Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động kiểm toán là một hoạt động độc lập, trong quá trình kiểm toán, kiểm
toán viên luôn luôn phải tôn trọng nguyên tắc trung thực, khách quan, tuân thủ pháp luật
và các chuẩn mực nghề nghiệp. Do vậy, mọi hoạt động của kiểm toán phải được thể chế
hoá bằng các văn bản pháp luật hoặc được pháp luật thừa nhận. Bất kỳ một cuộc kiểm
toán nào cũng được thực hiện theo trình tự thống nhất, trong đó kế hoạch kiểm toán là
bước đầu tiên của quy trình kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán bao gồm các nội dung công
việc được kiểm toán theo phương pháp kiểm toán phù hợp với chi phí về vật chất, thời
gian và số lượng kiểm toán viên cần thiết.
Kế hoạch kiểm toán đúng đắn là cơ sở để kiểm toán viên thu thập bằng chứng có
giá trị, góp phần đưa ra các nhận xét xác đáng về thực trạng hoạt động được kiểm toán,
giữ vững và nâng cao uy tín và hình ảnh Công ty kiểm toán đối với khách hàng. Vì vậy,
việc nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực tiễn công tác lập kế hoạch kiểm toán để tìm ra
các vấn đề tồn tại và đưa ra hướng khắc phục là một điều cần thiết. Nắm bắt được vấn
đề này, trong thời gian thực tập tại Công ty Dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm
toán, được sự giúp đỡ của Công ty và thầy giáo hướng dẫn, em đã mạnh dạn chọn đề tài
“Hoàn thiện lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Dịch vụ Tư vấn
Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC)”.
Chuyên đề thực tập của em gồm có 3 phần:
Phần I. Những vấn đề lý luận cơ bản về lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài
chính.
Phần II. Thực trạng lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo Tài chính tại Công ty Dịch
vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán - AASC.
Phần III. Một số giải pháp hoàn thiện lập kế hoạch tại Công ty Dịch vụ Tư vấn
Tài chính Kế toán và Kiểm toán - AASC.
Nguyễn Thị Thu Hương 1 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẬP KẾ HOẠCH
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
A. LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong các số dư, trong các chỉ tiêu phản ánh các mối quan hệ bên trong của hoạt động tài
chính.
Khi tiến hành kiểm toán, có hai cách cơ bản để tiếp cận và phân chia các Bảng
khai tài chính thành các phần hành kiểm toán: theo khoản mục hoặc theo chu trình.
Tiếp cận theo khoản mục trên Báo cáo tài chính: Là cách phân chia máy móc
từng khoản mục hoặc nhóm các khoản mục theo thứ tự trong các Bảng khai vào một
phần hành. Cách tiếp cận này tuy đơn giản, tiết kiệm thời gian và dễ thực hiện song lại
không hiệu quả, do tách biệt những khoản mục ở vị trí khác nhau nhưng lại có liên hệ
chặt chẽ với nhau, như hàng tồn kho và giá vốn hàng bán chẳng hạn.
Tiếp cận theo chu trình: Là cách chia thông dụng hơn căn cứ vào mối liên hệ
chặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành, các yếu tố trong một chu
trình chung của hoạt động tài chính. Cách tiếp cận này hiệu quả hơn do xuất phát từ mối
liên hệ vốn có của các nghiệp vụ và từ đó thu gom được các đầu mối của các mối liên
hệ trong kinh tế và trong ghi sổ kế toán chứa đựng trong Bảng khai tài chính.
