Giáo trình Miễn dịch học thú y - Chương 10 potx - Pdf 16


127
Chương 10
MIỄN DỊCH TRONG BỆNH LÝ
I. Miễn dịch trong nhiễm vi khuẩn
1- Miễn dịch không đặc hiệu
Sự phòng vệ đầu tiên của cơ thể chống lại vi khuẩn không phụ thuộc
vào sự nhận biết kháng nguyên và hàng rào bảo vệ đầu tiên của cơ thể bao
gồm: hàng rào vật lý, hàng rào hóa học, hàng rào tế bào.
1.1. Hàng rào vật lý:
Da và biểu mô: Da là hàng rào bảo vệ đầu tiên của cơ thể, nhiều vi
khuẩn không thể thấm qua da để xâm nhập vào cơ thể. Mặt khác, các acid
béo do da tiết ra có khả năng tiêu diệt nhiều loại vi khuẩn. Nhiều vi khuẩn bị
đẩy ngược ra ngoài bởi chuyển động của lớp lông mao trên bề mặt của biểu
mô. Nhiều vi khuẩn bị tiêu diệt bởi môi trường acid trong dạ dày và âm đạo.
Biểu mô của âm đạo tiết ra glycogen là nguồn sản xuất ra acid lactic, đồng
thời là nguồn dinh dưỡng của các vi khuẩn hội sinh. Các vi khuẩn hội sinh
có khả năng chống lại sự xâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh bằng cách tiết
ra colicins là những protein chống vi khuẩn. Vì vậy, khi các vi khuẩn hội
sinh trong âm đạo bị huỷ diệt thì cơ thể rất dễ bị nhiễm các bệnh do Candida
và Clostridium difficile gây nên.
1.2. Hàng rào hóa học:
Lysozyme: Lysozyme có trong mô bào và hầu hết các chất dịch
trong cơ thể (trừ dịch não-tuỷ sống, mồ hôi và nước tiểu). Lysozyme không
có trong neutrophil của bò nhưng có nhiều trong nước mắt và trong lòng
trắng trứng. Lysozyme tách các acylaminopolysaccharides vỏ capsule c
ủa
1 số vi khuẩn gram dương nên có khả năng tiêu diệt chúng. Lysozyme có thể
kết hợp với bổ thể để tiêu diệt 1 số vi khuẩn gram âm. Lysozyme có nhiều
trong lysosome của tế bào đa nhân trung tính nên nó xuất hiện nhiều ở
những ổ viêm cấp tính. Độ pH thích hợp cho hoạt động của lysozyme là pH

những hợp chất có khả năng lấy sắt (mycobactin và enterochelin) từ máu để
cung cấp cho chúng. Trong những tình trạng bệnh lý có hàm lượng sắt trong
máu cao như trong thiếu máu do dung giải hemoglobulin gia súc thường
mẫn cảm với các bệnh truyền nhiễm hơn.
Bổ thể: Rất nhiều thành phần của vi khuẩn được cơ thể nhận biết

129
bởi các phần tử có sẵn trong huyết thanh hoặc các thụ thể trên tế bào mà
không cần có sự tham gia của các tế bào T và B. Sự nhận biết này dẫn đến sự
hoạt hoá các yếu tố của bổ thể C3, B, D, P và sau đó là tiết ra C3a và C5a,
hoạt hoá các bạch cầu trung tính, đại thực bào và tế bào NK, kích thích gây
tiết ra cytokines, biệt hoá tế bào mast, dẫn đến tăng lưu lượng máu, tăng độ
kết dính của tế bào và fibrin vào tế bào nội mạc.
* Hoạt hoá bổ thể. Sự hoạt hoá bổ thể có thể dẫn đến:
+ Tiêu diệt 1 số vi khuẩn , đặc biệt là các vi khuẩn có màng lipid
(gram âm).
+ Tiết ra C3a và C5a, dẫn đến tăng co cơ trơn , biệt hoá tế bào mast,
hoạt hoá các bạch cầu trung tính, tiết ra histamine và leukotrien (LTB4) làm
tăng tính thấm thành mạch, opsonin hóa vi khuẩn bằng sự gắn vi khuẩn
với C3 là bước quan trọng chuẩn bị cho quá trình thực bào.
* Sự sản sinh cytokine của đại thực bào. Sự sản sinh cytokine , đặc
biệt là TNF và IL-1 của đại thực bào sẽ làm hoạt hoá các tế bào thực bào,
tăng khả năng bám dính vào nội mạc thành mạch, dẫn đến tăng khả năng di
chuyển đến ổ viêm của tế bào thực bào. Người ta đã biết rằng tại đây có một
loạt các yếu tố hóa ứng động làm tăng khả năng di động của các tế bào.
* Sự sản sinh cytokine của tế bào NK. Khi các tế bào NK được kích
thích bởi IL-12 hoặc TNF, chúng có thể sản sinh ra IFN-gamma.
IFN-gamma có tác dụng trở lại làm hoạt hoá và phát huy vai trò của đại thực
bào.
1.3. Hàng rào tế bào

