PHÂN TÍCH TÍN DỤNG
Giảng viên hướng dẫn
Ph.D. NGUYỄN THỊ LAN
Sinh viên
Phùng Ngọc Hà
Dương Thúy Hằng
Nguyễn Văn Đạt
Phạm Quốc Hưng
Nguyễn Thị Ngọc Mai15
Phân tích báo cáo tài chính Công ty CP bánh kẹo Hải Hà
PHẦN I
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ
1.1. Giới thiệu chung về công ty
1.1.1. Lịch sử hình thành
Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà, tên giao dịch quốc tế là Haiha Confectionery
Joint-Stock Company (HAIHACO). Công ty được thành lập ngày 25/12/1960, gần 50
năm phấn đấu và trưởng thành, từ một xưởng làm nước chấm và magi đã trở thành một
trong những nhà sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam với quy mô sản xuất lên tới
20.000 tấn sảnphẩm/năm.
Năm 2003 Công ty thực hiện cổ phần hoá theo quyết định số 192/2003/QĐ-BCN
ngày 14/11/2003 của Bộ Công nghiệp. Từ tháng 1/2004 Công ty chính thức hoạt động
dưới hình thức Công ty cổ phần theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số
0103003614 do Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 20/01/2004 và thay
đổi lần thứ hai ngày13/08/2007.
Công ty được chấp thuận niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán
Hà Nội theo Quyết định số 312/QĐ-TTGDHN ngày 08/11/2007 của Giám đốc trung tâm
giao dịch chứng khoán Hà Nội và đã chính thức giao dịch từ ngày 20/11/2007.
dây chuyền của Malaysia công suất 6 tấn/ngày và 3 tấn/ngày.
Sản phẩm của HAIHACO vẫn có ưu thế về giá cả, chất lượng cũng không thua
kém các sản phẩm cạnh tranh khác từ các doanh nghiệp trong nước như Kinh Đô, Bibica,
Hải Châu, Wonderfarm và hàng nhập khẩu. Bánh Trung thu: Sản phẩm của HAIHACO
được đánh giá cao về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đặc biệt có hương vị thơm
ngon. Hiện nay, bánh Trung thu Hải Hà cạnh tranh rất mạnh với bánh trung thu của Hữu
Nghị và Bibica, đặc biệt là trên thị trường miền Bắc.
15
Phân tích báo cáo tài chính Công ty CP bánh kẹo Hải Hà
PHẦN II
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ
PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG
2.1. Phân tích theo mô hình cổ điển – Phân tích các chỉ tiêu tài chính của Doanh
nghiệp
Dựa trên kết quả báo cáo tài chính, tiến hành phân tích các chỉ số tài chính của
Công ty CP Bánh kẹo Hải Hà (HHC) và hai đối thủ cạnh tranh là Công ty CP Bánh kẹo
Kinh Đô (KDC) và Bibica (BBC).
2.1.1. Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán (Liquidity Ratios)
Stt Chỉ số Công thức
2008 2009 2010
KDC BBC HHC KDC BBC HHC KDC BBC HHC
1
Current
ratio
2.23 3,98 1,8 1.53 2.2 1.7 2.13
1.82 1.68
Chỉ số của HHC hiện đang ở mức 1.68, thấp nhất so với hai công ty còn lại trong
ngành. Mức thấp so với một công ty sản xuất cho thấy rủi ro trong thanh toán của HHC
đang ở mức lớn. Hệ số này của HHC giảm từ 1.8 năm 2008 về 1.68 năm 2010 cho thấy
122.85 54.3 21.9 196.94 25.2 22.1 193.05 36.36 16.47
Thời gian công ty phải mất để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt trung
bình thường dao động từ nửa tháng đến gần 1 tháng, nhanh hơn rất nhiều so với BBC và
KDC với thời gian lần lượt là vào hơn 1 tháng và nửa năm. Hệ số này một lần nữa cho
thấy tính quy mô sản xuất của HHC, do lượng hàng hóa ít hơn so với 2 công ty cùng
ngành do vậy công ty sẽ gặp ít khó khăn hơn trong việc thu các khỏan phải thu. Vòng
quay các khoản phải thu của HHC ngày càng giảm dần khiến cho số ngày thu tiền từ hoạt
động bán hàng càng ngày càng tăng lên chứng tỏ chính sách tín dụng thương mại ngày
càng được mở rộng với khách hàng. Nghiệp vụ chủ yếu giữa Hải Hà và các bạn hàng của
mình là mua bán thành phẩm, nguyên vật liệu, công cụ phục vụ sản xuất. Việc áp dụng
chính sách tín dụng mở rộng hơn đối với các doanh nghiệp trong nội bộ tập đoàn là điều
hoàn toàn dễ hiểu, tuy nhiên, đối với một doanh nghiệp mà khoản phải thu thường chiếm
trung bình hơn 30% tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn thì việc chậm thu hồi công nợ sẽ
ảnh hưởng nhiều tới việc xoay vòng vốn lưu động của doanh nghiệp.
