Câu hỏi ôn tập Công pháp quốc tế - 2
10.Cơ sở để công nhận chính phủ Defacto (chính phủ thực tế đó) là hợp pháp
Công nhận trong luật quốc tế hiện đại được hiểu là hành vi pháp lí mang tính
chính trị của quốc gia công nhận, dựa trên ý chí độc lập của các bên công nhận
nhằm thể hiện thái độ của mình đối với đường lối chủ trương chính sách, chế độ
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của quốc gia được công nhận, tạo tiền đề cho
việc thiết lập các quan hệ pháp lí quốc tế, mong muốn thiết lập quan hệ bình
thường với quốc gia được công nhận.
Hình thức công nhận chính phủ Defacto: là hình thức công nhận chính thức nhưng
ở mức độ không đầy đủ & toàn diện có nghĩa là quan hệ với nhau ở một vài lĩnh
vực nào đó.
Việc công nhận quốc gia mới này bao hàm cả việc công nhận chính phủ mới nằm
trong quốc gia đó. Đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên của hai thể loại, song trong sự
trùng lắp đó tồn tại sự đối lập nhau vì quốc gia mới vẫn là một ,nhưng chính phủ
mới có thể thay đổi. Chính phủ mới ra đời có 2 loại:
Ø Chính phủ hợp hiến hợp pháp (chính phủ De Jure) chính phủ này được thành
lập thông qua qui định trong hiến pháp hoặc trong pháp luật quốc gia đó. Những
chính phủ này được thông qua trong việc bầu cử, luật quốc tế hiện đại không đặt ra
việc công nhận chính phủ hợp hiến hợp pháp.(VD: HP Pháp qui định 7 năm bầu
tổng thống một lần, tổng thống không được làm quá 2 nhiệm kỳ)
Ø Chính phủ thực tế (chính phủ De Facto ): chính phủ này được thành lập không
phù hợp với hiến pháp & pháp luật của quốc gia đó ,được thành lập thông qua
cuộc đảo chính, luật quốc tế hiện đại chỉ đặt ra việc công nhận chính phủ De Facto
(VD: 5/ 97 Tướng quân Cavena lật đổ tống thống nước Côngô, làm tống thống
phải tị nạn ở nước ngoài & chết ở nước ngoài)
Công nhận chính phủ mới này không phải là công nhận chủ thể mới của luật quốc
tế mà là công nhận người đại diện “ hợp pháp” cho một quốc gia trong bang giao
quốc tế.
Sự công nhận chính phủ thực tế (CP Defacto) là hợp pháp phải dựa trên những
tiêu chí sau:
v Khác nhau:
ü Về thời điểm Thời điểm gia nhập khác với thời điểm phê chuẩn, phê duyệt. Phê
chuẩn, phê duyệt được thực hiện đối với quốc gia sáng lập ra điều ước quốc tế,
trong thời điểm kí kết điều ước quốc tế theo trình tự thủ tục phức tạp. Gia nhập
điều ước quốc tế chỉ diễn ra trong khi điều ước quốc tế đã phát sinh hiệu lực & chỉ
áp dụng đối với quốc gia chưa là thành viên tham gia ký kết điều ước quốc tế.
ü Về phạm vi: Phê chuẩn, phê duyệt diễn ra cả đối với điều ước quốc tế đa phương
& song phương. Gia nhập điều ước quốc tế chỉ diễn ra đối với điều ước quốc tế đa
phương
ü Về thẩm quyền(điều 32 điêu 44): Thẩm quyền phê chuẩn điều ước quốc tế thuộc
thẩm quyền của cơ quan lập pháp là sự đồng ý chính thức của cơ quan có thẩm
quyền (cơ quan quyền lực tối cao) của nhà nước đó. Thẩm quyền phê duyệt thuộc
thẩm quyền cơ quan hành pháp, thường tiến hành ở cơ quan nhà nước thấp hơn
như Chính phủ, cấp Bộ Gia nhập thì thuộc thẩm quyền của cả cơ quan lập pháp
& cơ quan hành pháp.
ü Về mức độ quan trọng: điều ước quốc tế cần phải phê chuẩn ở mức độ quan
trọng cao hơn, điều ước quốc tế cần phê duyệt ở mức độ quan trong thấp hơn.
