lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất tạo cơ sở và tiền đề phát triển cho nền
kinh tế quốc dân. Hàng năm, ngành xây dựng cơ bản thu hút gần 30% tổng số vốn
đầu t của cả nớc. Với nguồn đầu t lớn nh vậy cùng với đặc điểm sản xuất của ngành
là thời gian thi công kéo dài và thờng trên qui mô lớn. Vấn đề đặt ra ở đây là quản lý
vốn tốt, khắc phục tình trạng thất thoát và lãng phí trong sản xuất thi công, giảm chi
phí giá thành, tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu:
Hạch toán kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với quan hệ
hàng hoá - tiền tệ, là một phơng pháp quản lý kinh tế, đồng thời là một yếu tố khách
quan. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế nớc ta đang phát triển theo cơ chế thị tr-
ờng thì hoạt động kinh doanh phải có lãi, lấy thu nhập để bù đắp chi phí. Song trên
thực tế, tỷ lệ thất thoát vốn đầu t xây dựng cơ bản còn tơng đối cao do cha quản lý
tốt chi phí sản xuất. Vì thế, ngoài vấn đề quan tâm ký đợc các hợp đồng xây dựng,
doanh nghiệp còn quan tâm đến vấn đề hạ thấp chi phí sản xuất đến mức cần thiết
nhằm hạ giá thành sản phẩm xây lắp trong quá trình kinh doanh, tất nhiên doanh
nghiệp phải thông qua công tác kế toán - một công cụ có hiệu quả nhất trong quản
lý kinh tế. Trong đó, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
lắp luôn đợc xác định là khâu trọng tâm của công tác kế toán trong doanh nghiệp
xây dựng.
Nếu tổ chức các vấn đề khác tốt mà thiếu đi việc tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp khoa học, hợp lý thì hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp khó có thê đạt hiệu quả cao đợc. Chính vì vậy, việc hoàn thiện kế
toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có ý nghĩa hết sức
quan trọng đối với doanh nghiệp xây dựng.
3. Đối tợng nghiên cứu:
Trong các doanh nghiệp xây dựng thì đối tợng tính giá thành chính là các
công trình, hạng mục công trình vì vậy giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu chất l-
ợng quan trọng trong kinh doanh, qua chỉ tiêu này có thể đánh giá đợc trình độ quản
lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Quản lý tốt giá thành sản
của các thầy cô giáo, các cán bộ kế toán và tất cả những ngời quan tâm đến đề tài để
nhận thức của em về vấn đề này ngày càng hoàn thiện hơn.
Đề tài hoàn thành với sự học tập nghiên cứu nghiêm túc của em trong quá
trình thực tập, mà trớc hết là sự hớng dẫn của thầy giáo Nguyễn Quốc Cẩn, và toàn
thể thầy cô giáo khoa Kế toán, Trờng Cao Đẳng Công Nghiệp - Hà Nội và các cán
bộ trong phòng Kế toán - tài vụ Công ty Xây dựng số 1.
Em xin trân trọng cảm ơn !
2
Chơng I
Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
tại các doanh nghiệp xây dựng cơ bản
1.1. Đặc điểm của sản xuất xây lắp tác động đến công tác kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.1.1. Đặc điểm của sản phẩm xây lắp trong ngành xây dựng
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng sản
xuất tài sản cố định cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nó làm tăng
sức mạnh về kinh tế, tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội. Một quốc gia có cơ sở hạ
tầng vững chắc thì quốc gia đó mới có điều kiện phát triển. Nh vậy, việc xây dựng
cơ sở hạ tầng bao giờ cũng phát triển trớc một bớc so với các ngành khác.
Cơ sở hạ tầng vững chắc thì xây dựng là một ngành không thể thiếu đợc, cho
nên một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quĩ tích luỹ nói riêng với
vốn đầu t nớc ngoài nằm trong xây dựng cơ bản. Có thể quan niệm sản phẩm xây lắp
là:
Một là: Sản phẩm xây lắp là những công trình, hạng mục công trình ... có đủ
điều kiện đa vào sử dụng và phát huy tác dụng.
