Bộ Y Tế
Viện dinh dỡng Báo cáo đề tài nghiên cứu cấp viện
ỏnh giỏ tỡnh trng huyt hc v
kin thc hnh vi ca i tng sau
18 thỏng kt thỳc chng trỡnh b
sung st vo nc mm
Chủ nhiệm đề tài: Ts. Bs. Phạm Vân Thuý
Cơ quan chủ quản: Viện Dinh dỡng - Bộ Y tế
7481
14/8/2009
Hà Nội, tháng 10/2008
1
Báo cáo đề tài nghiên cứu cấp viện
Tên đề tàiỏnh giỏ tỡnh trng huyt hc v kin thc hnh vi ca i
T
0
: Tr−íc can thiÖp
T
18
: Can thiÖp 18 th¸ng
T
36
: Ngõng can thiÖp 18 th¸ng
VAC : V−ên, Ao, Chuång
WHO : World Health Organization (Tæ chøc Y tÕ ThÕ giíi)
YNTK : ý nghÜa thèng kª
3
I. TổNG QUAN
Thiếu máu dinh dỡng hiện đang là vấn đề sức khoẻ cộng đồng quan trọng trên
thế giới, trong đó thiếu máu thiếu sắt là loại thiếu vi chất dinh dỡng phổ biến
nhất ở các nớc đang phát triển [1]. Thiếu máu ảnh hởng nghiêm trọng đến phát
triển thể lực, tâm lý, hành vi và khả năng lao động và góp phần làm tăng tỷ lệ tử
vong chung có liên quan đến dinh dỡng [2]. Thiếu máu có thể do thiếu một hoặc
nhiều chất dinh dỡng cần thiết cho quá trình tạo máu nh sắt, axít folic, vitamin
B
12
hoặc có thể do sốt rét, nhiễm trùng, ký sinh trùng và khuyết tật di truyền
của các phân tử hemoglobin. Tuy nhiên, thiếu sắt là nguyên nhân gây thiếu máu
quan trọng nhất [1] [2].
ở Việt Nam, cuộc điều tra năm 2000 về tỷ lệ thiếu máu đã cho thấy: tỷ lệ thiếu
máu chung của cả nớc phổ biến nhất ở trẻ em < 2 tuổi (trên 50%). Tỷ lệ thiếu
máu ở trẻ em < 5 tuổi là 34,1%, phụ nữ có thai là 32,2%, phụ nữ không có thai
24,3% trong khi đó tỷ lệ này ở nam giới là 9,4%[3].
sắt trên đối tợng can thiệp thay đổi theo chiều hớng nh thế nào. Hơn nữa, việc
đánh giá và theo dõi sự thay đổi về tình trạng thiếu máu thiếu sắt của của các đối
tợng đã tham gia nghiên cứu can thiệp sẽ cho thấy vai trò của giải pháp nghiên
cứu, đồng thời đa ra các khuyến cáo về việc sử dụng nớc mắm bổ sung sắt dài
hạn nhằm cải thiện tình trạng thiếu máu thiếu sắt một cách bền vững. Bên cạnh
đó, kiến thức, niềm tin và thực hành phòng chống thiếu máu và sử dụng nớc
mắm bổ sung sắt trên các đối tợng can thiệp cũng cần đợc đánh giá lại sau khi
dừng nghiên cứu can thiệp. Chính vì vậy, chúng tôi tiếp tục tiến hành nghiên cứu
này nhằm: Đánh giá sự thay đổi về tình trạng thiếu máu thiếu sắt, cũng nh
kiến thức, hành vi của các đối tợng sau 18 tháng kết thúc nghiên cứu can
thiệp bố sung sắt vào nớc mắm.
II. Mục tiêu
1. Đánh giá tình trạng thiếu máu thiếu sắt của đối tợng sau 18 tháng dừng can
thiệp (T
36
), so sánh với thời điểm trớc can thiệp (T
0
) và sau 18 tháng can
thiệp (T
18
).
2. Tìm hiểu kiến thức, niềm tin và thực hành phòng chống thiếu máu và sử dụng
nớc mắm bổ sung sắt ở phụ nữ tuổi sinh đẻ sau 18 tháng dừng nghiên cứu can
thiệp.
III. Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
1. Đối tợng nghiên cứu
Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ không có thai, tuổi từ 16-49. Không có dấu hiệu mắc
các bệnh nhiễm trùng cấp hay mạn tính, hoặc sốt cao.