Mặt khác, cùng với các quan hệ nội tại, Bảng khai tài chính còn chứa đựng
những mối quan hệ về tài chính và quản lý và từ đó - về quan hệ chủ thể - khách thể
kiểm toán. Theo nguyên tắc chung về tổ chức kế toán, Bảng khai tài chính của mỗi đơn
vị được lập ra trước hết từ các đơn vị kế toán cơ sở. Các đơn vị này có thể là một đơn vị
độc lập riêng biệt hoặc là đơn vị thành viên của đơn vị hợp nhất, song đều có tư cách
pháp nhân. Vì vậy, trong mọi trường hợp, khách thể kiểm toán cần được “pháp lý hoá”
trong từng cuộc kiểm toán cụ thể thông qua hợp đồng kiểm toán (với kiểm toán độc lập)
hoặc quyết định kiểm toán (với kiểm toán nhà nước hoặc kiểm toán nội bộ). Nói cách
khác, khách thể kiểm toán là những thực thể kinh tế tương đối độc lập, có nhu cầu xác
minh các bảng khai tài chính. Thông thường, kiểm toán tài chính được thực hiện bởi
kiểm toán độc lập, hoặc kiểm toán nhà nước. Trong một số trường hợp, chủ thể kiểm
toán có thể là kiểm toán nội bộ của những đơn vị có qui mô lớn với nhiều bộ phận thành
viên cơ sở. Trên thực tế, công việc kiểm toán báo cáo tài chính thường do các tổ chức
chuyên nghiệp thực hiện. Từ sự phân tích trên cho thấy, mối quan hệ giữa chủ thể và
khách thể kiểm toán là mối quan hệ ngoại kiểm, qua đó chức năng xác minh và bày tỏ ý
Các giai đoạn trong quy trình chung này là một chuỗi liên tục, xuyên suốt của công tác
kiểm toán. Trình tự kiểm toán được trình bày trên Sơ đồ 1.
Nguyễn Thị Thu Hương 4 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ 1.1 . Trình tự kiểm toán tài chính
Nguyễn Thị Thu Hương 5 Kiểm toán 44
Lập kế hoạch tổng quát
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ
pháp lý
Đánh giá trọng yếu và rủi ro
Thẩm tra và đánh giá HT KSNB
Thư hẹn hoặc
hợp đồng (kế
hoạch chung)
kiểm toán
Bằng
chứng
kiểm
toán
Thư mời (lệnh)
kiểm toán
Bước
I
Chuẩn
bị
kiểm
toán
Khai triển kế hoạch và chương
tiếp số dư
Xác minh chi tiết bổ sung
Bằng
chứng
kiểm
toán
Có
Khôn
g
Dựa vào HT KSNB không?
Bước
II
Thực
hiện
công
việc
kiểm
toán
Bước
III
Kết thúc
công
việc
kiểm
toán
Bằng
chứng
kiểm
toán
Đánh giá kết quả và lập Báo cáo
thiết khác cho kiểm toán. Lập kế hoạch không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của cuộc
kiểm toán, để chuẩn bị các điều kiện cơ bản cho cuộc kiểm toán, mà còn là nguyên tắc
cơ bản trong công tác kiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực, có vai trò quan
trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán.
Nguyên tắc kiểm toán quốc tế thứ ba - Các nguyên tắc cơ bản xuyên suốt cuộc
kiểm toán – do IPAC (Ủy ban thực hành kiểm toán quốc tế) ban hành quy định: “Kiểm
toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán để trợ giúp cho công việc kiểm toán tiến hành có
Nguyễn Thị Thu Hương 6 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hiệu quả, đúng thời gian. Kế hoạch kiểm toán phải dựa trên cơ sở các hiểu biết về đặc
điểm kinh doanh của khách hàng”.
Tại đoạn 2, chuẩn mực Kiểm toán quốc tế ISA 300 quy định: “Chuyên gia kiểm
toán cần lập kế hoạch kiểm toán để có thể đảm bảo được rằng cuộc kiểm toán đó được
tiến hành một cách có hiệu quả.”
Tại đoạn 02, chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA 300 - Lập kế hoạch kiểm
toán cũng đã nêu rõ: “Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch để đảm
bảo cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả”.
Có ba lý do chính khiến cho kiểm toán viên phải lập kế hoạch một cách đúng
đắn: để giúp cho kiểm toán viên có thể thu được bằng chứng có giá trị và đầy đủ cho các
tình huống; để giúp giữ các chi phí kiểm toán ở mức hợp lý, và để tránh những bất đồng
với khách hàng:
Ý nghĩa lớn nhất của việc lập kế hoạch kiểm toán là giúp cho kiểm toán viên
thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ, hiệu lực để đưa ra kết luận về báo cáo tài chính,
từ đó giúp kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu trách nhiệm pháp lý, nâng
cao hiệu quả công việc và giữ vững uy tín nghề nghiệp đối với khách hàng.