Hai là: Sản phẩm xây lắp có tính đơn chiếc, quy mô lớn, kết cấu phức tạp,
thời gian xây dựng dài và có giá trị lớn, sản phẩm mang tính cố định, nơi sản xuất ra
sản phẩm đồng thời là nơi sản phẩm hoàn thành đa vào sử dụng và phát huy tác
dụng.
4
1.1.3. Yêu cầu của công tác quản lý tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng
Do đặc điểm của xây dựng và sản phẩm xây dựng rất riêng nên việc quản lý
đầu t xây dựng cơ bản khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác. Vì vậy trong quá
trình quản lý đầu t xây dựng phải đáp ứng đợc những yêu cầu sau:
- Phải tạo ra những sản phẩm xây lắp đợc thị trờng chấp nhận cả về giá cả,
chất lợng, đáp ứng đợc mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất từ các nguồn đầu t trong và
ngoài nớc.
- Xây dựng phải đúng theo qui hoạch đợc duyệt, thiết kế hợp lý thẩm mỹ, xây
dựng đúng tiến độ đạt chất lợng cao.
Thực tế trong nhiều năm qua xây dựng cơ bản là một ngành làm thất thoát
một phần không nhỏ nguồn vốn đầu t của Nhà nớc. Nguyên nhân cơ bản là do quản
lý vốn đầu t cha đợc chặt chẽ.
Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phơng pháp đấu
thầu, giao nhận thầu xây dựng. Doanh nghiệp muốn trúng thầu một công trình phải
xây dựng một giá thầu hợp lý cho công trình đó dựa trên cơ sở xác định mức đơn giá
xây dựng cơ bản do Nhà nớc ban hành trên cơ sở giá thị trờng và bản thân doanh
nghiệp. Giá trúng thầu không vợt quá giá tổng dự toán đợc duyệt. Mặt khác phải
đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi.
Để thực hiện tất cả các yêu cầu trên đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cờng
công tác quản lý kinh tế đặc biệt là quản lý về tập hợp chi phí sản xuất. Trong đó
trọng tâm là công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp.
1.1.4. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Việc giảm chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có ý nghĩa rất
lớn đối với mỗi doanh nghiệp xây dựng. Vì vậy, việc xác định đúng đắn đối tợng tập
hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành phù hợp với điều kiện hiện tại của
doanh nghiệp và thoả mãn mọi yêu cầu quản lý đặt ra hết sức cần thiết. Cụ thể:
sản xuất hàng hoá, các chi phí này đợc biểu hiện dới dạng giá trị, gọi là chi phí sản
xuất.
Tơng tự nh vậy, chi phí sản xuất trong quá trình xây lắp là biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cấu thành nên sản
phẩm xây lắp trong một thời kỳ nhất định.
Tuy nhiên, để hiểu đúng khái niệm trên cần phân biệt giữa chi phí và chi tiêu.
Đây là hai hai niệm khác nhau nhng có quan hệ mật thiết với nhau.
Trong các doanh nghiệp xây lắp ngoài hoạt động sản xuất chung ra còn có
các hoạt động sản xuất phụ trợ khác. Do đó, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
gồm: Chi phí trong xây lắp và chi phí ngoài xây lắp.
Chi phí trong xây lắp là những chi phí phát sinh trong quá trình xây lắp của
doanh nghiệp. Chi phí ngoài xây lắp là những chi phí phát sinh ngoài lĩnh vực xây
dựng nh sản xuất phụ, công tác vận chuyển và các dịch vụ khác. Trong đó chi phí
trong xây lắp là chủ yếu.
1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp xây dựng
Việc quản lý sản xuất, chi phí sản xuất không chỉ dựa vào các số liệu tổng
hợp về chi phí sản xuất mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của từng loại chi phí theo
từng công trình, hạng mục công trình theo từng thời điểm nhất định. Do vậy, việc
phân loại chi phí sản xuất là yêu cầu tất yếu cho công tác quản lý cũng nh công tác
kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp một cách chính
xác. Có nhiều các phân loại chi phí, mỗi cách đều đáp ứng đợc ít nhiều cho mục
đích quản lý và công tác kế toán. Tuỳ theo mục đích quản lý mà ta lựa chọn các tiêu
thức phân loại cho phù hợp.
