Luận văn tốt nghiệp kế toán Phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Đóng Tàu Hà Nội - Pdf 15

Luận văn tôt nghiệp Trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, cùng với sự đổi mới của nền kinh tế thị trường và sự cạnh
tranh ngày càng quyết liệt giữa các thành phần kinh tế đã gây ra những khó
khăn và thử thách cho các doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, để có thể khẳng
định được mình mỗi doanh nghiệp cần phải nắm vững tình hình cũng như kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh quả. Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp
phải luôn quan tâm đến tình hình tài chính vì nó có quan hệ trực tiếp tới hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại.
Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho
các doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động
tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp
cũng như xác định được một cách đầy đủ,đúng đắn nguyên nhân và mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố thông tin có thể đánh giá được tiềm năng, hiệu quả sản
xuất kinh doanh cũng như rủi ro và triển vọng trong tương lai của doanh nghiệp
để họ có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu, những quyết định chính xác nhằm
nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính là tài liệu chủ yếu dùng để phân tích tình hình tài
chính doanh nghiệp vì nó phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình công
sự, nguồn vốn, tài sản các chỉ tiêu về tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, những thông tin mà báo
cáo tài chính cung cấp là chưa đầy đủ vì nó không giải thích được cho người
quan tâm biết được rõ về thực trạng hoạt động tài chính, những rủi ro, triển
vọng và xu hướng phát triển của doanh nghiệp. Phân tích tình hình tài chính sẽ
bổ khuyết cho sự thiếu hụt này.

Luận văn tôt nghiệp Trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội
Nhận thức được rõ tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài
chính đối với sự phát triển của doanh nghiệp kết hợp giữa kiến thức lý luận
đựoc tiếp thu ở nhà trường và tài liệu tham khảo thực tế, cũng với sự giúp đỡ,

toán, đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng
sinh lãi của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục
nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức
doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai. Nói cách khác, phân tích
tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính - một trong các hướng dự đoán doanh
nghiệp. Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau :
với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), với mục đích nghiên
cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích( trong doanh nghiệp hoặc ngoài
doanh nghiệp )
1.2.3. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hoá là việc
phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối
chiếu, so sánh các số liệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quá
SV : Vương Thị Thùy Ninh MSV : 09D04490
1
Luận văn tôt nghiệp Trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội
khứ nhằm mục đích đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những
rủi ro trong tương lai. Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình
hình tài sản, vốn và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh
trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính rất hữu ích đối việc quản trị doanh
nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người bên
ngoài doanh nghiệp. Do đó, phân tích báo cáo tài chính là mối quan tâm của
nhiều nhóm người khác nhau như nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các
cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơ quan
chính phủ, người lao động Mỗi nhóm người này có những nhu cầu thông tin
khác nhau.
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản
lý tài chính doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác
nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực

Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽ
đến vấn đề quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính ngắn
hạn gắn liền với các dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ. Nhà quản lý tài chính cần
xử lý sự lệch pha của các dòng tiền.
Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi khía cạnh về tài chính doanh nghiệp,
nhưng đó là những vấn đề quan trọng nhất. Phân tích tài chính doanh nghiệp là
cơ sở để đề ra cách thức giải quyết ba vấn đề đó.
Nhà quản lý tài chính phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài
chính và dựa trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày để đưa ra các quyết
định vì lợi ích của cổ đông của doanh nghiệp. Các quyết định và hoạt động của
nhà quản lý tài chính đều nhằm vào các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp :
đó là sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tránh được sự căng thẳng về tài
chính và phá sản, có khả năng cạnh tranh và chiếm được thị phần tối đa trên
SV : Vương Thị Thùy Ninh MSV : 09D04490
3
Luận văn tôt nghiệp Trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội
thương trường, tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận và tăng trưởng thu
nhập một cách vững chắc. Doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động tốt và mang lại sự
giàu có cho chủ sở hữu khi các quyết định của nhà quản lý được đưa ra là đúng
đắn. Muốn vậy, họ phải thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp, các nhà
phân tích tài chính trong doanh nghiệp là những người có nhiều lợi thế để thực
hiện phân tích tài chính một cách tốt nhất.
Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích khả
năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng
sinh lãi, nhà quản lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và
mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai. Từ đó, họ có thể định
hướng cho giám đốc tài chính cũng như hội đồng quản trị trong các quyết định
đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự báo tài chính. Cuối
cùng phân tích tài chính còn là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý.
- Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp

tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu
trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như
hiệu quả của việc tái đầu tư luôn được các nhà đầu tư xem xét trước tiên khi
thực hiện phân tích tài chính.
- Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp
Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp
thực hiện nhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng của doanh
nghiệp thì phân tích tài chính lại được các ngân hàng và các nhà cung cấp tín
dụng thương mại cho doanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của
doanh nghiệp.
Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của doanh nghiệp
được xem xét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn. Nếu là những khoản
cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán
SV : Vương Thị Thùy Ninh MSV : 09D04490
5
Luận văn tôt nghiệp Trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội
nhanh của doanh nghiệp, nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với
các món nợ khi đến hạn trả. Nếu là những khoản cho vay dài hạn, người cho
vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà
việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này.
- Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của
họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ chú ý đặc
biệt đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó
so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh
nghiệp. Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất
quan tâm tới số vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ
trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro. Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay
đổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho
vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính
biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay.

Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các cụng cụ
biện pháp nhằm tiếp cận, nghiÊn cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ
bờn trong và bờn ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ
tiờu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tỡnh hỡnh tài chính doanh
nghiệp.Về lý thuyết, cú nhiều phương pháp phân tích tài chính, nhưng trờn thực
tế người ta thường sử dụng phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ
lệ.
1.2.3. Phương pháp so sánh
Điều kiện để áp dụng phương pháp so sánh là các chỉ tiờu tài chính
phỉa thống nhêt về khụng gian, thời gian, nội dung, tính chêt và đơn vị tính
toán, và theo mục đích phân tích mà xác định số gốc so sánh. Gốc so sánh
được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc khụng gian, kỳ phân tích được lựa chọn
là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh cú thể lựa chọn bằng số tuyệt
SV : Vương Thị Thùy Ninh MSV : 09D04490
7
Luận văn tôt nghiệp Trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội
đối, số tương đối hoặc số bỡnh quân; nụng dân so sánh bao gồm:
- So sánh giữa số thực hiện trong kỳ này víi số thực hiện kỳ trưíc để
thêy rừ xu hưíng thay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng
hay thụt lựi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- So sánh giữa số thực hiện víi số kế hoạc để thêy rừ mức độ phên
đêu của doanh nghiệp.
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp víi số liệu trung bỡnh ngành
của các doanh nghiệp khác để đánh giá tỡnh hỡnh tài chính của doanh nghiệp
mỡnh tốt hay xêu, được hay chưa được.
- So sánh theo chiều dọc để xem xột tỷ trọng của từng chỉ tiờu so víi
tổng thể, so sánh chiều ngang của nhiều kỳ để thêy được sự biến đổi cả về số
lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiờu nào đú qua các niờn độ kế toán
liờn tiếp.
1.2.3. Phương pháp phân tích tỷ số

