thị trường, tiếp cận nhanh với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ, tham gia vào tất cả các lĩnh
vực hoạt động sản xuất kinh doanh. Kinh tế ngoài quốc doanh bao
gồm:Hợp tác xã, Công ty, Doanh nghiệp tư nhân, Hộ cá thể và Cá nhân
kinh doanh.
1. 1. Hợp tác xã
Hợp tác xã là đơn vị kinh tế do nhiều lao động tự nguyện tham gia
trong giai đoạn hiện nay Nhà nước ta thực hiện cổ phần hoá một số doanh
nghiệp nhà nước làm cho kinh tế ngoài quốc doanh càng khẳng định được
vị trí của mình trong nền kinh tế.
2. Đặc điểm của kinh tế ngoài quốc doanh : Một là : Kinh tế ngoài quốc doanh có quy mô hoạt động sản xuất
kinh doanh nhỏ, tham gia vào tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta được hình thành chủ
yếu do một số tư nhân cá thể tự bỏ vốn ra để tổ chức hoạt động sản xuất
kinh doanh, một phần được hình thành từ các doanh nghiệp Nhà nước sản
xuất kinh doanh thua lỗ, hoặc phá sản tiến hành cổ phần hoá thành các
doanh nghiệp tư nhân v.v Do đó chưa có quá trình để tích tụ, tập trung
vốn nên hầu hết các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh đều hoạt động với số
vốn ít ỏi, chủ yếu hoạt động bằng vốn tự có của mình, còn việc sử dụng
vốn vay của các Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác còn nhiều
hạn chế. Cho nên đại bộ phần các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh đều có
cơ sở vật chất nghèo nàn, sử dụng trang thiết bị cũ kỹ của các doanh nghiệp
Nhà nước thải ra, do đó năng lực sản xuất kinh doanh còn nhiều hạn chế,
năng suất lao động thấp, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, chưa có
điều kiện để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Trong nền kinh tế nước ta các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh có
số lượng tương đối lớn, mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh là tìm
kiếm lợi nhuận. Với tính năng động, sáng tạo của mình, các tổ chức kinh tế
ngoài quốc doanh tham gia vào hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất
kinh doanh, ngoại trừ một số ngành nghề do Nhà nước độc quyền quản lý
hoạt động. Do các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh tự chịu trách nhiệm về
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, lời ăn, lỗ chịu nên họ thấy
lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh nào có hiệu quả, thu lợi nhuận cao
thì họ sẽ đầu tư vào lĩnh vực đó và rồi khi gặp khó khăn họ lại chuyển sang
3.2. Kinh tế ngoài quốc doanh đã tạo ra một khối lượng lớn của
cải vật chất cho xã hội, góp phần làm tăng thêm nguồn thu cho ngân
sách Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường với tính năng động, sáng tạo của mình,
kinh tế ngoài quốc doanh đã có nhiều đóng góp cho nền kinh tế, tạo ra được một khối lượng lớn hàng hoá dịch vụ đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu ra nước ngoài, làm tăng kim ngạch xuất khẩu, năm 1999
giá trị làm ra của khu vực kinh tế tư nhân là 151. 388 tỷ VND, chiếm 41%
trong tổng GDP. (Báo pháp luật - số 59/2000). Với các khoản đóng góp cho
ngân sách nhà nước thì đóng góp của kinh tế ngoài quốc doanh cho ngân
sách nhà nước cũng rất lớn, trong những năm gần đây trong tổng thu ngân
sách nhà nước thì chiếm tới gần 40% là thu từ kinh tế ngoài quốc doanh, do
vậy để khơi tăng nguồn thu ngân sách từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Nhà nước cần phải tạo môi trường cho các thành phần kinh tế phát triển,
coi trọng việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng để các tổ chức kinh tế này mở rộng
liên doanh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước, thúc đẩy sản xuất
phát triển.