1.2.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố (theo nội dung và tính chất kinh tế của
chi phí)
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất bao gồm các chi phí sản xuất có tính chất, nội
dung kinh tế giống nhau, do đó không cần xét đến chi phí đó phát sinh ở địa điểm
nào và dùng làm gì. Căn cứ vào tiêu thức này thì toàn bộ chi phí sẽ bao gồm các yếu
tố sau:
7
Chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu, công cụ dụng cụ (ván khuôn, giàn giáo,
dụng cụ bảo hộ lao động...)
Chi phí về khấu hao máy móc thiết bị
Chi phí dịch vụ thuê ngoài
Chi phí bằng tiền khác
Chỉ những chi phí gắn liền với quá trình hoạt động sản xuất của đội sản xuất,
phân xởng mới đợc xếp vào loại này.
Chi phí sản xuất chung kết hợp với chi phí nhân công trực tiếp gọi là chi phí
chuyển đổi. Chi phí nhân công trực tiếp kết hợp với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
gọi là chi phí ban đầu.
Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất
theo định mức, công tác kế hoạch hoá, phân tích và đánh giá sản phẩm theo khoản
mục, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá thành.
Ngoài hai cách phân loại còn có các phơng pháp phân loại chi phí khác nh:
- Phân loại chi phí theo quan hệ giữa chi phí sản xuất và qui mô sản xuất.
Theo cách phân loại này thì chi phí đợc chia thành chi phí cố định và chi phí biến
đổi.
- Phân loại chi phí thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
- Phân loại chi phí theo chi phí thời kỳ và chi phí sản phẩm...
Nh vậy, mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa riêng, phục vụ cho
từng đối tợng quản lý và từng đối tợng cung cấp thông tin cụ thể, nhng chung luôn
bổ sung cho nhau nhằm quản lý có hiệu quả nhất về toàn bộ chi phí sản xuất phát
sinh trong phạm vi từng doanh nghiệp trong thời kỳ nhất định.
1.2.3. Giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.3.1 Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản
xuất theo số lợng và loại sản phẩm đã hoàn thành.
9
Giá thành sản phẩm xây lắp là những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất
lợng hoạt động sản xuất, quản lý của doanh nghiệp, kết quả của sử dụng các loại vật
đơn giá xây dựng cơ bản hiện hành. Thông qua tổng dự toán công tác xây lắp (Zdt)
chúng ta có thể đánh giá đợc thành tích của doanh nghiệp. Nó là hạn mức chi phí ca
nhất mà doanh nghiệp có thể chi ra để đảm bảo có lãi, là tiêu chuẩn phấn đấu hạ
định mức thực tế. Giá thành dự toán công tác xây lắp là căn cứ để kế hoạch hoá giá
10
thành công tác xây lắp và vạch ra các biện pháp tổ chức kinh tế kỹ thuật nhằm đảm
bảo nhiệm vụ hạ giá thành công tác xây lắp đợc giao.
Trong điều kiện hiện nay, để thi công xây lắp một công trình thì các đơn vị
xây dựng đợc tham gia đấu thầu. Đơn vị thắng thầu là đơn vị xây dựng giá đấu thầu
công tác xây lắp hợp lý, đảm bảo chất lợng thi công công trình. Do vậy, trong giá
thành dự toán của từng công trình, hạng mục công trình còn có 2 loại giá thành là:
- Giá thành đấu thầu công tác xây lắp (Zdt): Giá thành đấu thầu công tác xây
lắp đợc hình thành từ cơ chế quản lý bằng cách đấu thầu trong xây dựng. Đây cũng
là một loại giá thành dự toán công tác xây lắp do chủ đầu từ đa ra để các tổ chức xây
lắp căn cứ vào đó mà tình toán Giá thành dự thầu công tác xây lắp của mình. Nếu
nh thấy giá thành của mình bằng hoặc thấp hơn giá thành do chủ thầu đa ra thì sẽ
tham gia đấu thầu thi công xây lắp công trình.
- Giá thành hợp đồng công tác xây lắp: Giá thành hợp đồng là một loại giá
thành dự toán công tác xây lắp ghi trong hợp đồng đợc ký kết giữa chủ đầu t và tổ
chức xây lắp sau khi đã thoả thuận giao nhận thầu. Đây cũng là giá thành của tổ
chức xây lắp thắng thầu trong khi đấu thầu và đợc chủ đầu t thoả thuận ký hợp đồng
giao thầu (giá thành dự thầu công tác xây lắp của tổ chức xây lắp trúng thầu).