Stt Chỉ số Công thức
2008 2009 2010
KDC BBC HHC KDC BBC HHC KDC BBC HHC
4
Inventory
turnover
9.47 6.2 4.2 2.79 4.9 4.44
Hàng tồn kho là loại tài sản ít thanh khoản nhất trong các tài sản lưu động. Vì công
ty phải dùng một lượng vốn để duy trì hàng lưu kho nên công ty sẽ được lợi khi bán hàng
15
Phân tích báo cáo tài chính Công ty CP bánh kẹo Hải Hà
càng nhanh cáng tốt lượng hàng này để giải phóng tiền mặt cho các mục đích sử dụng
khác. Phương pháp quản lý hàng tồn kho hiệu quả đã giúp HHC luôn duy trì được doanh
thu cao trong thời kỳ giá nguyên vật liệu liên tục biến động. Vòng quay hàng tồn kho duy
trì ở mức khá ổn định so với các doanh nghiệp trong ngành trong các năm qua. Song so
15
Phân tích báo cáo tài chính Công ty CP bánh kẹo Hải Hà
Chỉ số này cho biết 1 đồng công ty đầu tư vào tài sản đem lại lợi nhuận trước thể
là bao nhiêu. nhìn vào bảng ta có thể so sánh ngay được lợi nhuận bản thân HHC thu về
trên việc đầu tư tài sản là rất cao song lại giảm dần từ 13% vào năm 2008 xuống còn
11.5% vào năm 2010 và cũng là ở mức cao nhất so với 2 công ty cùng ngành, Tuy nhiên
không thể phủ nhận rằng HHC đầu tư vào tài sản khá là hiệu quả, ít nhất là đối với 1 công
ty còn khá nhỏ về mặt quy mô so với KDC và BBC
Stt Chỉ số Công thức
2008 2009 2010
KDC BBC
HH
C
KDC BBC HHC KDC BBC HHC
7
Total
asset
turnover
49.14
%
0.9% 2
36.24
%
0.9% 2.4
37.9
1%
1.04 2.36
So với năm 2008 thì chỉ số doanh thu tổng tài sản của HHC đã tăng tương đối,
chứng tỏ doanh thu cũng tăng đáng kể, so với 2 công ty trong ngành, hệ số này ở mức rất
25.9
2
10.02
15
Phân tích báo cáo tài chính Công ty CP bánh kẹo Hải Hà
Vòng quay tài sản cố định của HHC có xu hướng tăng dần qua các năm. Chỉ số
này chưa thể kết luận ngay rằng hiệu quả sử dụng tài sản cố định của HHC là tốt hơn so
với các doanh nghiệp trong ngành do có sự khác biệt khá lớn giữa doanh thu và đầu tư
vào tài sản cố định giữa KDC và BBC, HHC . Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng tài sản cố
định của HHC cũng tương đối cao do một đồng đầu tư vào tài sản cố định để thu về một
đồng doanh thu lại có xu hướng tăng qua các năm.