Kế hoạch kiểm toán cũng giúp các kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với nhau
và với các bộ phận liên quan như: Kiểm toán viên nội bộ và các chuyên gia bên ngoài…
Đồng thời, qua sự phối hợp hiệu quả đó, kiểm toán viên có thể tiến hành cuộc kiểm toán
theo đúng chương trình đã lập với các chi phí và thời gian ở mức hợp lý, tăng cường sức
mạnh cạnh tranh cho công ty kiểm toán và giữ uy tín với khách hàng trong mối quan hệ
đốc hoặc người đứng đầu công ty kiểm toán phê duyệt. Kế hoạch chiến lược là cơ sở để
lập kế hoạch kiểm toán tổng thể, là cơ sở chỉ đạo thực hiện và soát xét chất lượng, kết
quả của cuộc kiểm toán. Kế hoạch chiến lược phải được lập thành một văn bản riêng
hoặc lập thành một phần riêng trong kế hoạch kiểm toán tổng thể.
1.2. Nội dung của kế hoạch chiến lược:
Tại phụ lục số 01, Mẫu kế hoạch chiến lược, chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam
VSA 300, nội dung và các bước công việc của kế hoạch chiến lược bao gồm:
Tìm hiểu tình hình kinh doanh của khách hàng (Tổng hợp thông tin về lĩnh
vực hoạt động, loại hình doanh nghiệp, hình thức sở hữu, công nghệ sản xuất, tổ chức
bộ máy quản lý và thực tiễn hoạt động của đơn vị) đặc biệt lưu ý đến những nội dung
chủ yếu như: Động lực cạnh tranh, phân tích thái cực kinh doanh của doanh nghiệp cũng
như các yếu tố về sản phẩm, thị trường tiêu thụ, giá cả và các hoạt động hỗ trợ sau bán
hàng…
Xác định những vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính như chế độ kế toán,
chuẩn mực kế toán áp dụng, yêu cầu về lập báo cáo tài chính và quyền hạn của công ty;
Xác định vùng rủi ro chủ yếu của doanh nghiệp và ảnh hưởng của nó tới báo
cáo tài chính (đánh giá ban đầu về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát);
Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ;
Xác định các mục tiêu kiểm toán trọng tâm và phương pháp tiếp cận kiểm
toán;
Nguyễn Thị Thu Hương 8 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Xác định nhu cầu về sự hợp tác của các chuyên gia: chuyên gia tư vấn pháp
luật, kiểm toán nội bộ, kiểm toán viên khác và các chuyên gia khác như kỹ sư xây dựng,
kỹ sư nông nghiệp…
Dự kiến nhóm trưởng và thời gian thực hiện;
Giám đốc phê duyệt và thông báo kế hoạch chiến lược cho nhóm kiểm toán.
Căn cứ kế hoạch chiến lược đã được phê duyệt, trưởng nhóm kiểm toán lập kế hoạch
kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán.
II. LẬP KẾ HOẠCH TỔNG THỂ
năng mà khách hàng này yêu cầu được kiểm toán và khi có yêu cầu kiểm toán, kiểm
toán viên phải đánh giá liệu có chấp nhận yêu cầu đó hay không. Còn đối với các khách
hàng hiện tại, kiểm toán viên phải quyết định liệu có tiếp tục kiểm toán hay không? Trên
cơ sở đã xác định được khối lượng khách hàng có thể phục vụ trong tương lai, công ty
kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán bao
gồm: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn
đội ngũ nhân viên kiểm toán và ký hợp đồng kiểm toán.
2.2.1.1. Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán.
Kiểm toán viên phải đánh giá xem việc chấp nhận một khách hàng mới hay tiếp
tục kiểm toán cho một khách hàng cũ có làm tăng rủi ro cho hoạt động của kiểm toán
Nguyễn Thị Thu Hương 10 Kiểm toán 44
Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện các thủ tục phân tích
Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình kiểm toán
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
viên hay làm hại đến uy tín của công ty kiểm toán hay không? Để làm được điều đó,
kiểm toán viên phải tiến hành các công việc như sau:
Xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng:
Đoạn 10 chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 220 - Kiểm soát chất lượng đối với
việc thực hiện một hợp đồng kiểm toán: “Công ty kiểm toán phải xây dựng và thực hiện
các chính sách và thủ tục kiếm soát chất lượng để đảm bảo tất cả các cuộc kiểm toán
đều được tiến hành phù hợp với Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hoặc Chuẩn mực Kiểm
toán Quốc tế được Việt Nam chấp nhận nhằm không ngừng nâng cao chất lượng của
các cuộc kiểm toán”.
Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế ISA số 220 - Kiểm soát chất lượng một hợp đồng
kiểm toán: “Công ty kiểm toán phải thực hiện những chính sách và những thủ tục kiểm
tra chất lượng để đảm bảo rằng cuộc kiểm toán được tiến hành phù hợp với Chuẩn mực
Ngoài ra, kiểm toán viên có thể xem xét hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên tiền
nhiệm để hỗ trợ cho kiểm toán viên kế tục trong việc lập kế hoạch kiểm toán.