Giá thành kế hoạch công tác xây lắp (Zkh):
Giá thành kế hoạch công tác xây lắp là một loại giá thành dự toán công tác
xây lắp đợc xác định từ những điều kiện cụ thể trong thời kỳ kế hoạch nhất định.
Giá thành kế hoạch công tác xây lắp khác với giá thành dự toán xây lắp là đ-
ợc lập ra không dựa vào định mức dự toán mà dựa vào những định mức chi phí nội
bộ của tổ chức xây lắp hoặc của công trình. Về nguyên tắc, định mức nội bộ này
phải tiên tiến hơn định mức dự toán. Vì vậy giá thành kế hoạch công tác xây lắp chỉ
đợc bằng hoặc nhỏ hơn giá thành hợp đồng (Zhđ >=Zkh) nên giá thành kế hoạch là
Nh vậy có thể thấy, xuất phát từ những đặc điểm của sản phẩm xây dựng cơ
bản là có giá trị lớn, thời gian xây dựng dài, có thể đáp ứng yêu cầu quản lý về chi
phí sản xuất và giá thành, trong doanh nghiệp xây dựng, giá thành công tác xây lắp
còn đợc theo dõi trên hai chỉ tiêu: giá thành khối lợng hoàn chỉnh và giá thành khối
lợng hoàn thành qui ớc.
Giá thành khối lợng hoàn chỉnh là giá thành của công trình, hạng mục công
trình đã hoàn thành, đảm bảo kỹ thuật và chất lợng đúng thiết kế và hợp đồng, bàn
giao và đợc bên chủ đầu t nghiệm thu và chấp nhận thanh toán. Chỉ tiêu này cho
phép tính toán, đánh giá một cách tổng quát hiệu quả kinh tế vốn đầu t cho một
công trình, hạng mục công trình nhng lại không đáp ứng đợc kịp thời các số liệu cần
12
thiết cho việc quản lý sản xuất và giá thành trong suốt quá trình thi công công trình.
Do đó, để đáp ứng đợc yêu cầu quản lý và đảm bảo chỉ đạo sản xuất kịp thời đòi hỏi
phải xác định giá thành khối lợng xây lắp hoàn thành qui ớc.
Giá thành khối lợng hoàn thành qui ớc là giá thành của các khối lợng xây lắp
mà các khối lợng xây lắp đó phải đảm bảo thoả mãn các điều kiện sau:
- Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lợng kỹ thuật.
- Phải đợc xác định cụ thể và đợc chủ đầu t nghiệm thu và chấp nhận thanh
toán.
- Phải đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý.
Giá thành khối lợng xây lắp hoàn thành qui ớc phải phản ánh kịp thời chi phí
cho đối tợng xây lắp trong quá trình thi công xây lắp, từ đó giúp cho doanh nghiệp
phân tích kịp thời các chi phí đã chi ra cho từng đối tợng để có biện pháp quản lý
thích hợp, cụ thể. Nhng chỉ tiêu này lại phản ánh không toàn diện, chính xác giá
thành toàn bộ công trình, hạng mục công trình. Do đó, trong việc quản lý giá thành
đòi hỏi phải sử dụng cả hai chỉ tiêu trên để đảm bảo quản lý giá thành đợc kịp thời,
chính xác, toàn diện và hiệu quả.
1.2.4. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.4.1. Đối tợng tập hợp chi phí trong doanh nghiệp xây lắp :
Đối với ngành xây dựng cơ bản đối tợng tập hợp chi phí sản xuất có thể là:
1.2.4.3. Kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến hành
công việc tính giá thành cho các đối tợng tính giá thành. Xác định kỳ tính giá thành
thích hợp sẽ giúp cho việc tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm đợc hợp lý,
khoa học, đảm bảo cung cấp số liệu về giá thành thực tế của các sản phẩm lao vụ kịp
thời, phát huy đầy đủ chức năng giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành
sẩn phẩm của kế toán.
