BỆNH GÚT NHỮNG ĐIỂM THEN CHỐT
TRONG CHẨN ĐOÁN
(Kỳ 2)
LÂM SÀNG
A. Triệu chứng cơ năng và thực thể:
Viêm khớp cấp có những đặc điểm là khởi phát đột ngột, thường vào ban
đêm, có thể có các yếu tố thúc đẩy gây thay đổi đột ngột nồng độ acid uric máu
như ăn hoặc uống rượu quá nhiều, phẫu thuật, nhiễm khuẩn, dùng thuốc lợi tiểu,
hóa chất (chẳng hạn meglumine, Urografin) hoặc do dùng các thuốc tăng đào thải
acid uric qua thận. Thường gặp nhất là viêm khớp bàn ngón chân cái. Một số khớp
khác cũng rất hay bị ảnh hưởng, đó là các khớp ở bàn chân, cổ chân, khớp gối.
Khớp háng, khớp vai hiếm khi bị tổn thương trong bệnh gút. Đôi khi cũng có
những bệnh nhân gút cấp có viêm vài khớp.
Trong những trường hợp như vậy, viêm khớp thường không có tính chất
đối xứng. Khi viêm khớp tiến triển, đau thường trở nên dữ dội. Khớp viêm sưng
to, mềm, da căng bóng, nóng và có màu đỏ thẫm. Bệnh nhân thường có sốt, có thể
tới 39°C (102,2°F). Hiện tượng bong vảy da và ngứa là một dấu hiệu khá đặc biệt
song không phải bao giờ cũng có. Các hạt tophi có thể tìm thấy ở vành tai, bàn tay,
bàn chân, mỏm khuỷu và kén hoạt dịch trước xương bánh chè. Những hạt tophi
này thường chỉ xuất hiện sau vài đợt viêm khớp cấp.
Giai đoạn không triệu chứng có thể kéo dài hàng tháng hoặc hàng năm
sau cơn cấp đầu tiên. Sau đó tình trạng viêm khớp trở nên mạn tính, dần dần dẫn
đến mất hoàn toàn chức năng vận động. Khớp có thể bị biến dạng nặng do các hạt
tophi. Lúc này biểu hiện viêm có thể hết hoặc vẫn còn.
B. Xét nghiệm:
Acid uric máu thường tăng (> 7,5 mg/dl) trừ khi đã dùng các thuốc hạ acid
uric. Trong giai đoạn cấp, tốc độ lắng máu và số lượng bạch cầu thường tăng. Xét
nghiệm tổ chức chọc từ các hạt tophi sẽ thấy các tinh thể sodium urat điển hình và
cho phép chẩn đoán. Để chắc chắn thêm chẩn đoán, có thể tìm các tinh thể acid
uric trong các tiêu bản ướt lấy từ dịch chọc khớp soi dưới kính hiển vi phân cực có
bù. Những tinh thể này có đặc tính khúc xạ kép âm tính và là những tinh thể hình
huyết thanh khi giảm xuống đột ngột thường phát động những cơn viêm khớp cấp
mới.
1. Các thuốc chống viêm không steroid:
Các thuốc chống viêm giảm đau không steroid là những thuốc đã được
lựa chọn để điều trị gút cấp tính. Cổ điển thường dùng Indomethacin, song các
thuốc chống viêm không steroid khác cũng có hiệu quả tương tự.
Indomethacin thường được bắt đầu với liều 25-50 mg mỗi 8 giờ và tiếp tục
cho đến khu hết các triệu chứng (thường 5-10 ngày). Chống chỉ định dùng các
thuốc chống viêm không steroid gồm loét dạ dày tá tràng đang tiến triển, suy thận,
tiền sử dị ứng với những thuốc này.
2. Colchicin:
Colchicin cũng rất có hiệu quả trong điều trị gút cấp song ít được ưa dùng
hơn, bởi vì có tới 80% bệnh nhân dùng thuốc bị trướng bụng, ỉa chảy, buồn nôn
hoặc nôn. Người ta cho rằng colchicin ức chế hiện tượng hóa ứng động, ngăn cản
phản ứng viêm đối với tinh thể urat, do vậy nó rất có tác dụng khi dùng trong
những giờ đầu bị bệnh.
Liều dùng 0,5-0,6 mg, uống cứ mỗi giờ một lần cho đến khi đau giảm hoặc
khi có hiện tượng buồn nôn hoặc ỉa chảy phải ngừng thuốc. Tổng liều dùng là 4-6
mg, không nên vượt quá 8mg. Những tác dụng phụ ở đường tiêu hóa có thể giảm
khi dùng colchicin bằng đường tĩnh mạch với liều ban đầu 1-2 mg pha trong 10-20
ml dung dịch muối sinh lý. Tuy nhiên, dùng colchicin tĩnh mạch rất hạn chế bởi vì
thuốc có thể gây những tác dụng phụ nặng, đó là đau tại chỗ tiêm, hoại tử tổ chức
do thuốc ra khỏi tĩnh mạch lúc tiêm, ức chế tủy xương, đông máu nội mạch lan tỏa
và tử vong. Liều dùng tĩnh mạch mỗi lần không nên quá 2-3 mg, tổng liều không
vượt quá 4mg, ngoài ra không dùng thêm colchicin uống trong vòng 3 tuần. Liều
lượng phải giảm xuống ở những bệnh nhân bệnh thận, bệnh gan hoặc bệnh nhân
lớn tuổi.
Chống chỉ định dùng colchicin tĩnh mạch cho những bệnh nhân có bệnh
gan thận phối hợp. Người ta cũng không dùng colchicin tĩnh mạch khi có thể dùng
thuốc bằng đường uống. Colchicin uống không nên sử dụng cho những bệnh nhân