2.1.3. Nhóm tỷ số nợ (Leverage Ratios)
Stt Chỉ số Công thức
2008 2009 2010
KDC BBC HHC KDC BBC HHC KDC BBC HHC
9 Debt ratio 28.02% 18.4% 47.4% 41.61% 28.9% 39% 24.22% 28.2% 43.06%
10
Long term
debt to total
capitalizatio
n
3.7% 5.3% 2.4%
Hệ số nợ trong cơ cấu vốn của HHC qua các năm ở mức tương đối cao ( dao động
quanh ngưỡng 40%). Hải Hà – tuy là một doanh nghiệp có vốn hóa không lớn nhưng lại
sử dụng hệ số đòn bảy tài chính cao. Chỉ số nợ của HHC cao hơn 2 công ty còn lại trong
ngành, ở mức 41.61% cho thấy khả năng phóng đại thu nhập của HHC tốt hơn. Điều
đáng lưu ý là sự gia tăng mạnh của chỉ số này trong 3 năm gần đây là một bước đi có hiệu
quả trong việc phục hồi kinh doanh sau khủng hoảng tài chính năm 2008, điều mà các đối
thủ trong ngành không làm tốt bằng HHC. Hệ số nợ dài hạn trên tổng tài sản của HHC
earned
ratio
0.93 4.4
299.1
6
Hệ số này cho biết một công ty có khả năng đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ lãi của
nó đến mức nào. Hệ số càng cao thì khả năng thanh toán lãi của công ty cho các chủ nợ
của mình càng lớn. Nhìn vào bảng tỷ số trên ta thấy con số ấn tượng của HHC vào năm
2010 hệ số này đạt ở mức 299.16. Tỷ lệ trả lãi cao cho thấy một tình trạng tốt. Đây là
mức tăng đột biến so với 2 năm trước cũng như so với 2 công ty cùng ngành.
2.1.4. Nhóm tỷ số doanh lợi (Profitability Ratios)
Stt Chỉ số Công thức
2008 2009 2010
KD
C
BBC HHC
KD
C
BBC HHC KDC BBC HHC
14
Return
on
ordinar
y equity
-
3.05
%
5.2% 15.1%
ROE đo lường xem công ty tận dụng vốn nhà đầu tư tốt đến mức nào ,ROE phản
ảnh mức độ sinh lời và tính hiệu quả trong việc sử dụng tổng tài sản. Tỷ số của HHC cao
KDC BBC HHC
12
Net
profit
margi
n
5.91
%
3.6
%
3.6%
KDC là một cty được quản lý tốt đạt được mức lợi nhuận ròng tương đối cao so
với trung bình, chỉ đứng sau ông lớn KDC song lại giảm dần đều qua các năm 2008, 2009
và 2010. Lợi nhuận của HHC đến từ ba nguồn chính: hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt
động tài chính và các khoản thu nhập bất thường (đến từ hoạt động kinh doanh bất động
sản và thanh lý tài sản cố định). Tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động chính của HHC và BBC
khoảng 5% - 7% trong khi của KDC ở mức cao từ 14% - 15%, điều này phù hợp với quy
mô sản xuất của từng công ty vì KDC là công ty tương đối lớn nguồn vốn kinh doanh
khổng lồ, còn HHC và BBC hoạt động với quy mô nhỏ hơn, vì thế con số trên đối với
từng công ty là khá hợp lý.