Tuy nhiên, theo quy định ở nhiều nước, việc thiết lập mối quan hệ giữa kiểm
toán viên kế tục với kiểm toán viên tiền nhiệm phải được sự chấp thuận của đơn vị
khách hàng. Và mặc dù khách hàng đã chấp thuận điều đó thì kiểm toán viên tiền nhiệm
vẫn có thể hạn chế hoặc từ chối mối quan hệ này.
Đối với những khách hàng trước đây chưa từng được công ty kiểm toán nào
kiểm toán thì để có thông tin về khách hàng, kiểm toán viên có thể thu thập các thông
tin qua việc nghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên ngành, hoặc thẩm tra các bên có liên
quan như ngân hàng, cố vấn pháp lý,… thậm chí có thể thuê các nhà điều tra chuyên
nghiệp để điều tra về các vấn đề cần thiết khác. Cách thu thập tin tức này cũng có thể áp
dụng trong trường hợp khách hàng đã được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán trước
đây không đồng ý cho kiểm toán viên mới tiếp xúc hoặc do trước đây có những bất
đồng nghiêm trọng giữa hai bên nên kiểm toán viên tiền nhiệm không cung cấp đủ các
thông tin cần thiết.
Đối với khách hàng cũ, hàng năm kiểm toán viên phải cập nhật các thông tin về
khách hàng và đánh giá xem liệu có rủi ro nào khiến kiểm toán viên phải ngừng cung
cấp các dịch vụ kiểm toán cho khách hàng trong trường hợp hai bên có những mâu
thuẫn về các vấn đề như: phạm vi thích hợp của cuộc kiểm toán, loại báo cáo kiểm toán
phải công bố, tiền thù lao hoặc giữa hai bên có những vụ kiện tụng hoặc trong trường
hợp kiểm toán viên cho rằng Ban giám đốc khách hàng thiếu liêm chính… Từ những
thông tin thu được, kiểm toán viên có thể cân nhắc đánh giá khả năng chấp nhận hay
không tiếp tục kiểm toán cho khách hàng.
Điều cân nhắc cuối cùng nhưng quan trọng nhất của kiểm toán viên khi đánh giá
có chấp nhận khách hàng hay không chính là việc xác định khả năng có thể kiểm toán
của khách hàng.
Khả năng có thể kiểm toán được xác định theo một vài yếu tố chi phối. Chẳng
hạn tính thận trọng nghề nghiệp đòi hỏi kiểm toán viên phải đánh giá tính liêm chính
của Ban giám đốc và hệ thống kế toán của khách hàng. Hệ thống kế toán của khách
hàng phải cung cấp đầy đủ bằng chứng, chứng minh cho các nghiệp vụ phát sinh và đảm
Số người tham gia kiểm toán cần được xem xét cả về tổng số và cơ cấu. Tổng số
người phải tương xứng với quy mô kiểm toán nói chung đã xác định ở phần trên. Cơ cấu
của nhóm công tác phải thích ứng với từng việc cụ thể đã chính xác hoá mục tiêu, phạm
vi ở phần xác định nhu cầu. Chẳng hạn, công việc kiểm tra chứng từ cần cân đối với số
kiểm toán viên có kinh nghiệm cần tương xứng với mức độ đầy đủ và tính phức tạp của
nguồn tài liệu đã có, công việc kiểm kê cần có đủ người hiểu biết về các đối tượng cụ
thể của kiểm kê như lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vải sợi…
Trong quá trình lựa chọn đội ngũ kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểm toán, công
ty kiểm toán cần quan tâm đến 3 vấn đề:
Nguyễn Thị Thu Hương 13 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thứ nhất: Nhóm kiểm toán có những người có khả năng giám sát một cách thích
đáng các nhân viên mới và chưa có nhiều kinh nghiệm, và điều này cũng được chuẩn
mực đầu tiên trong nhóm các chuẩn mực về công việc tại chỗ trong GAAS quy định.
Thứ hai: Công ty kiểm toán cần tránh thay đổi kiểm toán viên trong các cuộc
kiểm toán cho một khách hàng trong nhiều năm. Việc tham gia kiểm toán cho một
khách hàng trong nhiều năm có thể giúp cho kiểm toán viên tích luỹ được nhiều kinh
nghiệm cũng như có được hiểu biết sâu sắc về ngành nghề kinh doanh của khách hàng
đang được kiểm toán.