2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu đợc tiến hành tại 2 xã thuộc huyện Vụ Bản, Nam Định: Xã Kim
5 mgFe/10
mL/ngi/
ngy x 18
thỏng
T
0
T
18
T
36
Dng can
thip
Cỏc ch s ỏnh giỏ:
-
Huyt hc (Hb, SF, TfR): T
0,
T
18,
T
36
- ỏnh giỏ thỏi hnh vi: T
36
-
iu tra khu phn: T
0,
T
: độ lệch chuẩn giữa 2 số trung bình khác nhau của Hb (g/l)= 7 [9]
Từ công thức trên, cỡ mẫu cho nghiên cứu theo dõi sau can thiệp là 84 đối tợng/
mỗi nhóm, vậy 2 nhóm thì cỡ mẫu đủ để điều tra nghiên cứu can thiệp là 168,
cộng thêm 15% đối tợng bỏ cuộc. Tổng số đối tợng là 194 cho cả 2 nhóm
nghiên cứu, nhóm chứng (C) và nhóm can thiệp (CT).
Cách chọn đối tợng :
Cỡ mẫu tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu Hiệu quả là 576 đối tợng chia 2 nhóm,
sau 18 tháng can thiệp, loại trừ đối tợng bỏ cuộc, đối tợng có thai, cỡ mẫu còn
lại dùng để phân tích các chỉ số huyết học còn 380 đối tợng chia 2 nhóm (190
đối tợng/nhóm) [10]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 98 đối
tợng từ mỗi nhóm trong nghiên cứu Hiệu quả để đa vào phần điều tra huyết
học, phần hỏi ghi đánh giá về kiến thức, niềm tin, thực hành của các đối tợng.
*) Điều tra khẩu phần ăn:
áp dụng công thức tính cho mỗi nhóm
n =
()( )
[]
222
22
ZNe
NZ
+
n: số mẫu cần điều tra
Z: độ tin cậy đòi hỏi 95% (Z=1,96)
: độ lệch chuẩn của nhiệt lợng trung bình ăn vào (300 Kcal)
Cyanmethemoglobin, Ferritin và Transferrin receptors đợc phân tích bằng kỹ thuật
ELISA, 10% mẫu máu đợc phân tích 2 lần và nhắc lại nếu có sự khác biệt lớn
hơn 10%. Tất cả các xét nghiệm huyết học đợc tiến hành tại Labo của Viện
Dinh dỡng Quốc gia, Hà Nội.
+) Nhận định về tình trạng thiếu máu theo ngỡng hemoglobin do Tổ chức
Y tế khuyến nghị [11] đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi Hb < 12,0
g/dL
+) Nhận định về tình trạng thiếu hụt dữ trữ sắt theo ngỡng ferritin huyết
thanh [10], [12] khi SF <12 mcg/l.
+) Nhận định về tình trạng cạn kiệt dữ trữ sắt theo ngỡng transferrin
receptor [10], [13] khi TfR > 8,5 mg/l.
- Hỏi ghi đánh giá về kiến thức, hành vi:
+ Các chỉ tiêu chính gồm kiến thức về thiếu máu do thiếu sắt và kiến
thức về thực phẩm bổ sung sắt, thực hành sử dụng nớc mắm bổ sung sắt. 8
+ Công cụ nghiên cứu là dựa vào bộ câu hỏi KBAP (kiến thức, thực
hành) đã đợc thiết kế sẵn để phỏng vấn (phụ lục 1). Có 16 câu hỏi về kiến thức,
10 câu hỏi về niềm tin và 8 câu hỏi về thực hành đợc đa vào phân tích số liệu.
+ Cách đánh giá: Mỗi câu hỏi có 2 cách trả lời hoặc đúng hoặc sai. Xác
định bao nhiêu đối tợng (%) trả lời đúng ở mỗi câu hỏi. Tại mỗi nhóm câu hỏi
(kiến thức, niềm tin, thực hành) cũng xác định số đối tợng có số câu hỏi trả lời
đúng (%).
Các câu hỏi về kiến thức bao gồm 4 phần với tổng số 16 câu hỏi:
Phần 1 Tác dụng của sắt đối với cơ thể
1 Bổ máu
2 Tăng thêm máu
3 Chống lại bệnh tật
4 Lợi cho sức khoẻ
6
Hiểu biết về tác dụng của sắt và của nớc mắm bổ sung sắt là rất
quan trọng
7
Cơ thể đợc cung cấp đầy đủ sắt theo nhu cầu từ nguồn thức ăn
là rất quan trọng
8
ăn nớc mắm bổ sung sắt để phòng thiếu máu thiếu sắt là rất
quan trọng
9
Ngời xung quanh (bố mẹ anh chị ) ủng hộ việc chị dùng nớc
mắm sắt không?