15
Phân tích báo cáo tài chính Công ty CP bánh kẹo Hải Hà
Nhóm phân tích cũng đã tiến hành phân tích tình hình kinh doanh của Công ty Cổ
phần Bánh kẹo Hải Hà trong 6 tháng đầu năm 2011 và so sánh với cùng kỳ năm 2009;
2010. Kết quả phân tích như sau:
Stt Chỉ số Công thức
Nửa đầu
năm
2009
Non-current
asset turnover
2.94 3.56 2.71
8 Debt ratio
35.16% 31.88% 31.31%
9
Long term debt
to total
capitalization
0.02 0.02 0.02
10
Times interest
earned ratio
11.03 713.17 31.91
11
Net profit
margin
2.91% 2.91% 2.36%
12
Return on total
assets (ROA)
3.52% 3.82% 2.7%
13
Return on
ordinary equity
5.43% 5.62% 3.93%
Từ bảng trên, nhóm đã rút ra những nhận xét:
Stt Chỉ số Công thức
Nửa đầu
năm
34.12 32.11 28.54
Thời gian công ty phải mất để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt trung
bình thường dao động trên dưới 1 tháng. Hệ số này một lần nữa cho thấy tính quy mô
sản xuất của HHC, do lượng hàng hóa là tương đối ít so với trung bình ngành do vậy
công ty sẽ gặp ít khó khăn hơn trong việc thu các khỏan phải thu. Vòng quay các khoản
phải thu của HHC ngày càng giảm dần chứng tỏ chính sách tín dụng thương mại ngày
càng được thắt chặt. Nghiệp vụ chủ yếu giữa Hải Hà và các bạn hàng của mình là mua
bán thành phẩm, nguyên vật liệu, công cụ phục vụ sản xuất. Việc áp dụng chính sách tín
dụng thắt chặt trong điều kiện hiện nay là điều hoàn toàn dễ hiểu, đối với một doanh
nghiệp mà khoản phải thu thường chiếm trung bình hơn 30% tài sản lưu động và đầu tư
ngắn hạn thì việc giảm thời gian thu hồi công nợ sẽ ảnh hưởng tích cực tới việc xoay
vòng vốn lưu động của doanh nghiệp.
Stt Chỉ số Công thức
Nửa đầu
năm
2009
Nửa đầu
năm
2010
Nửa đầu năm
2011
3
Inventory
turnover
3.12 3.01 2.77
Hàng tồn kho là loại tài sản ít thanh khoản nhất trong các tài sản lưu động. Vì công
ty phải dùng một lượng vốn để duy trì hàng lưu kho nên công ty sẽ được lợi khi bán hàng
càng nhanh cáng tốt lượng hàng này để giải phóng tiền mặt cho các mục đích sử dụng
khác. Phương pháp quản lý hàng tồn kho hiệu quả đã giúp HHC luôn duy trì được doanh
thu cao trong thời kỳ giá nguyên vật liệu liên tục biến động. Vòng quay hàng tồn kho duy
2009
Nửa đầu
năm
2010
Nửa đầu năm
2011
5
Operating
income return
on investment
4.22% 4.65% 3.08%
Chỉ tiêu này trong 6 tháng đầu năm 2011 (3.08%) giảm so với cùng kỳ năm 2010
và 2009. Điều này cho thấy rằng trong 6 tháng đầu năm 2011, lợi nhuận của HHC giảm
so với cùng kỳ năm trước và công ty đã đầu tư nhiều vào tài sản, đặc biệt là hàng tồn kho.
Stt Chỉ số Công thức
Nửa đầu
năm
2009
Nửa đầu
năm
2010
Nửa đầu năm
2011
6
Total asset
turnover
1.21 1.32 1.14
Chỉ tiêu này của HHC hiện tại (1.14) là giảm so với 2 năm trước cùng kỳ, cho thấy
công ty đầu tư nhiều vào tài sản cố định.
Stt Chỉ số Công thức
Nửa đầu năm
2011
8 Debt ratio
35.16% 31.88% 31.31%
Hệ số nợ trong cơ cấu vốn của HHC trong 6 tháng đầu năm từ năm 2009- 2011 ở
mức tương đối cao ( trên 30%). Tuy Hải Hà là một doanh nghiệp có vốn hóa không lớn
nhưng lại sử dụng hệ số đòn bảy tài chính cao cho thấy khả năng phóng đại thu nhập của
HHC khá tốt. Điều đáng lưu ý là sự gia tăng mạnh của chỉ số này trong 3 năm gần đây là
một bước đi có hiệu quả trong việc phục hồi kinh doanh sau khủng hoảng tài chính năm
2008 của HHC.