Thứ ba: Khi phân công kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểm toán cần chú ý lựa
chọn những kiểm toán viên có kiến thức và kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanh của
khách hàng.
Việc quan tâm đầy đủ các vấn đề trên khi lựa chọn đội ngũ kiểm toán sẽ góp
phần giúp công ty kiểm toán thực hiện cuộc kiểm toán có chất lượng và hiệu quả.
2.2.1.4. Hợp đồng kiểm toán
Khi đã quyết định chấp nhận kiểm toán cho khách hàng và xem xét các vấn đề
nêu trên, bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán mà công ty
kiểm toán phải thực hiện là ký kết hợp đồng kiểm toán. Đây là sự thoả thuận chính thức
giữa công ty kiểm toán và khách hàng về việc thực hiện kiểm toán và các dịch vụ liên
quan khác.
kiểm toán viên đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu, đưa ra đánh giá đầu về
mức trọng yếu và thực hiện các thủ tục phân tích để xác định thời gian cần thiết để thực
hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủ tục kiểm toán khác.
2.2.2.1. Tìm hiểu về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng:
Tại đoạn 2, Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế ISA 310 – Tìm hiểu tình hình kinh
doanh, quy định: “Trong việc thực hiện kiểm toán các báo cáo tài chính, chuyên gia
kiểm toán phải có hiểu biết đầy đủ về hoạt động của đơn vị để xác định và hiểu các sự
kiện, nghiệp vụ và thông lệ của đơn vị, mà theo đánh giá của chuyên gia kiểm toán, có
thể có một ảnh hưởng quan trọng trên các báo cáo tài chính, trên việc kiểm tra của
chuyên gia kiểm toán hoặc trên báo cáo kiểm toán”.
Tại đoạn 02, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 310 - Hiểu biết về tình hình
kinh doanh, hướng dẫn: “Để thực hiện được kiểm toán Báo cáo tài chính, kiểm toán
viên phải có hiểu biết về tình hình kinh doanh đủ để nhận thức và xác định các dữ kiện,
nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị được kiểm toán mà theo kiểm toán viên thì
có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên
hoặc đến báo cáo kiểm toán.”
Điều này rất cần thiết khi kiểm toán viên thực hiện kiểm toán với tính thận trọng
nghề nghiệp đúng mức. Mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh có những hệ thống kế toán
riêng và áp dụng những nguyên tắc kế toán đặc thù. Thêm vào đó, tầm quan trọng của
mỗi nguyên tắc kế toán cũng thay đổi theo ngành nghề kinh doanh của khách hàng.
Những hiểu biết về ngành nghề kinh doanh của khách hàng bao gồm:
Nguyễn Thị Thu Hương 15 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Hiểu biết chung về nền kinh tế: Thực trạng nền kinh tế, các tỷ lệ lãi suất và
khả năng tài chính của nền kinh tế, mức độ lạm phát, và giá trị đơn vị tiền tệ…
- Môi trường và lĩnh vực hoạt động của đơn vị được kiểm toán: thị trường và
cạnh tranh, đặc điểm hoạt động kinh doanh, các thay đổi trong công nghệ sản xuất kinh
doanh, rủi ro kinh doanh, chuẩn mực kế toán và các vấn đề có liên quan…
- Các nhân tố nội tại của đơn vị được kiểm toán: các đặc điểm quan trọng về sở
hữu và quản lý (loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực được phép kinh doanh, thời hạn được
2.2.2.4. Nhận diện các bên hữu quan.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA 550 – Các bên hữu quan, các bên
hữu quan được hiểu là: các bộ phận trực thuộc, các chủ sở hữu chính thức của công ty
khách hàng hay bất kỳ công ty chi nhánh, một cá nhân hay tổ chức nào mà công ty
khách hàng có quan hệ và các cá nhân tổ chức đó có khả năng điều hành, kiểm soát hoặc
có ảnh hưởng đáng kể tới các chính sách kinh doanh hoặc chính sách quản trị của công
ty khách hàng.