12.Phân biệt bãi bỏ điều ước quốc tế & huỷ bỏ điều ước quốc tế
· Bãi bỏ hiệu lực của điều ước quốc tế là tuyên bố đơn phương mà quốc gia đưa ra
tuyên bố nhằm chấm dứt hiệu lực của Điều ước quốc tế nào đó đối với quốc gia
mình.
· Huỷ bỏ hiệu lực điều ước quốc tế là tuyên bố đơn phương của một quốc gia
nhằm chấm dứt hiệu lực của điều ước nào đó đối với quốc gia mình mà không
được qui định trong Điều ước.
v Giống nhau: đều là tuyên bố đơn phương mà quốc gia đưa ra tuyên bố nhằm
chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế nào đó đôí với quốc gia mình.
v Khác nhau:
ü Tuyên bố hủy bỏ điều ước phải được điều ước cho phép.
ü Tuyên bố bãi bỏ điều ước không cần được điều ước cho phép.
Có 5 cơ sở tuyên bố hủy bỏ điều ước:
của những điều khoản trong điều ước quốc tế nhằm mục đích thực hiện điều ước
một cách kịp thời và chính xác.
ü Về thời điểm đưa ra tuyên bố: Tuyên bố bảo lưu được thực hiện trong bất kỳ giai
đoạn nào của điều ước (đàm phán, soạn thảo, thông qua, ký kết, phê chuẩn, phê
duyệt, gia nhập) .
Tuyên bố giải thích được thực hiện khi điều ước quốc tế đã phát sinh hiệu lực &
khi có tranh chấp xảy ra (tức là trong quá trình thực hiện điều ước quốc tế)
ü Về thể loại Tuyên bố bảo lưu chỉ được áp dụng đối với điều ước quốc tế đa
phương mà không cấm bảo lưu, còn tuyên bố giải thích điều ước quốc tế thì được
áp dụng cho cả điều ước quốc tế song phương & đa phương
Tuyên bố bảo lưu diễn ra ở cơ quan có thẩm quyền theo luật định, Tuyên bố giải
thích do chủ thể giải thích
ü Về giá trị pháp lí Tuyên bố bảo lưu có giá trị pháp lí trên bình diện quốc tế. Còn
tuyên bố giải thích do một quốc gia đơn phương đưa ra.
ü Về ý nghĩa Tuyên bố bảo lưu nếu được chấp thuận thì có giá trị pháp lí quốc tế
còn tuyên bố giải thích điều ước quốc tế thì không có giá trị pháp lí.
14.Bảo lưu điều ước quốc tế đây là một quyền hay là sự ưu tiên
Bảo lưu điều ước quốc tế là hành vi đơn phương của một chủ thể luật quốc tế
tuyên bố nhằm thay đổi hay loại trừ hệ quả của một hay một số điều khoản nhất
định của điều ước, những điều khoản đó được gọi là điều khoản bảo lưu.
Bảo lưu điều ước đây là một quyền & quyền này không phải là quyền tuyệt đối,
bởi vì có những hạn chế sau:
Ø Bảo lưu không diễn ra với điều ước song phương bởi vì trong những điều ước
song phương thường thỏa thuận ý chí của hai quốc gia với nhau. Trong trường hợp
một bên nào đó không thực hiện nổi một số điều của điều ước thì đây là lời đề
nghị mới của bên đối phương, nếu được bên dối phương đồng ý. Nếu không đồng
ý thì không thực hiện được quyền bảo lưu.
Ø Đối với những điều ước đa phương mà có điều khoản qui định hoặc các bên
thỏa thuận miệng với nhau rằng không cho phép bảo lưu thì quyền bảo lưu không
được thực hiện. Đối với những điều ước nhiều bên trong đó chỉ qui định cho phép
giao Chỉ những quốc gia nào không phải là thành viên của Liên hiệp quốc thì
được Liên hiệp quốc cho phép tham gia thì mới trở thành thành viên của điều ước
trên.
15. So sánh giữa người hai quốc tịch & không quốc tịch
· Người có hai quốc tịch là tình trạng pháp lí của một người xét cùng một lúc mang
quốc tịch của hai quốc gia khác nhau.