Stt Chỉ số Công thức
Nửa đầu
năm
2009
Nửa đầu
năm
2010
Nửa đầu năm
2011
9
Long term debt
to total
capitalization
0.02 0.02 0.02
Hệ số nợ dài hạn trên tổng tài sản của HHC cả 3 năm đều không có khác biệt
nhiều, cho thấy công ty không hề có ý định sẽ huy động them các nguồn vốn dài hạn để
tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Trong bối cảnh lãi suất huy động
đang ở mức khá cao như hiện nay có thể sẽ là vô lý khi gia tăng cơ cấu nợ dài hạn. Tuy
nhiên chỉ số này thấp cũng chứng tỏ công ty phải chịu chi phí cao hơn để huy động các
nguồn vốn ngắn hạn, mà các nguồn vốn này lại không ổn định và có xu hướng gia tăng,
2010
Nửa đầu năm
2011
11
Net profit
margin
2.91% 2.91% 2.36%
Lợi nhuận ròng của HHC hiện tại (2.36%) giảm đáng kể so với 2 năm trước cùng
kỳ , điều này chứng tỏ công ty đang gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô sản xuất
làm lợi nhuận giảm.
Stt Chỉ số Công thức
Nửa đầu
năm
2009
Nửa đầu
năm
2010
Nửa đầu năm
2011
12
Return on total
assets (ROA)
3.52% 3.82% 2.7%
Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài
sản của nó. ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm
lời. Nhìn vào bảng trên thì ROA hiện tại của công ty (2.7%) là giảm so với năm 2010
cùng kỳ chứng tỏ mức sinh lời của công ty đang giảm và công ty đang đầu tư nhiều vào
tài sản cố định.
Stt Chỉ số Công thức
Nửa đầu
Qua phân tích, ta thấy chỉ số z của công ty là khá cao, đạt 5.24 (theo Atman, chỉ số
này <2.9 mới nằm trong vùng cảnh báo về nguy cơ phá sản). Chỉ số Z có xu hướng tăng.
Hiện tại, HHC có độ an toàn tài chính cao. Công ty hầu như không sử dụng nợ vay nên
không có rủi ro tài chính. Tuy nhiên, để giữ được sử ổn định của chỉ số này, doanh
nghiệp cũng cần chú ý và đưa ra các biện pháp hiệu quả trong việc quản lý các nhân tố
thành phần: x1, x2, x3, x4 và x5. Doanh nghiệp cần phải rà soát thật kĩ để tìm ra những
tài sản không hoạt động, tức là những tài sản không góp phần trực tiếp hay gián tiếp tạo
ra doanh số để từ đó có thể giảm được tổng tài sản mà vẫn giữ vững quy mô, hiệu quả
hoạt động.Tỷ số x5 (2.35) của công ty khá cao khi so sánh với tỷ số x3 (0.74), điều này
một phần nào suy ra được chi phí hoạt động (bao gồm cả định phí và biến phí ) vẫn còn
khá lớn nên chưa khai thác hiệu quả được nguồn thu từ sản xuất, vì vậy, trong thời gian
15
Phân tích báo cáo tài chính Công ty CP bánh kẹo Hải Hà
tới, công ty cần xem xét những chính sách quản lý chi phí một cách hiệu quả hơn. Một
nhân tố quan trọng nữa của mô hình là x4. Đối với doanh nghiệp này, x4 là nhân tố thấp
nhất trong số các nhân tố thành phần góp cấu thành nên chỉ số z, chỉ đạt 0.0009. Bởi vậy,
doanh nghiệp cũng cần chú ý cải thiện thành phần này bằng cách như tăng giá trị thị
trường của vốn csh (tăng thị giá cổ phiếu). Tuy nhiên, đây không phải một công việc dễ
thực hiện. Một cách đơn giản hơn là giảm bớt nợ. Có thể dùng tiền mặt để trả nợ, nhưng
cần cẩn trọng vì khi đó vốn lưu động sẽ bị giảm, có thể ảnh hưởng đến doanh số và lợi
nhuận. Một giải pháp khác thường được lựa chọn hơn cả là bán bớt những tài sản không
hoạt động như đã trình bày ở trên.