Theo nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận (IAS), bản chất mối quan hệ giữa
các bên hữu quan phải được tiết lộ trên sổ sách, báo cáo và qua mô tả các nghiệp vụ
kinh tế. Vì vậy, các bên hữu quan và các nghiệp vụ giữa các bên hữu quan có ảnh hưởng
lớn đến Báo cáo tài chính và sự nhận định các bên hữu quan và nhận định sơ bộ về mối
quan hệ ngày nay trong giai đoạn lập kế hoạch thông qua phỏng vấn Ban giám đốc, xem
sổ theo dõi cổ đông, sổ theo dõi khách hàng… Từ đó, bước đầu dự đoán các vấn đề có
thể phát sinh giữa các bên hữu quan để có thể hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù
hợp.
2.2.2.5. Dự đoán nhu cầu chuyên gia bên ngoài.
Thuật ngữ “chuyên gia” chỉ một ngừơi hoặc một văn phòng có năng lực hiểu biết
và kinh nghiệm cụ thể trong một lĩnh vực riêng ngoài lĩnh vực kế toán và kiểm toán.
Nếu công ty kiểm toán cho rằng không ai trong lĩnh vực kiểm toán có chuyên môn hoặc
khả năng về lĩnh vực nào đó để thực hiện các thủ tục kiểm toán cần thiết nhất định, ví
dụ như khi đánh giá về các tác phẩm nghệ thuật, vàng bạc, đá quý, hoặc khi cần tư vấn
pháp lý về các hợp đồng… Khi đó,công ty kiểm toán có thể quyết định sử dụng chuyên
gia bên ngoài.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA 620 - Sử dụng tư liệu của một chuyên gia,
hướng dẫn khi sử dụng chuyên gia, kiểm toán viên phải đánh giá khả năng chuyên môn,
hiểu mục đích và phạm vi công việc của học cũng như sự phù hợp của việc sử dụng tư
liệu đó cho các mục tiêu dự định. Kiểm toán viên cũng nên xem xét mối quan hệ giữa
chuyên gia với khách hàng, những yếu tố có thể ảnh hưởng tới tính khách quan của
chuyên gia đó.
2.2.3. Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng.
tin trên Báo cáo tài chính.
Trước khi cuộc kiểm toán hoàn thành, kiểm toán viên cần phải kiểm tra, đối
chiếu các kết quả thu được trong quá trình kiểm toán với các quyết định đưa ra trong các
cuộc họp để đảm bảo là Ban giám đốc đã tuân thủ các biện pháp đã được Hội đồng quản
trị và các cổ đông đề ra và yêu cầu Ban giám đốc cung cấp thư giải trình, trong đó cam
kết là đã gửi đầy đủ các biên bản của các cuộc họp trên cho kiểm toán viên.
2.2.3.4. Các hợp đồng và cam kết quan trọng:
Các hợp đồng và cam kết quan trọng như: hợp đồng mua, bán hàng… là mối
quan tâm hàng đầu ở các bộ phận cá biệt của cuộc kiểm toán và đặc biệt là trong suốt
giai đoạn khảo sát chi tiết. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, việc xem xét sơ bộ
Nguyễn Thị Thu Hương 18 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các hợp đồng đó sẽ giúp cho kiểm toán viên tiếp cận với các hoạt động chính của khách
hàng, hình dung những khía cạnh pháp lý có ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết
quả hoạt động của đơn vị khách hàng.
2.2.4. Thực hiện các thủ tục phân tích.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA 520 – Quy trình phân tích: “Thủ tục
phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra
xu hướng biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên
quan hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”, “Kiểm toán viên phải áp
dụng quy trình phân tích trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán để tìm hiểu tình hình
kinh doanh của đơn vị và xác định những vùng có thể có rủi ro”.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế ISA 520 – Các thủ tục phân tích, quy định:
“Chuyên gia kiểm toán phải áp dụng các thủ tục phân tích khi tiến hành lập kế hoạch
kiểm toán để hiểu rõ hơn hoạt động của đơn vị và xác định những lĩnh vực có nhiều rủi
ro tiềm tàng”.
Các thủ tục phân tích được kiểm toán viên sử dụng gồm hai loại cơ bản:
Phân tích ngang (Phân tích xu hướng): là việc phân tích dựa trên cơ sở so
sánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính. Các chỉ tiêu phân tích
ngang được sử dụng bao gồm: so sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước hoặc giữa các
phân bổ mức đánh giá cho từng khoản mục trên Báo cáo tài chính.
Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộ Báo cáo tài chính
Mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu và lượng tối đa mà kiểm toán viên tin
rằng ở mức đó các Báo cáo tài chính có thể bị sai lệch nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến
các quyết định của người sử dụng thông tin tài chính. Nói cách khác đó chính là những
sai sót có thể chấp nhận được đối với toàn bộ Báo cáo tài chính.
Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp kiểm toán viên thu thập bằng
chứng kiểm toán thích hợp. Cụ thể là nếu các kiểm toán viên ước lượng mức trọng yếu
càng thấp, nghĩa là độ chính xác của số liệu trên Báo cáo tài chính càng cao, thì số
lượng bằng chứng thu thập càng nhiều và ngược lại. Ước lượng ban đầu về tính trọng
yếu không cố định mà có thể thay đổi trong suốt cuộc kiểm toán nếu kiểm toán viên
thấy rằng mức ước lượng ban đầu là quá cao hay quá thấp hoặc một trong các nhân tố
dùng để xác định mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu bị thay đổi. Khi xây dựng
ước lượng ban đầu về tính trọng yếu, kiểm toán viên cần lưu ý những yếu tố ảnh hưởng
sau đây:
+ Tính trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là một đối tượng tuyệt đối, gắn
liền với quy mô của công ty khách hàng. Một sai phạm với quy mô nhất định có thể là
trọng yếu đối với một công ty nhỏ nhưng lại không trọng yếu đối với một công ty lớn.
Vì vậy, việc xác định và chỉ dẫn một mức giá trị cụ thể bằng tiền cho sự ước lượng ban
đầu về tính trọng yếu áp dụng cho tất cả các khách hàng là điều không thể làm được.
+ Yếu tố định lượng của tính trọng yếu: quy mô sai phạm là một yếu tố quan
trọng để xem xét liệu các sai phạm có trọng yếu hay không. Tuy nhiên, trọng yếu mang
tính chất tương đối nên việc có được các cơ sở quyết định xem một quy mô của một sai
phạm nào có trọng yếu hay không là một điều rất cần thiết.
Nguyễn Thị Thu Hương 20 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Yếu tố định hình của trọng yếu: trong thực tế, để xác định một sai phạm là
trọng yếu hay không, kiểm toán viên phải xem xét, đánh giá cả về mặt quy mô (số
lượng) và bản chất (chất lượng) của sai sót đó. Một hành vi gian lận luôn được coi là
trọng yếu bất kể quy mô của nó là bao nhiêu.
Trong thực tế, rất khó dự đoán về khả năng xảy ra sai sót cũng như chi phí kiểm
toán cho từng khoản mục nên công việc này mang tính chủ quan và đòi hỏi sự xét đoán
Nguyễn Thị Thu Hương 21 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mang tính nghề nghiệp của kiểm toán viên. Vì vậy, công ty kiểm toán thường phân công
các kiểm toán viên có trình độ chuyên môn cao nhiều kinh nghiệm để thực hiện công
việc này.
Sau khi phân bổ ước lượng về tính trọng yếu, bước tiếp theo trong việc lập kế
hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần phải đánh giá rủi ro kiểm toán.
Đây là một bước công việc rất quan trọng và đòi hỏi ở kiểm toán viên không chỉ về trình
độ, kinh nghiệm mà còn phải có khả năng nhìn bao quát toàn bộ cuộc kiểm toán để từ
đó có thể đưa ra được một đánh giá hợp lý về rủi ro kiểm toán.
2.2.5.2. Đánh giá rủi ro.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế ISA 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội
bộ, “Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà chuyên gia kiểm toán đưa ra một ý kiến không đúng
cho những sai sót trọng yếu trong Báo cáo tài chính. Rủi ro này được chia thành ba
mức: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”.
Theo định nghĩa trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA 400 – Đánh giá rủi
ro và kiểm soát nội bộ, “Rủi ro kiểm soát là rủi ro do công ty kiểm toán và kiểm toán
viên đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi Báo cáo tài chính đã được kiểm toán
còn có những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng,
rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”.
Rủi ro kiểm toán mong muốn (DAR – Desire Audit Risk)
Rủi ro kiểm toán mong muốn là rủi ro được xác định một cách chủ quan. Đó là
mức độ mà kiểm toán viên sẵn sàng chấp nhận là Báo cáo tài chính có thể sai sót trọng
yếu sau khi cuộc kiểm toán hoàn thành và đã đi đến ý kiến chấp nhận toàn phần. Khi
kiểm toán viên quyết định một tỷ lệ rủi ro thấp hơn có, có nghĩa là kiểm toán viên muốn
được chắc chắn hơn là Báo cáo tài chính không bị sai phạm trọng yếu. Mức rủi ro này
được xác định phụ thuộc vào hai yếu tố sau:
+ Mức độ mà theo đó người sử dụng bên ngoài có thể tin tưởng vào Báo cáo tài
các ước tính kế toán, quy mô của các số dư tài khoản, các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng
đến hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Kiểm toán viên cần cân nhắc lần lượt các yếu tố trên và quyết định mức rủi ro
tiềm tàng thích hợp đối với từng khoản mục trên Báo cáo tài chính. Rủi ro tiềm tàng có
quan hệ tỷ lệ thuận với bằng chứng kiểm toán.
