Đề tài:
NGUN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
CHO VẤN ĐỀ HỌC SINH BỎ HỌC
A/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
- Hiện nay , hiện tượng bỏ học của học sinh đang là vấn đề rất
quan trọng và cấp bách , làm đau đầu tất cả các ngành, các cấp , các giáo
viên có tâm huyết u nghề. Đặc biệt là ở những địa phương nghèo ,
vùng sâu , vùng xa , vùng dân tộc thiểu số . Việc bỏ học của học sinh
khơng chỉ là nỗi lo của ngày hơm nay mà sẽ còn là gánh nặng của ngày
mai . Các em bỏ học sớm , thất học sẽ làm gì , đi đâu , về đâu hay là sẽ
làm tăng thêm lực lượng lao động khơng có tay nghề , khơng qua đào
tạo, năng suất lao động thấp, chưa kể việc các em rất dễ bị lơi kéo vào
các tệ nạn xã hội .
Để giải quyết căn cơ thực trạng này , chúng ta cần đánh giá
nghiêm túc ngun nhân , đi sâu vào tìm hiểu tại sao để đánh giá và đưa
ra những giải pháp , chính sách phù hợp để khắc phục để cho tất cả học
sinh trong độ tuổi đều được cắp sách đến trường , góp phần nâng cao tri
thức và xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới.
Vì vậy qua một thời gian tìm hiểu nghiên cứu tơi đã chon đề tài
này, mong các đồng chí đồng nghiệp đóng góp xây dựng, ý kiến để tìm
ra những biện pháp tốt nhất ngăn chặn tình trạng học sinh bỏ học hiện
nay và giúp đỡ mọi học sinh đều được đi học.
B/ NỘI DUNG:
I. Cơ sở lý luận:
Trong những năm gần đây, vấn đề đáng chú ý nhất đó là tình trạng
học sinh bỏ học gia tăng q nhanh. Tại tỉnh Bạc Liêu ta học kì I năm
học 2007 – 2008 có trên 2000 học sinh bỏ học, trong đó tỉ lệ học sinh bỏ
học ở cấp tiểu học là 0,23% cấp THCS là 1.18% và THPT là 1,58%.
Chuyện học sinh bỏ học khơng phải mới nói trong năm học này mà học
sinh THCS bỏ học nhiều hơn thường rơi vào học sinh ở các lớp đầu cấp,
cứ qua một kì nghỉ hè học sinh lại nghỉ nhiều hơn.
Khơme) số người này chiếm tỉ lệ tương đối cao giao thơng đi lại gặp rất
nhiều khó khăn, một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học
tập của con em mình.
Với những khó khăn trên đã ảnh hưởng khơng nhỏ đến số học sinh
bỏ học của trường.
3 / Ngun nhân:
Qua một thời gian tìm hiểu và nghien cứu về tình hình học sinh bỏ
học ở đây tơi thấy học sinh bỏ học là do một trong những ngun nhân
sau đây :
* Ngun nhân khách quan :
- Đa số học sinh bỏ học là do hồn cảnh kinh tế khó khăn vì ở địa
bàn xã số người dân tộc chiếm khá đơng nên gia đình thường đơng con
các em phải ở nhà phụ giup cha mẹ kiếm sống phụ giúp gia đình . Có
những gia đình rất nghèo mặc dù đã được địa phương quan tâm giúp đỡ
nhưng cũng khơng thể cho con đi học được , các em phải lo kiếm tiền
để phụ giúp thêm cho cha mẹ . Bên cạnh đó có gia đình nghèo cố gắng
lo cho con đi học nhưng con khơng chịu đi vì thích làm ra tiền để có tiền
tiêu xài và phụ giúp gia đình.
- Học khơng “vơ” nghỉ học:
SKKN: Nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề học sinh bỏ học. - 2 -
Ngồi ngun nhân trên thì một số học sinh lại nghỉ học giữa chừng
khơng phải vì nghèo mà vì chong đèn thâu đêm vẫn khơng thuộc được
bài , học được một lúc là đau đầu mệt mỏi. Như đã nói ở trên ở địa bàn
xã Vĩnh Hậu đa số là đồng bào dân tộc khơme khả năng giao tiếp tiếng
Việt còn chậm nên tiếp thu bài giảng chưa tốt.