10
Chị tình nguyện dùng nớc mắm sắt hay phải giải thích sau mới
dùng?
Các câu hỏi về thực hành với tổng số 8 câu hỏi:
1 Chị thờng dùng nớc mắm loại chai hay túi?
2 Trung bình 1 tháng gia đình chị dùng mấy lít nớc mắm (>0,5 lít)
3 Chị dùng theo cách nào? (chấm, nấu)
4 Khi mua nớc mắm chị có chú ý đến nhãn hiệu của nhà máy không?
5 Giá một Lít nớc mắm chị vẫn dùng là bao nhiêu? (>3,000 đ/L)
6 Chị có thích sử dụng nớc mắm của chơng trình hay không?
7 Nếu bây giờ bán nớc mắm bổ sung sắt chị có mua không?
8 Nếu giá đắt hơn bao nhiêu (đ/L) chị có thể mua đợc? (>3,200 đ/L)
- Hỏi khẩu phần ăn: sử dụng phơng pháp hỏi ghi 24 giờ qua, theo Tài liệu tập
huấn về điều tra hỏi ghi khẩu phần, Viện Dinh dỡng (2000) (phụ lục 1).
10
6. Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đợc tiến hành với sự tự nguyện tham gia của tất cả đối tợng (không
của
nghiên cứu can thiệp
Bảng 1 cho thấy sau 18 tháng kết thúc nghiên cứu can thiệp (T
36
), các chỉ số
huyết học về thiếu máu thiếu sắt, bao gồm Hb, SF and TfR, giữa 2 nhóm chứng
và nhóm can thiệp khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0, 05).
11
Bảng 1. Chỉ số sinh hoá của 2 nhóm sau 18 tháng kết thúc can thiệp (T
36
)
Chỉ số
Nhóm chứng
(n = 96)
Nhóm can thiệp
(n = 98)
P
(t-test)
Hemoglobin, Hb (g/L) 126,8 9,2 124,7 7,6 > 0,05
Serum Ferritin, SF (mcg/L) 27,8 32,1 28,0 60,3 > 0,05
Transferrin- Receptor, TfR (mg/L) 5,5 2,4 5,3 1,5 > 0,05
Tuy nhiên, khi so sánh với các chỉ số huyết học tại thời điểm T
0
và T
18
của nghiên
cứu can thiệp cho thấy đã có sự thay đổi đáng kể giữa 3 thời điểm, T
0
T
0
21,9 21,4 > 0,05
T
18
22,8 5,1
**
< 0,001
SF <12
mcg/L (%)
T
36
26,0 17,3 > 0,05
T
0
7,3 9,2 > 0,05
T
18
9,4 2,0
*
< 0,05
TfR 8,5
mg/L (%)
T
36
6,3 8,2 > 0,05
*) p <0,05 khi so sánh giữa T
0
và T
18
điểm khác nhau (p < 0,05). Tại thời điểm T
18
, tỷ lệ thiếu máu giảm xuống một
cách rõ rệt so với thời điểm ban đầu (T
0
) với p < 0,05. Nhng sau 18 tháng dừng
can thiệp, cũng trên nhóm can thiệp, tỷ lệ thiếu máu lại tăng lên đáng kể (xấp xỉ
bằng lúc thời điểm T
0
) so với T
18
(p < 0,05). Còn tỷ lệ thiếu máu tại hai thời điểm
T
0
và T
36
cũng có sự khác nhau, nhng không có ý nghĩa thống kê.
Trong nhóm chứng, tỷ lệ thiếu máu (Hb < 120 g/l) hầu nh không thay đổi, sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa 3 thời điểm T
0
, T
18
, T
36
(p > 0,05).