thu nhập sau thuế trờn vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số
cú mối quan hệ nhân quả víi nhau. Điều đú cho phộp phân tích ảnh hưởng của
các tỷ số đối víi các tỷ số tổng hợp.
1.3 Tài liệu phân tích:
1.3.1. Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài
chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đấy là một báo
cáo tài chính phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời
điểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài
sản. Xét về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài
sản với vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả( nguồn vốn).
Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu là
bản cân đối kế toán.Thông qua nó cho phép ta nghiên cứu, đánh giá một cách
SV : Vương Thị Thùy Ninh MSV : 09D04490
9
Luận văn tôt nghiệp Trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội
tổng quát tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng
vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán có hai hình thức trình bày:
- Hình thức cân đối hai bên: Bên trái là phần tài sản, bên phải là phần
nguồn vốn.
- Hình thức cân đối hai phần liên tiếp: phần trên là phần tài sản, phần dưới
là phần nguồn vốn.
Mỗi phần đều có số tổng cộng và số tổng cộng của hai phần luôn luôn
bằng nhau.
Tài sản = Nguồn vốn
Hay Tài sản = Vốn chủ sở hữu+ Nợ phải trả
1.3.1.1. Phần tài sản : Bao gồm có tài sản lưu động và tài sản cố định.
- Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp có
quyền quản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích

Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cho biết sự
dịch chuyển của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nó
cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiẹp trong tương lai. Báo cáo
kết quả sản xuất kinh doanh đồng thời cũng giúp cho nhà phân tích so sánh
doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịch vụ với tổng chi phí
phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, có
thể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh: lãi hay lỗ trong năm. Như vậy,
báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
phản ánh tình hình tài chính của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm
năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Biểu mẫu “Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh” có 3 phần:
SV : Vương Thị Thùy Ninh MSV : 09D04490
11
Luận văn tôt nghiệp Trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội
Phần I: Lãi, lỗ.
Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
Phần III: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn giảm.
- Tác dụng của việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanh thu,
lợi nhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của doanh
nghiệp. Do đó, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng cho ta
đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, biết được trong kỳ doanh
nghiệp kinh doanh có lãi hay bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vốn là
bao nhiêu. Từ đó tính được tốc độ tăng trưởng của kỳ này so với kỳ trước và dự
đoán tốc độ tăng trong tương lai.
Ngoài ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà
nước, ta biết được doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không. Nếu số
thuế còn phải nộp lớn chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

a. Đối với vốn lưu động:
Theo khâu sản xuất KD, VLĐ của DN bao gồm:
* Vốn trong khâu dự trữ: Mục đích của vốn này là để đảm bảo nhu cầu dự trữ
phục vụ cho sản xuất được tiến hành thường xuyên, liên tục, do đó lượng dự trữ
là tùy thuộc vào nhu cầu thực tế của sản xuất. Ngoài việc xác định lượng dự trữ
thường xuyên, cần thiết phải xác định lượng dự trữ cho nhu cầu tạm thời, lượng
dự trữ đặc biệt. Nếu dự trữ quá ít, sẽ không đảm bảo cho nhu cầu SX, do đó có
thể dẫn đến thiệt hại về ngừng SX, ngược lại nếu dự trữ quá lớn sẽ gây hiện
tượng ứ đọng vật tư, tăng chi phí bảo quản, tăng hao hụt, giảm chất lượng vật
tư, giảm hiệu quả SXKD
* Vốn trong khâu sản xuất: Tùy thuộc vào đặc điểm SX và quy trình công nghệ,
việc phát sinh CP SXKDDD là một thực tế trong công tác quản lý và việc xác
định, đánh giá SPDD là tùy thuộc vào phương pháp của kế toán áp dụng. Để
SV : Vương Thị Thùy Ninh MSV : 09D04490
13
Luận văn tôt nghiệp Trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội
đảm bảo lượng hợp lý của phương pháp này, cần đảm bảo SX phải liên tục, tôn
trọng quy trình công nghệ mà DN đang áp dụng.
* Vốn trong khâu thành phẩm: Quản lý vốn thành phẩm là một trọng điểm của
quản lý vốn SX nói chung, VLĐ nói riêng; việc tăng giảm vốn thành phẩm có
quan hệ mật thiết với kết quả của SX và kết quả của công tác bán hàng và tùy
thuộc một phần vào công tác quản lý của DN. Do vậy cần xác định rõ, cụ thể
nguyên nhân nào làm tăng, giảm thành phẩm, hàng hóa của DN.
* Vốn trong khâu thanh toán:Đây là số vốn bị chiếm dụng của DN, như nợ phải
đòi khách hàng, tiền ứng trước cho người bán, thuế GTGT được khấu trừ, phải
thu những người làm công ăn lương
b. Đối với vốn cố định
Nói một cách khái quát, VCĐ là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ, do đó khi
phân tích cơ cấu của VCĐ chủ yếu người ta thường thông qua tỷ trọng của
TSCĐHH, của CP XDCBDD chiếm trong tổng số TSCĐ và đầu tư dài hạn để