* Cơ chế phụ thuộc vào oxy.
- Reactive oxygen intermediates ROIs .
Enzyme củ
a tế bào thực bào phân huỷ oxy thành superoxide anion
(O
2
-
) (a reactive oxygen intermediates ROIs). Superoxide anion (O
2
-
) sẽ tạo
ra những ROIs khác (hydroxyl radicals -OH, singlet oxygen and hydrogen
peroxide), tất cả những sản phẩm này rất độc đối với vi khuẩn .
Nếu có mặt của peroxidase, hợp chất độc giống chất tẩy sẽ được tạo

131
ra và hợp chất này cũng rất độc đối với vi khuẩn.
- Reactive nitrogen intermediates RNIs. Dưới tác dụng của
IFN-gamma và TNF rất nhiều NO - một sản phẩm rất độc đối với vi khuẩn
và tế bào u được tạo ra.
*Cơ chế không phụ thuộc vào oxy.
- Tác dụng của những protein có khả năng tiêu diệt vi khuẩn.
Đó là những cationic peptide giàu cystein và arginin cấu tạo từ
30-33 axit amin , chiếm 30-50% protein có trong hạt của đại thực bào thỏ và
bạch cầu đa nhân trung tính người. Những vi khuẩn bị tiêu diệt theo cách
này là: Staphylococcus aureus , Pseudomonas aeruginosa , E. coli,
Cryptococcus neoformans. pH thích hợp nhất cho các peptid này là 7,0 nên
có lẽ tác dụng của chúng mạnh nhất là ở thời điểm sau khi tạo thành
phagolysosome.
- Một vài cơ chế khác.

được nghiên cứu kỹ nhất là những protein sốc nhiệt (heat shock protein
HSP). Trong diều kiện nhiệt độ bình thường HSP có trong vi khuẩn với
nồng độ rất thấp nhưng khi nhiệt độ tăng cao như khi có sốt thì nồng độ HSP
tăng cao. Ví dụ nó có thể tăng từ 1,5% lên 15% tổng protein có trong
stressed E. coli. HSP làm tăng khả năng chịu nhiệt của tế bào hay vi khuẩn
giúp cho VK có thể hoạt động trong điều kiện nhiệt độ cao. Có 3 loại HSP
chính: HSP 90, HSP 70 và HSP 60. sau khi vi khuẩn bị thực bào và bắt đầu
chịu sự tác dụng của quá trình bùng nổ hô hấp trong bạch cầu trung tính thì
HSP 60 của vi khuẩn bắt đầu được tiết ra và đóng vai trò như 1 kháng
nguyên chính. HSP 60 thường được tiết ra khi bị nhiễm khuẩn với
Mycobacterium, Coxiella burnetii, Legionella, Treponema, Borelia. Kháng
thể chống HSP 70 thường thấy có ở bệnh nhân bị malaria, schistosomiasis,
trypanosomiasis, filariasis và leishmaniasis. HSPs thường có tính kháng
nguyên mạnh vì chúng được sản xuất ra với một số lượng lớ
n trong cơ thể
bệnh, chúng được chế biến bởi các tế bào trình diện kháng nguyên.
Hệ thống miễn dịch thường có một số lượng rất lớn các tế bào có
khả năng đáp ứng lại các kích thích của HSP.
Đôi khi đáp ứng miễn dịch chống lại HSP đóng vai trò chính trong