25.5
20.4
8.2
22.9
19.8
36
tỷ lệ thiếu hụt dự trữ sắt (SF < 12 mcg/l) giữa hai nhóm can thiệp và nhóm
chứng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
13
Trong khi đó tỷ lệ hụt giảm dự trữ sắt (SF < 12 mcg/l) của những đối tợng trong
nhóm can thiệp thay đổi đáng kể tại 3 thời điểm khác nhau, sự khác biệt đó có ý
nghĩa thống kê với p < 0,05 giữa T
0
và T
18
, giữa
T
18
và T
36
. Trong nhóm chứng tỷ
hụt giảm dự trữ sắt (SF < 12 mcg/l) khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa 3 thời
điểm T
0
, T
18
, T
36
(p > 0,05).
5.1
17.3
21.4
22.8
(TfR
8,5 mg/l) giữa hai nhóm can thiệp và nhóm chứng có sự khác biệt, nhng
không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Nhng tại thời điểm T
18
, tỷ lệ cạn kiện dự trữ
sắt (TfR
8,5 mg/l) ở đối tợng trong nhóm can thiệp thấp hơn có YNTK so với
nhóm chứng (p < 0,05).
Trong khi đó tỷ lệ cạn kiện dự trữ sắt (TfR
8,5 mg/l) của những đối tợng trong
nhóm can thiệp thay đổi đáng kể tại 3 thời điểm khác nhau, sự khác biệt đó có ý
nghĩa thống kê với p < 0,05 giữa T
0
và T
18
, giữa
T
18
và T
36
.
Trong khi đó ở nhóm chứng, cũng có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê về
tỷ lệ cạn kiện dự trữ sắt giữa 3 thời điểm nghiên cứu (p > 0,05). 14
2
8.2
9.2
câu hỏi chỉ chiếm 3,1%, tuy nhiên, không có đối tợng nào trả lời đúng 15 hoặc
16 câu hỏi.
Bảng 3 . Tổng số điểm về kiến thức
Số câu trả lời đúng n Tỷ lệ (%)
8 6 3,1
9 16 8,2
10 32 16,5
11 74 38,1
12 33 17
13 29 15
14 4 2,1
15 0 0
Tổng 194 100
15
Bảng 4. Tổng số điểm niềm tin
Số câu trả lời đúng n Tỷ lệ (%)
7 1 0,5
8 6 3,1
9 14 7,2
10 173 89,2
Tổng 194 100
Trong tổng số 194 đối tợng trên thì 100% đối tợng trả lời đúng hơn 7 câu, trong đó
đáng chú ý nhất, có tới 89,2% trả lời đúng cả 10 câu, bảng 4.
Bảng 5. Tổng số điểm thực hành
Số câu trả lời đúng n Tỷ lệ (%)
5 3 1,5
6 18 9,3
7 65 33,5
36
khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p
> 0,05), bảng 6.
16
Bảng 6. Giá trị dinh dỡng của khẩu phần ăn (ngời/ngày)
x
S
D
T
0
T
18
T
36
Chất dinh
dỡng
Nhóm CT Nhóm C Nhóm CT Nhóm C Nhóm CT Nhóm C
Protein (g) 51,514,6 50,513,0 56,415,2 55,213,9 55,413,4 46,314,4
Lipit (g) 24,511,3 21,112,6 22,811,6 20,312,8 26,312,0 22,98,8
Gluxit (g) 313,245,4 304,832,2 296,973,2 322,956,2 312,162,4 311,953,1
Năng lợng
(Kcal)
1608,6511,3 1694,2320,1 1660,3401,3 1797,3432,7 1754,1333,6 1742,1451,6
Ca (mg) 436,0439,8 384,8274,5 1785,02300,5 1558,41511,8 391,4140,8 386,4457,6
P (mg) 803,5797,7 642,6182,5 817,4268,1 804,1245,0 758,5186,7 652,7187,4
Fe (mg) 9,93,6 9,12,9 11,44,4 10,03,2 10,52,7 9,52,9
thì tỷ lệ thiếu máu lại tăng lên tới
20,4%, sự khác biệt đó có YNTK, (p < 0,05).