14
Để xác định kỳ tính giá thành thích hợp, kế toán phải căn cứ vào đặc điểm tổ
chức sản xuất sản phẩm và chu kỳ sản xuất sản phẩm. Căn cứ vào đặc điểm riêng
của ngành xây dựng cơ bản nên kỳ tính giá thành trong xây dựng cơ bản thờng là:
- Đối với các loại sản phẩm mà đợc sản xuất liên tục, cung cấp cho những đối
tợng khác liên tục, chu kỳ sản xuất ngắn nh: gạch, ngói, vôi... thì kỳ tính giá thành
thơng là 1 tháng.
- Đối với những sản phẩm, đơn đặt hàng có thời gian sản xuất thi công dài,
công việc đợc coi là hoàn thành khi kết thúc mọi công việc đợc coi là hoàn thành
trong đơn đặt hàng thì khi hoàn thành toàn bộ đơn đặt hàng mới tính giá thành thực
tế của đơn đặt hàng đó.
- Với những công trình, hạng mục công trình thì kỳ tính giá thành là thời gian
mà sản phẩm xây lắp đợc coi là hoàn thành và đợc nghiệm thu, bàn giao thanh toán
cho chủ đầu t.
- Đối với những công trình lớn hơn, thời gian thi công dài hơn, chỉ khi nào có
một bộ phận công trình hoàn thành có giá trị sử dụng đợc nghiệm thu, bàn giao thì
lúc đó doanh nghiệp tính giá thành thực tế của bộ phận đó.
- Đối với những công trình xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị có thời gian
thi công nhiều năm mà không tách ra đợc từng bộ phận công trình nhỏ đa vào sử
dụng thì từng phần việc xây lắp đặt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý, theo thiết kế kỹ
thuật có ghi trong hợp đồng thi công sẽ đợc bàn giao thanh toán thì doanh nghiệp
xây lắp tính giá thành thực tế cho khối lợng bàn giao.
Ngoài ra với công trình lớn, thời gian thi công dài, kết cấu phức tạp... thì kỳ
xác định nh sau:
H =
T
C
Trong đó : H: Hệ số phân bổ chi phí
C: Tổng chi phí cần phân bổ
T: Tổng đại lợng của tiêu thức phân bổ của các đối tợng
16
- Tính mức phân bổ chi phí cho từng đối tợng
Ci = H x Ti
Trong đó : Ci: chi phí phân bổ cho từng đối tợng i
H: Hệ số phân bổ chi phí
Ti: đại lợng của tiêu thức phân bổ của đối tợng i
Kế toán chi phí sản xuất theo hệ thông kế toán hiện hành
Tuỳ vào điều kiện cụ thể và yêu cầu của quản lý của mình mà doanh nghiệp
lựa chọn 2 phơng án hạch toán:
- Phơng pháp kê khai thờng xuyên
- Phơng pháp kiểm kê định kỳ
1.2.5.1. Kế toán chi phí sản xuất trong trờng hợp doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng
tồn kho theo phơng pháp kê khai thờng xuyên
* Tài khoản sử dụng (trong doanh nghiệp xây lắp)
- Tài khoản 621 chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Tài khoản này phản ánh
toàn bộ hao phí về nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, năng lợng, động lực... dùng
trực tiếp cho sản phẩm xây dựng hay lắp đặt các công trình. Tài khoản 621 đợc mở
chi tiết theo từng công trình xây dựng, lắp đặt (công trình, hạng mục công trình, các
giai đoạn công việc, khối lợng xây lắp có dự toán riêng).
- Tài khoản 622 chi phí nhân công trực tiếp: Tài khoản này phản ánh toàn
bộ chi phí về tiền công và các khoản phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp
(BHXH, BHYT, KPCĐ). Tài khoản này cũng đợc mở chi tiết theo từng hạng mục
công trình, giai đoạn công việc...
x Tn
Trong đó:
Cn: Chi phí phân bổ cho đối tợng n
C: tổng chi phí đã tập hợp cần phân bổ
T: tổng tiêu chuẩn dùng để phân bổ
Tn: tiêu chuẩn phân bổ của đối tợng n
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp đợc qui nạp trực tiếp
18
- Chi phí nguyên vật liệu liên quan đến nhiều đối tợng kế toán tập hợp chi phí
sản xuất khác nhau trong thời kỳ tiến hành phân bổ.