133
miễn dịch chống lại vi khuẩn.
2- Miễn dịch đặc hiệu
2.1. Miễn dịch dịch thể.
Kháng thể có vai trò hết sức quan trọng trong việc chống lại tác hại
của độc tố do các vi khuẩn tiết ra. Kháng thể trung hoà độc tố diphtheria
bằng cách ngăn cản sự gắn kết của độc tố với các tế bào trong cơ thể vật chủ.
Kháng thể IgA chủ yếu do các màng nhầy tiết ra có khả năng ngăn
cản sự bám dính và xâm nhập của vi khuẩn vào các tế bào biểu mô. Một số
kháng thể có khả năng cản trở 1 số hoạt động sống (ví dụ như cản trở quá

3- Cơ chế né tránh đáp ứng miễn dịch của vi khuẩn
3.1. Một số vi khuẩn có khả năng tránh được tác dụng của bổ thể thông qua
một trong những cơ chế sau:
a- Một số vi khuẩn có vỏ (capsule) bao boc bên ngoài nên có khả
năng tránh được tác dụng của bổ thể.
b- Co màng ngoài lại sao cho receptor của bổ thể của tế bào thực bào
không thể gắn được với C3b. Kháng nguyên O trong LPS của 1 số vi khu
ẩn
có cấu tạo là những chuỗi dài nên có khả năng gắn với C3b tại những vị trí
xa màng lipid bên ngoài nên receptor của bổ thể không thể tiếp xúc được.
c- Màng ngoài của 1 số vi khuẩn có khả năng làm trệch sự tiếp xúc
của phức hợp phân giải của màng tế bào thực bào.
Hình 38. Các giai đoạn
của quát trình thực bào
Hình 39.
Hình 39. Quá trình opsonin hóa vi khuản
bởi kháng thể và bổ thể
(Theo
Ian R. Tizard. 2004)
Bám dính
Hóa ứng động

phát triển trong tế bào thực bào đã bị tổn thương, hoặc có khả năng thoát ra
khỏi phagosome để di chuyển vào tương bào.

Tóm lại: Cơ thể có 4 cơ chế chính chống lại vi khuẩ
n:
a- Trung hoà độc tố hoặc enzyme bằng kháng thể.
b- Tiêu diệt vi khuẩn bằng kháng thể, bổ thể và lysozyme.
c- Opsonin hóa vi khuẩn bằng kháng thể và bổ thể dẫn đến quá trình

136
thực bào hoặc phá vỡ vi khuẩn.
d-Thực bào và tiêu diệt vi khuẩn trong các đại thực bào đã được hoạt
hoá.
II. Miễn dịch trong nhiễm virus
Virus là loại sinh vật nội bào. Về cấu trúc, chúng chỉ gồm có vỏ bọc và
nhân (ARN hoặc ADN). Muốn sống và nhân lên, chúng phải tồn tại trong
các tế bào khác, sử dụng acid nucleic cùng với bộ máy tổng hợp protein của
tế bào túc chủ. Để xâm nhập vào tế bào, trước tiên chúng phải gắn với các
phân tử có trên bề mặt tế bào đó, ví dụ HIV gắn với phân tử CD4 có trên mặt
các tế bào lympho TCD4, EBV với CR2 có trên lympho B, virus gây sổ mũi
(Rhinovirus) gắn với phân tử bám dính ICAM-1 có trên nhiều loại tế bào,
nhất là tế bào biểu mô niêm mạc mũi.
Sau khi vào được tế bào, nhân của virus tích hợp với nhân của tế bào
túc chủ và gây bệnh theo các phương thức sau:
- Virus nhân lên và phá vỡ tế bào, lan sang tế bào khác, có thể lại ly
giải tế bào và bệnh phát triển.
- Chúng nằm tiềm ẩn trong tế bào túc chủ, làm tế bào sản xuất những
protein lạ, gây đáp ứng miễn dịch dẫn đến tổn thương tế bào hoặc gây
chuyển biến tế bào túc chủ thành tế bào ác tính. Đó là hình thức hoạt động
của một số vi rút sinh u.