Tơng tự đối với tình trạng hụt giảm dự trữ sắt, tại 3 thời điểm nghiên cứu, dựa
trên ngỡng lợng SF < 12 mcg/l, đối tợng sử dụng nớc mắm bổ sung sắt tại
thời điểm T
0
có lợng SF < 12 mcg/l là 21,4% so với nhóm đối tợng không sử
dụng nớc mắm bổ sung là 21,9% và sự khác biệt đó không có ý nghĩa thống kê
với p > 0,05. Trong khi đó tại thời điểm T
18
, đối với ngỡng SF < 12 mcg/l thì đối
tợng từng sử dụng nớc mắm bổ sung sắt thấp hơn nhóm không sử dụng nớc
mắm bổ sung sắt là 5,1% so với 22,8%, sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê (p
< 0,001). Tại thời điểm T
36
thì tỷ lệ đối tợng có SF < 12 mcg/l của cả 2 nhóm
nghiên cứu cũng có khác nhau nhng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Đối với tình trạng can kiệt dự trữ sắt, tại thời điểm T
0
nồng độ TfR 8,5 mg/l
không có sự khác biệt có YNTK giữa 2 nhóm nghiên cứu, nhng tại thời điểm T
18
có sự khác biệt có YNTK giữa nhóm sử dụng nớc mắm bổ sung và nhóm chứng
tức là đối tợng đã sử dụng nớc mắm bổ sung sắt có tỷ lệ TfR
8,5 mg/l thấp hơn
đối tợng không sử dụng nớc mắm bổ sung sắt, sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê, với p < 0,05. Trong khi đó tại thời điểm T
36
thì tỷ lệ đối tợng sử dụng nớc
đối với những đối tợng trong nhóm bổ sung [18]. Trong khi đó tỷ lệ thiếu máu
thiếu sắt trong nhóm chứng chỉ giảm xuống từ 43,3% tại thời điểm ban đầu
xuống còn 26,7% tại tuần thứ 12.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở nhóm can thiệp, nồng độ Hb và nồng độ
Ferritin huyết thanh tăng lên tại T
18
so với T
0
, nhng sau khi dừng can thiệp, thì
nồng độ Hb và SF lại có xu hớng giảm xuống. Điều này có nghĩa rằng, có mối
quan hệ thuận chiều giữa việc sử dụng nớc mắm bố sung sắt với việc tăng hay
giảm nồng độ Hb và nồng độ SF trong máu. Chúng tôi cũng đã tìm thấy có mối
tơng quan thuận chiều có ý nghĩa thống kê giữa nồng Hb và nồng độ SF trong
máu với lợng sắt ăn vào tại T
18
, tơng ứng với p < 0,001, r=0,83 (Hình 4) và p
< 0,05, r=0,77 (Hình 5).
Lợng sắt ăn vào (mg)
Hình 4. Tơng quan giữa nồng độ Hb trong huyết thanh với lợng sắt ăn vào của
nhóm bổ sung tại thời điểm T
18
p < 0,001;
r = 0,83
Hb (g/l)
19
Lợng sắt ăn vào
Hình 5. Tơng quan giữa nồng độ SF trong huyết thanh với lợng sắt ăn vào
sắt (TfR) thấy rằng, nếu không đợc sử dụng nớc mắm bổ sung sắt liên tục, tình
trạng giảm dự trữ sắt sẽ xảy ra.
Kết quả trên khẳng định sự cần thiết phải sử dụng nớc mắm bổ sung sắt trong
phòng chống thiếu máu thiếu sắt một cách bền vững lâu dài ở phụ nữ tuổi sinh đẻ.
2. Kiến thức, niềm tin và thực hành
Qua kết quả nghiên cứu về kiến thức, cho thấy, sau 18 tháng ngừng can thiệp đối
với hầu hết các nội dung phỏng vấn tìm hiểu về kiến thức thì các đối tợng có câu
trả lời đúng chiếm tỷ lệ khá cao, trong đó tổng số đối tợng có câu trả lời trên 11
câu đúng chiếm tỷ lệ tới 72,2%.
Về niềm tin và thực hành: Một trong những mục đích quan trọng nhất của giáo
dục sức khoẻ, xã hội hoá chăm sóc sức khoẻ nhân dân là cải thiện hành vi sức
khoẻ của từng cá nhân, tập thể và cộng đồng trong xẫ hội. Qua kết quả nghiên cứu
của chúng tôi cho thấy, sau 18 tháng ngừng can thiệp thì ở hầu hết các đối tợng
(89,2%) đều có câu trả lời đúng.
Tuy dừng can thiệp 18 tháng nhng đa số đối tợng trong nhóm nghiên cứu của đề tài
đều có kiến thức, niềm tin và thực hành tốt đối với phòng chống thiếu máu thiếu sắt
nói chung và thông qua sử dụng nớc mắm sắt nói riêng. Nh vậy, khi ngời dân
đợc giáo dục truyền thông tốt kiến thức vẫn đợc duy trì và nếu chúng ta tiếp tục
cung cấp nớc mắm bổ sung sắt thì ngời dân có thế vẫn sẵn sàng mua sử dụng.