Mặt khác , do chương trình giảng dạy nặng về kiến thức,thời gian
giang dạy trên lớp ngắn làm cho số học sinh yếu, kém khơng theo kịp
nội dung giảng dạy trên lớp . Hệ quả là hoc sinh sao lãng việc học và bỏ
học. Là nơi có đơng đồng bào dân tộc Khơme nên khi vào lớp một các
em hồn tồn chưa biết tiếng Việt do đó khi vào học tiểu học ,học sinh
tập đây cũng là nỗi đau chung của xã hội . Vì thế các ngành các cấp nên
có chính sách hỗ trợ về vốn , kỹ thuật , điều kiện cơ sở vật chất để cuộc
SKKN: Nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề học sinh bỏ học. - 3 -
sống của nhân dân đỡ vất vả hơn có điều kiện lo cho con em mình .
Đồng thời vận động các ban ngành đồn thể , các mạnh thường qn các
nhà hảo tâm ủng hộ tập viết , sách giáo khoa , đồ dùng học tập để tất cả
học sinh đều có điều kiện đi học . Nhà trường có chính sách miễn giảm
học phí và cơ sở vật chất cho học sinh nghèo, khó khăn . Đồng thời phân
loại học sinh yếu kém để bồi dưỡng phụ đạo . Kết hợp với Đồn Đội mở
lớp học tình thương , tạo mơi trường thân thiện trong nhà trường để các
em khơng mặc cảm , tự ti và tạo mơi trường vui chơi TDTT lành mạnh ,
trò chơi dân gian , vừa học vừa chơi để lơi kéo các em.
Bên cạnh đó , nên chia tổ chóm học tập để các em có học lực khá
giỏi giúp đỡ các bạn học yếu. Kết hợp vừa học vừa chơi để các em
khơng bị căng thẳng , ức chế.
Cùng với những việc làm trên thì giáo viên chủ nhiệm nên đi sâu
tìm hiểu xem điều kiện hồn cảnh của từng học sinh bằng cách đến gia
đình học sinh 02 lần/năm học ,để xem xét tìm hiểu tâm tư nguyện vọng ,
có biện pháp giúp đỡ động viên uốn nắn kịp thời , thơng qua một số bạn
khác , động viên , rủ các em cùng đến trường , phân tích cho các em thấy
được kiến thức quan trọng như thế nào đối với cuộc sống . Giáo viên u
thương học sinh như con em của mình , để các em thấy thân thiện , tự tin
, khơng bị bỏ rơi , khơng bị ghét bỏ .
Nếu học sinh có dấu hiệu nghỉ học thì giáo viên phải là người đi
trước tìm hiểu ngun nhân . Hãy biết lắng nghe , tơn trọng và giải quyết
hợp lý những tâm tư nguyện vọng chính đáng của học sinh , tạo cho học
sinh mơi trường thuận lợi để học tập và phát triển . Phát huy tính chủ
động , tích cực , sáng tạo của học sinh trong học tập và trong các hoạt
động xã hội một cách phù hợp , hiệu quả . Một việc làm nữa là kết hợp
với đồn thể trong trường , địa phương , Đồn viên thanh niên vận động
Học sinh bỏ học đa phần ở gia đình lao động , nhận thức cho con
học hành chưa sâu . Con em họ phải cùng gia đình kiếm tiền sinh sống ,
chuyện học trước mắt chưa ni sống được gia đình . Mặt khác với
chương trình học hiện nay cha mẹ khơng chỉ bảo cho con học hay kiểm
tra việc học hành cơ bản , ngay cả chương trình tiểu học chứ chưa nói
đến chương trình phổ thơng . Ngồi ra cũng còn có một số gia đình cha
mẹ đi làm ăn xa nên chưa quan tâm sâu sắc đến việc học tập của con em
mình . Vì vậy giáo viên phải gần gũi , tìm hiểu , kết hợp với gia đình để
có biện pháp cùng giúp đỡ học sinh để có hướng giúp đỡ , giải thích cho
học sinh thấy được tầm quan trọng của việc học tập là rất quan trọng .
II. Kết luận:
Trong qúa trình được giao nhiệm vụ chủ nhiệm lớp tơi đã vận dụng một
số phương pháp nêu trên để giáo dục , giúp đỡ học sinh khơng còn bỏ
học nhiều như trước . Nhìn chung tất cả phụ huynh học sinh và các em
đều đã có ý thức trong việc đi học . Khi đến lớp các em rất tự tin và hăng
hái phát biểu , kể cả các em trước kia học rất yếu . Tỷ lệ học sinh bỏ học
đã giảm nhiều .
Tất cả các ban ngành đồn thể , Ban giám hiệu , Đồn - Đội cũng đã
ủng hộ và giúp đỡ tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất , cảnh quan sư
phạm nhà trường , để các em được vui chơi và học tập hợp lí .
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân , rất mong các đồng chí
đóng góp ý kiến để xây dựng chun đề hồn thiện hơn .
SKKN: Nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề học sinh bỏ học. - 5 -