loại quỹ chiếm trong tổng số nguồn vốn-quỹ để đánh giá cơ cấu NV.
Đối với NV trong thanh toán: NV trong thanh toán bao gồm nợ phải trả
khách hàng, các khoản phải nộp Nhà nước, nợ phải trả người lao động, phải trả
nội bộ và phải trả khác. Khi phân tích các khoản nợ nói trên, cần chi tiết thành 2
loại: đã đến hạn, quá hạn và chưa đến hạn từ đó cần có các biện pháp cụ thể để
xử lý nợ đã đến hạn và quá hạn.
1.4.2. Phân tích tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ
Xét một cách tổng quát, theo phạm vi, đầu tư của DN thường được phân
chia thành 2 loại:
- Đầu tư ra ngoài DN: là Đầu tư tài chính, bao gồm cả đầu tư ngắn hạn và đầu tư
dài hạn
- Đầu tư ở bên trong DN: là đầu tư phát triển, như đầu tư mở rộng quy mô SX,
hiện đại hóa thiết bị, dây truyền SX, đổi mới công nghệ
SV : Vương Thị Thùy Ninh MSV : 09D04490
15
Luận văn tôt nghiệp Trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội
Mục đích của đầu tư suy cho cùng vẫn là tăng được tổng số lợi nhuận cho
DN. Do vậy thông qua việc phân tích tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ người
ta có thể đánh giá được một khía cạnh khác về thực trạng TC của DN
Nội dung chủ yếu của phân tích tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ của
DN bao gồm:
- Phân tích, đánh giá khái quát tình hình đầu tư
- Phân tích, đánh giá cụ thể tình hình dầu tư và nguồn tự tài trợ
- Phân tích, đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư
1.4.2.1. Phân tích, đánh giá khái quát tình hình đầu tư
Để đánh giá khái quát tình hình đầu tư, người ta có thể đánh giá như sau:
- Đánh giá về hướng đầu tư (đầu tư vào đâu?)
- Đánh giá về loại hình đầu tư (đầu tư như thế nào?)
- Đánh giá về quy mô đầu tư ( đầu tư bao nhiêu?)
Trong 3 nội dung nói trên thì việc đánh giá về hướng đầu tư là khâu khởi

về đầu tư
Nguồn vốn chủ sở hữu
TSCDDHH + CP XDCBDD
Để bù đắp cho 100 đồng vốn đầu tư phát triển thì vốn tự có của DN chiếm
bao nhiêu phần
Về trình tự và phương pháp phân tích: Trước hết cần xác định các tỷ suất
nói trên ở cả thời điểm đầu năm và cuối kỳ, qua đó so sánh giữa cuối kỳ với đầu
năm của từng chỉ tiêu, ta xác định được các chênh lệch của từng chỉ tiêu mà rút
ra các kết luận cần thiết về tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ của DN
1.4.2.3. Phân tích, đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư
a. Từ góc độ kinh tế:
- Nếu việc đầu tư của DN thông qua các dự án đầu tư riêng biệt, kế toán có thể
hạch toán chi tiết được tổng số VĐT, lợi nhuận thu được từ việc sử dụng các
VĐT thì chỉ tiêu được sử dụng là tỷ suất lợi nhuận trên VĐT:
Tổng số lợi nhuận thu được từ VĐT
Tổng số VĐT
SV : Vương Thị Thùy Ninh MSV : 09D04490
17
Luận văn tôt nghiệp Trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội
Cứ 100 đông VĐT bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu tỷ
suất này càng cao và có xu hướng ngày càng tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng
VĐT càng cao và ngược lại
- Nếu việc đầu tư làm tăng quy mô SX, hiện đại hóa dây truyền SX hoặc thay
đổi công nghệ từ đó làm tăng số lượng, chất lượng SP, năng suất lao động, giảm
chi phí, tăng lợi nhuận nhưng kế toán không bóc tách được số lợi nhuận tăng
thêm:
Tỷ suất
LNTT/Tổng tài
Tổng LN trước thuế
Tổng tài sản