vào tế bào. Các IgM và sau đó là IgG sẽ gắn với các protein của vỏ nhân
hoặc bao ngoài virus, ngăn cản chúng bám dính và đi vào tế bào túc chủ.
Kháng thể IgA tiết có tác dụng ngăn chặn sự tấn công của virus theo đường
niêm mạc. Nói chung, kháng thể dịch thể trong một số trường hợp chứng tỏ
có hiệu quả. Vì vậy, một số vaccine thực sự có ý nghĩa trong phòng chống
bệnh như vaccine bại liệt.
Tuy vậy, với nhiều loại virus khác, kháng thể dịch thể không có tác dụng,
mà cơ chế chính lại là vai trò của miễn dịch tế bào mà chủ yếu là tế bào
lympho độc Tc. Các Tc mang d
ấu ấn CD8 nhận biết kháng nguyên virus
trong sự kết hợp với phân tử MHC lớp I, hầu hết các tế bào trong cơ thể đều
mang dấu ấn này. Tc có tác dụng ly giải tế bào nhiễm, kích thích các enzyme,
cytokine hoạt động như interferon, hạn chế sự xâm nhập hoặc tiêu diệt virus.

138
Nhưng chính cơ chế này trong một số trường hợp, virus không gây độc tế
bào mà vẫn có tổn thương mô. Tc ly giải mạnh các tế bào bị nhiễm gây ra
những đám hoại tử lớn. Điển hình là bị nhiễm virus viêm gan B. Bản thân
virus không phá hủy tế bào gan bị nhiễm, nhưng tùy theo mức độ phản ứng
miễn dịch của cơ thể mà có thể có những thể bệnh khác nhau. Khi có hoại tử
lan tràn thì cơ thể ở thể tối cấp hay cấp. Khi hoại tử xảy ra dần dần, kéo dài
cộng thêm xuất hiện tự kháng thể và tổ chức xơ thì có thể viêm gan mạn tính.
Trong trường hợp đáp ứng miễn dịch vừa đủ để tiêu diệt được virus mà hồi
phục được tổn thương thì cơ thể lành bệnh, không bị biến chứng.
Nhiều trường hợp, sự phối hợp cả 2 cơ chế dịch thể và tế bào là
nguyên nhân của trạng thái bệnh lý nặng nề như trong sốt xuất huyết dengue.
Kháng thể opsonin hóa, bổ thể tạo thuận lợi cho thực bào, nhưng đó lại là
điều kiện thuận lợi cho virus tiếp cận và vào tế bào thực bào (đại thực bào)
thông qua FcR và CR của đại thực bào, đồng thời tế bào nhiễm lại trở thành
đối tượng của Tc. Sự dung giải các thực bào giải phóng ra các cytokine và

III.
Miễn dịch chống ký sinh trùng
1. Miễn dịch không đặc hiệu
Ký sinh trùng có thể xâm nhập vào cơ thể theo đường da, niêm mạc hay
đường máu. Trong cơ thể, trước hết chúng sẽ gặp phải các thành phần của
miễn dịch không đặc hiệu, đó là bổ thể và các tế bào thực bào. Nhưng nhìn
chung cơ chế bảo vệ không đặc hiệu ít giá trị và phương thưc bảo vệ chủ yếu

Hình 40. Cơ chế tăng sản xuất interferon và phương thức bảo vệ
tế bào khỏi bị nhiễm virus (Theo
Ian R. Tizard. 2004)
Hình 41. Miễn dịch chống virus (Theo Ian R. Tizard. 2004)

140
dựa vào miễn dịch đặc hiệu.
Bổ thể: Các kháng nguyên ký sinh trùng là tác nhân hoạt hóa bổ thể
theo con đường cạnh, kết quả dẫn đến ly giải ký sinh trùng nhờ phức hợp tấn
công màng. Tuy nhiên cách này ít hiệu quả vì ký sinh trùng có khả năng trút
bỏ những phân tử bề mặt đã gắn bổ thể.
Thực bào: Đại thực bào có thể ăn các ký sinh trùng, nhưng cơ chế
này rất yếu, thường là ký sinh trùng chống được các cơ chế diệt tế bào của

MCP (Major cationic protein) để giết và làm tan ký sinh trùng.
- Một số kháng thể khác có khả năng hoạt hóa bổ thể, opsonin hóa
ký sinh trùng để tăng thực bào, giết ký sinh trùng . Chính vì vậy người ta có
thể truyền thụ động để có miễn dịch đặc hiệu như truyền IgG2 đặc hiệu
schsitosoma để chống schsitosoma trên chuột thử nghiệm; hoặc người ta có
thể nhận IgG từ những người trưởng thành có miễn dịch bền vững sống
trong vùng sốt rét để bảo vệ khỏi nguy cơ bị sốt rét.
- Đại thực bào khi được hoạt hóa cũng có khả năng trực tiếp nuốt và
tiêu ký sinh trùng thông qua các gốc tự do NO và TNF.
- Một số ký sinh trùng gây các u hạt, phát triển nhiều tổ chức xơ: u hạt
xung quanh schsitosoma để chống lại sự bành trướng của ký sinh trùng.