3.3. Kinh tế ngoài quốc doanh tạo môi trường cạnh tranh lành
mạnh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trong cơ chế thị trường các tổ chức kinh tế muốn tồn tại và phát
triển thì những hàng hoá, dịch vụ họ đưa ra thị trường phải được thị trường
chấp nhận tức là ngoài yêu cầu về chất lượng còn đòi hỏi phải có giá cả hợp
lý, mẫu mã, chủng loại phải phong phú nếu không sẽ bị quy luật cạnh tranh
đào thải. Chính điều đó đã tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi
tất cả các tổ chức kinh tế phải năng động tìm mọi biện pháp thay đổi cơ chế
quản lý, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao chất lượng
sản phẩm.
3.4. Kinh tế ngoài quốc doanh là thị trường rộng lớn để NHTM
biệt, không giống với bất cứ loại hình kinh doanh nào, sản phẩm kinh
doanh của NHTM là "Tiền tệ" và hoạt động của các NHTM gắn liền với
mọi hoạt động SXKD. Hoạt động của các NHTM bao gồm:
+ Nghiệp vụ huy động vốn:
Để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình các NHTM phải thực
hiện nghiệp vụ huy động vốn, vốn được huy động dưới các hình thức nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi của các tầng lớp dân cư, phát hành
chứng chỉ tiền gửi, ngoài ra còn có thể vay Ngân hàng Nhà nước, các tổ
chức tín dụng khác
+ Nghiệp vụ cho vay của các NHTM:
Đây là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu chiếm từ 70 % đến 80 % tổng thu
của các NHTM. Các NHTM tiến hành cho vay vốn ngắn hạn, cho vay
trung, dài hạn đối với mọi thành phần kinh tế, phương thức cho vay phong
phú như cho vay theo từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng v.v
+ Nghiệp vụ kinh doanh khác :
NHTM là trung tâm thanh toán thực hiện các nghiệp vụ thu hộ, chi
hộ, làm dịch vụ chuyển tiền, mua bán ngoại tệ, dịch vụ thanh toán quốc tế,
tham gia đầu tư vào các loại chứng khoán, làm đại lý phát hành chứng
khoán cho các công ty. v.v
Các Ngân hàng thương mại với tư cách là một trung gian tài chính và
hoạt động của các Ngân hàng thương mại(NHTM) là tìm kiếm lợi nhuận,
trong quá trình thực hiện mục tiêu kinh doanh của mình NHTM đã có
những đóng góp không nhỏ trong việc ổn định tiền tệ, chống lạm phát và
thúc đẩy nền kinh tế phát triển, những đóng góp đó được thể hiện qua vai
trò của nó trong nền kinh tế.
2. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế:
2.1. NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế:
Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, tổ
2.3. NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, các NHTM hoạt động
một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ của mình sẽ thực sự là một
công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ
thống, các NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu
thông. Thông qua việc cấp các khoản tín dụng cho các ngành kinh tế
NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết
gián tiếp vĩ mô "Nhà nước điều tiết NH, NH dẫn dắt thị trường"
2.4. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính
quốc tế
Trong nền kinh tế thị trường khi mà các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ
ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các
nước trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới,
vì vậy nền tài chính của mỗi nước cũng phải hoà nhập với nền tài chính
quốc tế. NHTM thông qua hoạt động kinh doanh của mình đã đóng một vai
trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ kinh
doanh như nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán, nghiệp vụ hối đoái NHTM
đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng mở rộng. Thông qua
các hoạt động thanh toán, buôn bán ngoại hối, quan hệ với các NHTM
nước ngoài, NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước
phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển trên cơ sở nền sản xuất và
lưu thông hàng hoá phát triển, nền kinh tế càng phát triển ngày càng cần
đến hoạt động của NHTM. Thông qua việc thực hiện các chức năng vai trò
của mình nhất là chức năng trung gian tài chính NHTM đã trở thành một bộ
quốc doanh:
Hoạt động của các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh theo nguyên tắc
hạch toán kinh tế đòi hỏi phải chấp hành nguyên tắc tự bù đắp, doanh
nghiệp phải bảo đảm trang trải các khoản chi phí bằng thu nhập của mình
và có lãi. Việc sử dụng tín dụng NHTM như là một nguồn hình thành vốn
của các doanh nghiệp đòi hỏi phải tăng cường tiết kiệm.