3. Về khẩu phần ăn
Qua phân tích về khẩu phần ăn của các đối tợng nghiên cứu tại 3 thời điểm khác
nhau (bảng 6), không có biến động nhiều trong thời gian nghiên cứu giữa 2 nhóm
can thiệp và nhóm chứng.
Trong nghiên cứu của đề tài cho thấy lợng sắt trong khẩu phần ăn của nhóm can
thiệp là 9,9 3,6 g trong thời điểm T
0
, tại T
18
1660,3 401,3, còn thời điểm T
36
là 1754,1 333,6). Vậy năng lợng tại 3
thời điểm nghiên cứu của đề tài nếu so sánh với tổng điều tra của Viện Dinh
Dỡng năm 2000 đối với đối tợng nông thôn cho thấy lợng năng lợng tiêu
thụ hàng ngày vẫn thấp hơn so với điều tra trên.
Nhìn chung, không có sự thay đổi về khẩu phần ăn giữa 2 nhóm đối tợng tại
3 thời điểm điều tra. Sự thay đổi về tiêu thụ sắt trong khẩu phần đã phản ánh
cho thấy việc bổ sung sắt trong là rất cần thiết nhằm đạt đợc mức tiêu thụ sắt
theo nhu cầu khuyến nghị về dinh dỡng.
VI. Kết luận
1. Hiệu quả dài hạn của bổ sung sắt vào nớc mắm đối với tình trạng thiếu
máu thiếu sắt
Sau 18 tháng sử dụng nớc mắm bổ sung sắt tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt giảm từ 25,5%
(tại thời điểm T
0
) xuống còn 8,2% (tại thời điểm T
18
), nhng sau 18 tháng ngừng can
thiệp (T
36
), tỷ lệ TMTS lại tăng lên tới 20,4%.
Tỷ lệ giảm dự trữ sắt tại thời điểm ban đầu (T
0
) là 21,4%, sau 18 tháng can thiệp
(T
18
) bằng cách sử dụng nớc mắm bổ sung chất sắt, tỷ lệ này giảm xuống còn
5,1%, nhng sau 18 tháng ngừng can thiệp (T
36
PGS. Ts. Nguyễn Xuân Ninh
Chủ nhiệm đề tài
(Ký tên)
Ts. Phạm Vân Thúy
23
Tài liệu tham khảo
1. Beard J, Stoltzfus R (2001). Iron-deficiency anemia: reexamination of the
nature and magnitude of the public health problem. Proceedings of the
Belmont Conference. J Nutr; 131:563701.
2. McCann JC, Ames BN (2007). An overview of evidence for a causal relation
between iron deficiency during development and deficits in cognitive or
behavioral function. Am J Clin Nutr; 85(4):931-45.
3. Nguyễn Chí Tâm, Nguyễn Công Khẩn, Nguyễn Xuân Ninh, Phạm Vân
Thuý, Hà Huy Khôi, Trần Thành Đô (2000). Tình hình thiếu máu dinh
dỡng ở Việt Nam qua điều tra đại diện cho các vùng sinh thái trong toàn quốc
năm 2000. Tạp chí Y học Thực hành, số 7 (427), tr. 2-5.
4. Lotfi M, Venkatesh Mannar MG, Merx RJHM, Naber-van den Heuvel P
(1996). Micronutrient fortification of foods. Current practices, research, and
opportunities. Ottawa: The Micronutrient Initiative, c/o International
Development Research Centre.
5. Hurrell RF (1997). Preventing iron deficiency through food fortification. Nutr
Rev;55:21022.
6. Beard JL (2000). Effectiveness and strategies of iron supplementation during
fortified soy sauce in China. In: Khai HH, Khan NC, Thuy PV, Malaspina A,
Togami T, eds. Proceedings of the workshop on control of iron deficiency
anemia through food fortification, Hanoi, Vietnam: Medical Publishing House:
22740.
17. Garcia-Casal MN, Layrisse M (2002). Iron fortification of flours in
Venezuela. Nutr Rev; 60(7 2):S26-9.
18. Sari M, Bloem MW, de Pee S, Schultink WJ, Sastroamidjojo S (2001).
Effect of iron-fortified candies on the iron status of children aged 4-6 y in East
Jakarta, Indonesia. Am J Clin Nutr; 73(6):1034-9.