142
2.2. Đáp ứng miễn dịch tế bào
Hình 43. Một vài ảnh hưởng của sự đáp ứng miễn dịch lên các giai
đoạn phát triễn của ký sinh trùng (Theo
Ian R. Tizard. 2004)

144
Trong nhiễm ký sinh trùng, tế bào T CD4 và các cytokine có thể
đóng góp vào việc đẩy lùi bệnh nhưng cũng có thể làm bệnh trầm trọng
thêm. Trong thí nghiệm, khi đại thực bào hoạt hóa, chúng sẽ tăng tạo IFN và

cách này ký sinh trùng chỉ tiếp xúc một cách thoáng qua với hệ miễn dịch và
thoát được sự đề kháng miễn dịch.
- Ký sinh trùng ngụy trang
IV- Miẽn dịch chống ung thư
1. Kháng nguyên ung thư
Người ta đã phát hiện ra các kháng nguyên đặc hiệu của các khối u
của người và cũng đã nhận thấy vai trò của tế bào lympho T trong miễn dịch
chống ung thư. Trong các truờng hợp ung thư, lympho được sản sinh chủ
yếu là lympho T CD4 và một phần là lympho T CD8 đặc hiệu với các tế bào
ung thư tiết ra TNF- α. Boon và các cộng sự (1994) đã phát hiện được một
họ các gen của kháng nguyên ung thư melanoma và gọi là MAGE
(Melanoma associated genes). Cấu trúc peptide tối ưu được sản xuất từ gen
MAGE1 đã được xác định từ dòng tế bào MZ2-E bao gồm 9 acid amin là
một epitop T liên kết với HLA-A1. Các kháng nguyên ung thư dòng B bộc
lộ kháng nguyên CD19 và CD 20, dòng T bộc lộ CD25.
1.2. Khối u do virus gây ra
Rất nhiều khối u thực nghiệm và một số khối u của người do vi rút
ung thư gây ra, dạng virus ARN và ADN, ví dụ virus Epstein-Barr (EBV)
thường phối hợp với ung thư vòm họng. Các virus B gây viêm gan (HBV),
virus C (HCV) cũng có khả năng gây ung thư gan. Ung thư cổ tử cung do
một số dạng papilloma virus của người (HPV 16 và 18). Các retrovirus
HTLV-1 thường tham gia vào ung thư bạch cầu T (leukemia) ở người
trưởng thành. Tần số ung thư tăng rất cao ở các bệnh nhân thiếu hụt miễn
dịch (đối với người ghép mô, bị bệnh AIDS), rất có thể do cơ chế “ Giải kìm
hãm miễn dịch”, (Nossal, 1993).
2. Miễn dịch tự nhiên chống ung thư
Tham gia vào miễn dịch tự nhiên chống ung thư gồm 3 lo
ại tế bào:
- Các tế bào NK: Các tế bào này có khả năng phân hủy in vitro các dòng ung
thư biểu hiện yếu hoặc không biểu hiện các phân tử MHC. Sự tương tác đặc

IL-2, sau đó tiêm trở lại cho người bệnh.
Một nguyên tắc chữa bệnh ung thư khác đang được đánh giá là sử

147
dụng một số dạng phân tử như các dẫn xuất của vitamin A (acid retinoic)
hoặc một số kháng thể cho phép gây ra sự biệt hóa sớm các tế bào ung thư
và từ đó tạo ra quá trình sinh lý phá hủy các tế bào ung thư bằng cơ chế
apoptosis.
Các liệu pháp hóa học và phóng xạ, kết hợp với việc xây dựng lại hệ
thống tạo máu bằng cách cấy ghép các tế bào nguồn (CD34, Thy1) của bản
thân bệnh nhân (ghép cùng nguồn- autograff) cũng đã được ứng dụng.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status