Trong hoạt động SXKD không có sự trùng khớp về mặt thời gian
giữa số tiền nhận được từ doanh thu tiêu thụ sản phẩm với việc thực hiện
trang trải các khoản chi phí, do đó trong quá trình hoạt động SXKD thường xuất hiện nhu cầu vốn bổ sung với điều kiện phải hoàn trả bằng chính thu
nhập của mình, đã tạo ra sự kích thích mới nhằm thực hiện tốt hơn nguyên
tắc tự bù đắp, mặt khác chỉ có kinh doanh có hiệu quả thì mới đáp ứng
được điều kiện vay vốn của Ngân hàng, do đó tín dụng NHTM thúc đẩy
doanh nghiệp quan tâm hơn đến việc sử dụng vốn vay, nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh.
Xuất phát từ vai trò, đặc điểm cả các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh chúng ta thấy khu vực kinh tế này có một tiềm năng rất lớn, tuy
nhiên để phát huy được vai trò to lớn của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
cần phải có sự hỗ trợ của nhà nước để thúc đẩy các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh ngày càng phát triển.
Kinh tế ngoài quốc doanh với đặc điểm là có quy mô hoạt động nhỏ,
thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và mở rộng quy mô hoạt động
sản xuất kinh doanh, thiếu máy móc thiết bị hiện đại, cơ sở vật chất kỹ
thuật còn thiếu thốn. v.v cho nên vốn tín dụng của NHTM lại càng có vai
trò quan trọng đối với kinh tế ngoài quốc doanh.
Trong những năm qua từ chỗ chỉ tập chung vốn đầu tư cho khu vực
kinh tế Nhà nước, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ít được quan tâm thì
trong giai đoạn hiện nay, thực hiện công cuộc đổi mới phát triển nền kinh
Chương II
Thực trạng về cho vay kinh tế ngoài quốc doanh
tại NHN0 & PTNT phục hoà, huyện Quảng hoà, Tỉnh Cao Bằng
I. Khái quát về tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT
Phục hòa.
1. Khái quát về NHNo & PTNT Phục Hoà.
1.1. Sự hình thành và phát triển
Cùng Với sự ra đời và phát triển của hệ thống NHNo&PTNT Việt
nam, đến năm 1990 NHNo Phục Hoà được hình thành, khi mới thành lập
NHNo Phục Hoà có tên gọi là phòng giao dịch NH Phục Hoà trực thuộc
NHNo Huyện Quảng hòa và có trụ sở tại Xã Hoà thuận, Huyện Quảng hoà,
Tỉnh Cao bằng.
Trong quá trình hoạt động, để phù hợp với sự phát triển chung trong
giai đoạn hiện nay thì NHNo Phục Hoà đã có nhiều đổi mới :
- 1/1997 Phòng giao dịch NHNo Phục Hoà được tách ra khỏi
NHNo&PTNT Huyện Quảng hoà và nâng cấp lên thành NHNo loại IV trực
thuộc NHNo&PTNT Tỉnh Cao bằng.
- 4/1999 NHNo&PTNT Phục Hoà được nâng cấp lên thành NHNo
loại III.
1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động.
- NHNo Phục Hoà có Tất cả 13 cán bộ và nhân viên được bố trí vào
các phòng ban như sau :
+ Ban giám đốc gồm có 3 người.
+ Phòng Tín dụng gồm có 5 người.
+ Phòng Kế toán Ngân quỹ gồm có 5 người.