1.4.3.1 Phân tích tình hình công nợ của DN
Công nợ của DN bao gồm:
- Công nợ phải thu: phản ánh số vốn của DN bị chiếm dụng
- Công nợ phải trả, phản ánh số vốn của DN đi chiếm dụng
Thực tế cho thấy, trong quá trình SXKD, giữa DN với Nhà nước, giữa
DN với DN khác, giữa DN với người lao động luôn phát sinh các mối quan hệ
thanh toán. Do vậy cũng phát sinh vốn bị chiếm dụng và vốn đi chiếm dụng.
Qua đó, cần thiết phải phân tích, đánh giá tình hình công nợ và rõ ràng đó là
“bức tranh” phản ánh tương đối rõ nét về thực trạng tình hình tài chính của DN.
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ DN bị chiếm dụng vốn càng nhiều và ngược lại
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ DN đi chiếm dụng vốn càng nhiều và ngược lại
Tỷ trọng các khoản phải
=
Tổng nợ phải thu
SV : Vương Thị Thùy Ninh MSV : 09D04490
Tỷ suất các khoản Tổng các khoản phải thu
Tổng tài sản
Tỷ suất các khoản
phải trả/Tổng
=
Tổng các khoản phải trả
Tổng nguồn vốn
19
Luận văn tôt nghiệp Trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội
Tổng nợ phải trả
 T>1: DN gặp khó khăn do các khoản phải thu quá lớn
 T<1: DN thu hồi tốt số vốn bị chiếm dụng và số vốn đi chiếm dụng càng
nhiều
DTT
Bình quân các khoản phải thu

bán); TS ngắn hạn khác.
b. Nợ ngắn hạn đã đến hạn, quá hạn: bao gồm: tiền và các khoản đầu tư TC
ngắn hạn
Để phân tích, đánh giá khả năng thanh toán của DN, có thể dùng 2 chỉ
tiêu sau:
Hệ số CK đầu tư Các khoản 1 phần TS
ngắn
thanh toán = Tiền + TC ngắn hạn + phải thu + HTK + hạn khác
tổng quát Tổng số nợ ngắn hạn
Hệ số
thanh toán = Tiền + CK đầu tư TC ngắn hạn + 1 phần HTK
nhanh Nợ ngắn hạn đã đến hạn, quá hạn
 Nếu các hệ số >1: DN thừa khả năng thanh toán
 Nếu các hệ số <1: DN thiếu khả năng thanh toán
 Nếu hệ số tiến dần tới 0: DN mất khả năng thanh toán, có khả năng phá
sản
Về trình tự và phương pháp phân tích: Trước hết cần xác định các tỷ suất nói
trên ở cả thời điểm đầu năm và cuối kỳ, qua đó so sánh giữa cuối kỳ với đầu
SV : Vương Thị Thùy Ninh MSV : 09D04490
21
Luận văn tôt nghiệp Trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội
năm của từng chỉ tiêu, xác định được mức độ và tính chất ảnh hưởng của các
nhân tố đến khả năng thanh toán của DN, từ đó có biện pháp điều chỉnh.
SV : Vương Thị Thùy Ninh MSV : 09D04490
22

Trích đoạn Phân tích tình hình công nợ của công ty: Phân tích khả năng thanh toán: NỘI 3.1 Nhận xét chung:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status