CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG TRONG BỆNH THẬN (Kỳ 4) - Pdf 16

CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG TRONG BỆNH THẬN
(Kỳ 4)
5. Chế độ ăn trong suy thận cấp tính:
Suy thận cấp tính là hội chứng suy giảm đột ngột chức năng bài tiết của
thận mà trước đó bình thường. Việc chẩn đoán nguyên nhân và điều trị triệu chứng
rất quan trọng trong đó có chế độ ăn uống.
Tùy theo giai đoạn của suy thận cấp tính để áp dụng chế độ ăn uống thích
hợp:
* Trong suy thận cấp tính giai đoạn vô niệu:
Nguyên tắc: Đủ năng lượng, đủ glucid, ít protid, ít lipid, ít nước, ít muối,
ít kali.
Cần đưa calo để giảm tối thiểu dị hóa protein.
Ví dụ một người nặng 60kg, khi bị suy thận cấp ở giai đoạn vô niệu, chế độ
ăn cần 1840 Kcal, 350g glucid, 6g protid, 58g lipid và truyền 200-500 ml glucose
20%.
* Trong suy thận cấp tính giai đoạn đái nhiều:
Nguyên tắc: Đủ calo, đủ glucid, ít protid, đủ lipid, nhiều nước, ít hay đủ
muối.
Trong ví dụ trên, giai đoạn này cần cung cấp 2.100 Kcal, 256g glucid, 40g
protid, 79g lipid và Na
+
814mg.
6. Chế độ ăn trong suy thận mạn tính:
Suy thận mạn tính có hội chứng lâm sàng, thể dịch của sự suy giảm chức
năng ngoại tiết và nội tiết của thận xảy ra từ từ, ngày càng nặng và không hồi
phục. Vì thế nó diễn biến từ giai đoạn nhẹ đến giai đoạn cuối với các triệu chứng
rầm rộ của hội chứng urê máu cao.
Trong suy thận mạn tính có sự ứ trệ các sản phẩm của sự thoái giáng
protein như urê, creatinin, acid uric … và một số chất với lượng rất nhỏ như ac.
Guanidinosuccinic, methyl-guanidin, acid phenolic, indol. Có khoảng trên 200
chất có nitơ với lượng bất thường trong suy thận mạn tính.

Việt Nam, chế độ ăn trong điều trị bảo tồn suy thận mạn vừa và nặng cần theo các
nguyên tắc:
- Ít đạm, dùng đạm quý: thịt cá tôm nạc, trứng sữa. Mỗi ngày ăn đạm tương
đương 100g thịt bò tươi hoặc 2 quả trứng. Bổ sung 1 cốc sữa loãng. Suy thận nặng
lên thì thịt cá phải rút bớt.
- Nhiều năng lượng (calo) bằng các chất bột ít đạm như khoai lang, khoai
sọ, khoai tây, bột sắn, miến dong. Có thể ăn nhiều các thứ đó theo khả năng kèm
theo đường, mật ong, mía, quả ngọt, bánh kẹo ngọt. Cơm, mì mỗi bữa chỉ nên ăn 1
bát đầy hoặc 2 bát lưng.
- Dầu, bơ, mỡ không kiêng, ăn đủ để cung cấp năng lượng.
- Ăn rau họ cải, họ bầu bí, ăn quả ngọt, không ăn hoa quả chua.
- Ít mặn, ít bột ngọt khi có phù và tăng huyết áp.
- Nước uống đủ, bằng lượng nước tiểu 24 giờ thêm 500ml.
Thực đơn cụ thể nên chọn theo hướng dẫn sau đây: Cần chế biến cho hợp
khẩu vị, thay đổi món trong ngày và trong tuần.
Ăn bữa sáng (chọn 1 trong những món sau hoặc chế biến tương tự).
1. Hai lát bánh mì có phết bơ đủ ngon kèm 1 cốc nước trà loãng pha đường,
sữa đường loãng hoặc cà phê sữa cho thêm đường.
2. Khoai lang, khoai sọ luộc chấm mật ong kèm 1 cốc trà loãng pha đường.
3. Bánh cuốn nóng 1 đĩa có loáng thoáng thịt ruốc hoặc ít giò lụa thái chỉ và
hành mỡ.
4. Phở có nước béo, loáng thoáng thịt, không mì chính (bột ngọt), có gia vị
và rau thơm.
5. Bún riêu cua, có nước béo, không mì chính (bột ngọt).
Bữa ăn trưa (có thể đổi làm bữa ăn tối).
1. Cơm 1 bát, cơm rang càng tốt.
2. Khoai tây rán, ăn no.
3. Canh cải hoặc các loại mùng tơi, có ít tôm nõn hoặc tôm tươi.
4. Cá nạc 1 lát mỏng hoặc vài lát thịt kho.
5. Tráng miệng bằng quả ngọt.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status