Bệnh Huyết Khối Tĩnh Mạch Sâu (Kỳ 2) pot - Pdf 15

Bệnh Huyết Khối Tĩnh
Mạch Sâu (Kỳ 2)

C- Nguyên nhân của HKTMS?
HKTMS xảy ra khi có rối loạn chức năng đông máu. Khi một huyết khối
nhỏ hình thành ở tĩnh mạch, nó sẽ gây ra phản ứng viêm và kích thích tạo thêm
các huyết khối mới.
Nguy cơ hình thành HKTMS tăng khi lưu lượng máu giảm, hoặc ứ trệ tuần
hoàn ở tĩnh mạch chi dưới. Điều này thường xảy ra khi bệnh nhân không thể cử
động được trong một thời gian dài. Máu càng ứ đọng trong tĩnh mạch, huyết khối
càng dễ hình thành. Các nguyên nhân đặc hiệu của HKTMS bao gồm:
- Phẫu thuật lớn ở khớp háng, khớp gối, cẳng chân, bắp chân, bụng hoặc
ngực
- Gãy khớp háng hoặc gãy chân
- Ngồi máy bay hoặc tàu xe trong thời gian dài, có ít khoảng rộng để cử
động chân
- Các rối loạn đông máu có tính chất di truyền
- Ung thư
- Di chuyển bằng máy bay trên hành trình dài có thể gây HKTMS, nhưng
thường ít gặp. Đa số các trường hợp HKTMS thường xảy ra trên những bệnh nhân
trải qua phẫu thuật, đau ốm, được điều trị nội trú.
- Nguy cơ HKTMS tăng cao ở người béo phì, có tiền sử nhồi máu cơ tim,
đột quỵ, suy tim ứ huyết, có thai, cho con bú, sử dụng thuốc ngừa thai, hoặc bị
viêm loét đại tràng.
- Đa số các trường hợp HKTMS đều xảy ra ở chân, nhưng ngày càng phát
hiện nhiều các trường hợp HKTMS xảy ra ở phần thân trên.
Các yếu tố tăng nguy cơ hình thành HKTMS ở thân trên bao gồm:
- Đặt catheter ở tĩnh mạch cánh tay. Catheter có thể gây kích ứng thành tĩnh
mạch và khiến hình thành huyết khối
- Đặt máy tạo nhịp (pacemaker) hoặc máy khử rung tim (implantable
cardioverter defibrillator ICD)

Muốn làm tan cục máu đông, cần phải dùng thuốc làm tan huyết khối
(thrombolysis). Bác sĩ phẫu thuật mạch máu sẽ tiêm thuốc làm tan huyết khối bằng
một catheter đưa thẳng vào cục máu đông. Thuốc làm tan huyết khối gây nguy cơ
biến chứng xuất huyết và đột quỵ cao hơn thuốc kháng đông. Tuy nhiên, thuốc tan
huyết khối có thể làm tan được cục máu đông có kích thước rất lớn. Thuốc tan
huyết khối được chọn dùng khi bệnh nhân có nguy cơ cao thuyên tắc phổi hoặc
khi bị HKTMS ở tay.

Ít khi phải dùng đến phẫu thuật để loại bỏ HKTMS. Thủ thuật này có tên
gọi mở tĩnh mạch loại bỏ huyết khối. Thường dùng phẫu thuật này khi bệnh
nhân bị thể HKTMS nặng gọi là phlegmasia cerulea dolens, không đáp ứng với
các phương pháp điều trị nội khoa. Phlegmasia cerulea dolens, nếu không được
điều trị đúng mức, có thể gây hoại thư, do các mô không được cung cấp đầy đủ
oxygen và máu. Hoại thư rất nghiêm trọng có thể dẫn đến cắt cụt chi.
Một dụng cụ lọc đặc biệt bằng kim loại có thể bảo vệ chống thuyên tắc phổi
ở những bệnh nhân không thể dùng được thuốc kháng đông. Dụng cụ này được
gọi là lưới lọc tĩnh mạch chủ (vena cava filter). Tĩnh mạch chủ là tĩnh mạch lớn
trong ổ bụng, đưa máu trở về tim và phổi. Có thể sử dụng lưới lọc tĩnh mạch chủ
nếu bệnh nhân không thể dùng được thuốc phòng chống HKTMS hoặc khi thuốc
không có tác dụng giảm huyết khối. Lưới lọc tĩnh mạch chủ ngăn cản huyết khối
bong ra từ các tĩnh mạch chi dưới không cho chúng về đến phổi. Thường thì lưới
lọc tĩnh mạch chủ được đưa vào đúng vị trí bằng một catheter xuyên qua tĩnh
mạch háng, cổ hoặc tay. Lưới lọc trong tĩnh mạch chủ dưới
Có thể được dùng vớ thun ép (elastic compression stockings) để giảm
sưng phù và đề phòng máu ứ trệ trong các tĩnh mạch ở chân.

F- Dự Phòng?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status