Đánh giá rủi ro kiểm soát (CR – Control Risk)
Tại đoạn 5, Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế ISA 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ, đã nêu: “Rủi ro kiểm soát là rủi ro trong đó một sai sót trọng yếu trong một
tài khoản trong Báo cáo tài chính, riêng biệt hay gộp với các sai sót trong những tài
khoản khác, đã không được hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ ngăn ngừa
hoặc phát hiện và sửa chữa kịp thời trong thời gian mong muốn”.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát
nội bộ, “Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trên Báo cáo tài chính khi
tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không
ngăn ngừa hết được hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời”.
Nguyễn Thị Thu Hương 23 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Rủi ro kiểm soát sẽ luôn xuất hiện và khó tránh khỏi do những hạn chế có tính
bản chất của bất cứ hệ thống kiểm soát nội bộ nào. Để có thể đánh giá được rủi ro kiểm
soát, kiểm toán viên cần xem xét tính hợp lý của các quy chế kiểm soát cũng như kiểm
tra việc tôn trọng các biện pháp kiểm soát. Khi không đánh giá và kiểm tra được như
trên thì kiểm toán viên nên giả định rằng rủi ro kiểm soát là cao.
+ Thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả chi tiết trên giấy tờ
làm việc.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát
nội bộ, quy định: “Kiểm toán phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm
soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm
toán thích hợp, có hiệu quả…Khi tìm hiểu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội
bộ để lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên sẽ hiểu biết được việc thiết kế và thực
hiện của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng”.
cho từng loại nghiệp vụ chủ yếu của công ty mà theo đó có thể đánh giá rủi ro kiểm soát
đối với từng khoản mục.
Bước 2: Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù. Ở bước này, kiểm toán viên
không nhất thiết phải xem xét mọi quá trình kiểm soát mà chỉ phải nhận diện và phân
tích các quá trình kiểm soát chủ yếu (có khả năng ảnh hưởng lớn nhất đến việc thoả mãn
các mục tiêu kiểm soát), đảm bảo tính hiệu quả cho cuộc kiểm toán.
Bước 3: Nhận diện và đánh giá các nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ là sự vắng mặt của các quá trình kiểm soát
thích đáng mà điều này sẽ làm tăng khả năng rủi ro của việc tồn tại các sai phạm trên
Báo cáo tài chính.
Bước 4: Đánh giá rủi ro kiểm soát. Khi đã nhận diện được quá trình kiểm soát và
các nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên tiến hành đánh giá rủi ro
kiểm soát ban đầu đối với từng mục tiêu kiểm soát của từng nghiệp vụ kinh tế. Kiểm
toán viên có thể đánh giá rủi ro theo yếu tố định tính thấp, trung bình hoặc cao, hoặc
theo tỷ lệ phần trăm.
Tại đoạn 29 và 30 của VSA số 400 - Đánh giá rủi ro và KSNB, “kiểm toán viên
thường đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức cao đối với cơ sở dẫn liệu của BCTC trong
trường hợp:
- Hệ thống kế toán và hệ thống KSNB không đầy đủ.
- Hệ thống kế toán và hệ thống KSNB không hiệu quả.
- Kiểm toán viên không được cung cấp đầy đủ cơ sở để đánh giá sự đầy đủ và hiệu
quả của hệ thống kế toán và hệ thống KSNB của khách hàng
Kiểm toán viên thường đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ không cao đối với cơ
sở dẫn liệu trên Báo cáo tài chính trong trường hợp:
- Kiểm toán viên có đủ cơ sở để kết luận hệ thống kế toán và hệ thống KSNB được
thiết kế có thể ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu.
- Kiểm toán viên có kế hoạch thực hiện thử nghiệm kiểm soát làm cơ sở cho việc
đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát”
Nguyễn Thị Thu Hương 25 Kiểm toán 44