NHNo Phục Hoà là chi nhánh hạch toán phụ thuộc, trực thuộc
NHNo&PTNT Tỉnh Cao bằng.
Phục Hoà trong một số năm gần đây :
ĐV: Triệu VND
Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 30/9/2000
1. Nguồn vốn huy động 2.097
2.226
3.397
- Tiền gửi TCTD 205
44
266
- Tiền gửi TCKT 328
318
62
- Tiền gửi TK 1.564
1.864
3.069
2. Sử dụng vốn.
19.485
- KT ngoài QD 1.957
3.375
1.004
- Dư nợ 9.319
14.296
10.558
T. đó : - DN nhà nước 7.116
12.669
9.084
- KT ngoài QD 2.023
1.627
1.474
3. Cho vay hộ nghèo
1.801
1.171
- Chênh lệch Thu - Chi (+) 245
290
412
(Theo báo cáo tín dụng năm 1998 - 1999 - 9/2000 ) 2.2.1. Công tác huy động vốn
Qua số liệu biểu 1 cho thấy nguồn vốn huy động qua các năm đều
tăng năm 1999 so với năm 1998 tăng 129 triệu, đến 30/9/2000 so với năm
1999 tăng 1.171 triệu, trong tổng nguồn vốn huy động thì nguồn tiền gửi
tiết kiệm chiếm tỷ trọng lớn nhất, năm 1999 TG tiết kiệm chiếm tới 83,7%,
năm 2000 chiếm tới 90,4%, tuy nhiên nguồn vốn tự huy động chỉ đáp ứng
được gần 20% nhu cầu sử dụng vốn.
2.2.2. Công tác sử dụng vốn.
Cùng với việc đẩy mạnh công tác huy động vốn thì việc sử dụng vốn
đầu tư tín dụng cũng được đặc biệt quan tâm, nó là nhiệm vụ hàng đầu của
hoạt động kinh doanh bởi các khoản thu lãi cho vay ở đây chiếm gần 100%
tổng thu, cho nên nếu không coi trọng công tác này sẽ ảnh hưởng lớn tới
kết quả kinh doanh của đơn vị. Vì vậy NHNo Phục Hoà đã và đang thực
hiện việc đẩy mạnh cho vay, quản lý tốt dư nợ, làm tốt công tác tín dụng.
- Doanh số cho vay năm 1999 tăng 14.253 triệu đồng, doanh số cho
vay tăng chủ yếu ở doanh nghiệp Nhà nước (tăng 13.335 triệu đồng), còn
kinh tế ngoài quốc doanh tăng không đáng kể chỉ tăng 939 triệu đồng, đến
- Công tác thu nợ: doanh số thu nợ năm 1999 so với năm trước tăng
240 triệu đồng, đến 30/9/2000 doanh số thu nợ đạt 597 triệu đồng tăng so
với năm trước là 249 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 71%.
- Dư nợ năm 1999 tăng hơn so với năm 1998 là 1.370 triệu đồng, với
tỷ lệ tăng hơn năm trước là 96%. Đến 30/9/2000 dư nợ đạt 2.647 triệu
đồng, so với năm trước chỉ đạt 95%.
2.2.3. Công tác kế toán - Ngân quỹ.
* Công tác kế toán.
Với nhiệm vụ thực hiện hạch toán, phản ánh đầy đủ, kịp thời các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tham gia trực tiếp vào công tác huy động vốn,
kế toán cho vay vốn. Mạng lưới phục vụ đã được tổ chức tốt và thực hiện
chuyển tiền nhanh qua mạng máy vi tính, đưa giao dịch trực tiếp với khách hàng qua mạng máy tính cho nên dịch vụ chuyển tiền được thực hiện
nhanh, chính xác, công tác huy động vốn cũng được thực hiện tốt, tạo điều
kiện thuận lợi cho khách hàng đến gửi, rút tiền với phương châm vui lòng
khách đến vừa lòng khách đi cho nên trong những năm qua nguồn vốn huy
động đã không ngừng được tăng trưởng và đã tạo được lòng tin đối với
khách hàng, số lượng khách có quan hệ giao dịch với đơn vị ngày càng gia
tăng, làm cho lượng chứng từ giao dịch bằng tiền mặt cũng gia tăng.