Tổng CP
NVLTT phải
phân bổ
trong kỳ
=
Giá trị thực tế
của các loại
NVLTT đã
xuất trong kỳ
-
Giá trị phế
liệu thu hồi
(nếu có)
-
Trị giá
VNL
Dùng
không
hết cuối kỳ
Tiêu chuẩn phân bổ cần lựa chọn thích hợp nh đối tợng với vật liệu chính th-
NVLTT chờ
phân bổ dần
Phế liệu thu hồi, VL không dùng hết nhập kho
Tiêu chuẩn phân bổ thích hợp đối với tiền lơng có thể phân bổ theo chi phí
nhân công trực tiếp định mức hay theo giờ công lao động: BHXH, BHYT, KPCĐ
tính theo tỷ lệ % qui định trên tổng số tiền lơng đã tính cho từng đối tợng.
Sơ đồ 1.2
Trình tự hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
* Kế toán chi phí sử dụng máy thi công:
Chi phí sử dụng máy thi công là những chi phí là những chi phí sử dụng xe,
máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp của đơn vị.
Để tập hợp chi phí sử dụng máy thi công, kế toán sử dụng TK623 chi phí sử
dụng máy thi công.
Kết cấu và nội dung của tài khoản 623:
Bên nợ : các chi phí liên quan đến máy thi công
Bên có: kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vào bên nợ TK154
TK 623 không có số d cuối kỳ
21
TK 334
TK 335
TK 338 (3382,3383,3384)
TK 622 TK 154
Tiền lương phải trả CNV
Trích trước tiền lương nghỉ
phép của CNV sản xuất
Các khoản trích BHXH
BHYT, KPCĐ
K/c chi phí NCTT để
tính giá thành sản phẩm
TK 623 chỉ sử dụng đối với doanh nghiệp xây lắp. Thực hiện xây lắp công
Thuế GTGT được
khấu trừ (nếu có)
TK 133
+ Chi phí khấu hao có thể phân bổ theo giờ máy hoạt động
+ Chi phí thuê ngoài nh tiền điện sẽ đợc phân bổ theo giờ máy hoạt động và
công suất thiết bị...
Sơ đồ số 1.4
Trình tự hạch toán chi phí sản xuất chung
* Trình tự tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phơng pháp kê
khai thờng xuyên:
TK154 Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đợc mở chi tiết theo từng đối
tợng tập hợp chi phí sản xuất. Các doanh nghiệp xây lắp thì thông thờng có thể mở
chi tiết theo từng đội sản xuất, từng công trình xây dựng, từng công trình hoặc hạng
mục công trình...
23
TK 334,338
TK 152,153(142)
TK 214
TK 627(1-8) TK 154
Chi phí nhân viên
đội công trình
Chi phí vật liệu
công cụ, dụng cụ
Chi phí KHTSCĐ
TK 331,141
Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 627
TK 154 TK 138,152,153,155
Kết chuyển CPNVLTT
Kết chuyển CPNCTT
Kết chuyển CPSX chung
Giá thành khối lượng
xây lắp
hoàn thành bàn giao
Sdk:xxx
Giá trị VL lại nhập kho
giá trị sản phẩm
hỏng không sửa
chữa được
TK 632
Sck:xxx
giá nguyên vật liệu, hàng xuất dùng trong kỳ. Khi đó, các tài khoản hàng tồn kho
đầu kỳ và cuối kỳ. Trên các tài khoản này không phản ánh trực tiếp các nghiệp vụ,
xuất hàng hoá, sản phẩm, vật liệu.
Các nghiệp vụ mua hàng, vật liệu trong kỳ phản ánh trên TK611. Sau khi
kiểm kê xác định đợc giá trị hàng hoá, nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ thì:
Trị giá
NVL
hàng hoá
xuất dùng
trong kỳ
=
Trị giá
Kết chuyển CPSX
dở dang đầu kỳ
Kết chuyển CP NVLTT
Kết chuyển CP NCTT
Giá thành SXSPXL thực
tế hoàn thành trong kỳ
TK 623
TK 627
Kết chuyển CP sử dụng
máy thi công
Kết chuyển CP SX
CHUNG
TK 155
TK 632
TK 138(8)
Kết chuyển CPSX
dở dang cuối kỳ
Phế liệu thu hồi
Tiền bồi thờng