* Công tác ngân quỹ:
Chấp hành nghiêm chỉnh chế độ an toàn kho quỹ, chế độ thu, chi tiền
tiền mặt của Ngân hàng Nhà nước và NHNo, công tác thu chi tiền mặt đáp
ứng được nhu cầu giao dịch của khách hàng, trong quá trình thu, chi tiền
cho khách hàng đã tạo được uy tín đối với khách hàng do đó đã góp phần
khơi tăng thêm nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm.
2.2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh
Qua số liệu biểu 1 cho thấy kết quả kinh doanh năm 1999 tăng hơn
năm trước là 1.285 triệu đồng, 9 tháng đầu năm 2000 thực hiện được 1.137
định của Chính phủ và của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Nguyên tắc
này được thực hiện sẽ đảm bảo an toàn cho những khoản tiền vay của Ngân
hàng, lời hứa trả nợ của khách hàng không có gì đảm bảo một cách chắc
chắn 100% là họ trả nợ đúng hạn, vì việc kinh doanh của khách hàng có thể
gặp bất trắc và họ sẽ không trả được nợ cho Ngân hàng, khi đó Ngân hàng
sẽ gặp rủi ro, khi Ngân hàng gặp rủi ro, Ngân hàng có thể bị thiệt hại về thu nhập, mất uy tín với khách hàng hoặc có thể bị phá sản. Do đó để hạn chế
rủi ro từ phía khách hàng có thể gây ra, Ngân hàng phải thực hiện tốt việc
đảm bảo tiền vay theo quy định.
1.2. Điều kiện cho vay:
Điều kiện 1 : Người vay vốn phải có đầy đủ tư cách pháp nhân, có
năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và phải chịu trách nhiệm về
hành vi của mình theo quy định của pháp luật.
Điều kiện 2 : Người vay vốn phải có khả năng tài chính, đảm bảo
khả năng trả nợ trong thời hạn đã cam kết.
Điều kiện 3 : Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
Điều kiện 4 : Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh
có tính khả thi, có hiệu quả kinh tế, cung cấp đầy đủ kịp thời cho Ngân
hàng các báo cáo theo yêu cầu.
Điều kiện 5 : Thực hiện các quy định về bảo đảm quyền vay theo
quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
1.3. Hồ sơ cho vay :
1.3.1. Hồ sơ xin vay đối với hộ cá thể kinh doanh.
- Giấy đề nghị vay vốn
- Phương án, dự án sản xuất kinh doanh.
- Giấy phép đăng ký kinh doanh (nếu là hộ kinh doanh).
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu là hộ sản xuất).
- Các giấy tờ khác liên quan đến đảm bảo tiền vay.
doanh ở đây còn nhiều hạn chế, dư nợ cho vay chiếm tỷ trọng rất thấp trong
tổng dư nợ cho vay. Việc cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại NHNo Phục Hoà được thực hiện đúng theo các nguyên tắc cho vay, các quy định về cho
vay đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh:về công tác thẩm định
tư cách khách hàng, khả năng tài chính, thực hiện đảm bảo tiền vay theo
đúng quy định của Nhà nước. Biểu 2 :
Dư nợ kinh tế ngoài quốc doanh :
ĐV: triệu VNĐ
TT Khoản mục Năm 1998 Năm 1999 30/9/2000
1 Dư nợ DNNQD 0
0
0
2 Dư nợ HTX 0
0
0
3 Dư nợ hộ SXKD 2. 023
1. 627
T.
trọng
(%)
Số tiền
T. trọng
(%)
I - Tổng dư nợ 2.023
100
1.627
100
1.474
100
1/DN ngắn hạn 1.447
72
924
57
544
40