· Người không quốc tịch là tình trạng pháp lí của người không là công dân của
quốc gia nào.
v Giống nhau
Do pháp luật của các nước có qui định khác nhau về cách thức hưởng & mất quốc
tịch. Do kết hôn, li hôn nhận làm con nuôi mà có yếu tố nước ngoài. Người 2 quốc
tịch là họ được hưởng quốc tịch một nước nhưng chưa mất quốc tịch, còn người
không quốc tịch là do họ thôi quốc tịch cũ nhưng chưa được nhập quốc tịch mới.
v Khác nhau
ü Đối với người có hai quốc tịch: cả hai nước mà họ mang quốc tịch đều coi người
đó là công dân nước mình dẫn đến hậu quả bất lợi cho đương sự, khó khăn trong
việc yêu cầu được bảo hộ ngoại giao, các quốc gia đều coi họ là công dân dẫn đến
tranh chấp quyền bảo hộ ngoại giao đối với đương sự.
ü Đối với người không quốc tịch: không được hưởng quyền & nghĩa vụ công dân
của bất kỳ quốc gia nào. Không được hưởng quyền & nghĩa vụ theo những điều
ước quốc tế mà quốc gia sở tại dành cho người nước ngoài. Không được hưởng
bảo hộ ngoai giao của bất kỳ nước nào, do vậy địa vị pháp lí của người không
quốc tịch rất thấp kém.
ü Đối với người hai quốc tịch thì những quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư
pháp quốc tế thì áp dụng nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu , cụ thể coi người hai quốc
tịch là công dân một trong hai nước & cho phép nước đó bảo hộ ngoại giao cho
người đó .
ü Đối với người không quốc tịch thì pháp luật quốc gia phải qui định về những
điều kiện thuận lợi hơn đơn giản hơn về mặt thủ tục để người đó có thể gia nhập
quốc tịch vào nước mình.
Về phương diện quyền lực được thể hiện: quyền lực của quốc gia được thực hiện
trên phạm vi lãnh thổ của chính quốc gia mình. Quyền lực này là quyền tối cao đối
với tất cả mọi người, mọi tổ chức hoạt động trên phạm vi lãnh thổ của Quốc gia.
Quyền lực tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ được thực hiện thông qua hoạt
động của hệ thống các cơ quan nhà nước bao gồm: cơ quan lập pháp, hành pháp,
tư pháp bao trùm lên tất cả lĩnh vực trong đời sống xã hội của Quốc gia.
Quyền lực này mang tính hòan tòan & riêng biệt không chia xẻ với bất cứ quốc gia
nào khác & là chủ quyền thiêng liêng của mỗi quốc gia, mọi dân cư & tài sản tồn
tại trên lãnh thổ quốc gia đều lệ thuộc vào quyền lực đó.
Các Quốc gia khác có nghĩa vụ tôn trọng quyền lực của quốc gia chủ nhà không có
quyền chia sẻ áp đặt quyền lực của mình lên lãnh thổ của quốc gia khác. Mọi hành
vi xâm phạm tới quyền tối cao của quốc gia sở tại đều bị coi là trái với pháp luật
quốc tế
Về phương diện vật chất được thể hiện: Chỉ có quốc gia là “người” có đầy đủ
quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt vấn đề lãnh thổ trên cơ sở lợi ích phù
hợp với sự lựa chọn tự do của cộng đồng dân cư sống trên lãnh thổ đó.
Quyền tối cao của quốc gia về phương diện vật chất có thể coi là quyền sở hữu của
quốc gia đối với tài sản là lãnh thổ của quốc gia mình. Như vậy trong trường hợp
một quốc gia mất quyền định đoạt đối với lãnh thổ thì quốc gia đó coi như không
có quyến tối cao đối với lãnh thổ đó.
[Tóm lại: quốc gia có quyền hoàn toàn tuyệt đối với lãnh thổ của mình, nhưng
quyền tối cao của từng vùng khác nhau. Ví dụ: vùng lòng đất thì tính chất chủ
quyền của quốc gia hoàn toàn tuyệt đối & riêng biệt, còn vùng nước, biên giới tính
chất chủ quyền của quốc gia mang tính chất hoàn toàn & đầy đủ.
17. Nội dung qui chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia
Qui chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia được thể hiện trên nguyên tắc: bất khả xâm
phạm & toàn vẹn lãnh thổ. Đây không phải là nguyên tắc cơ bản nhưng là nguyên
tắc quan trọng trong luật quốc tế và nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc cấm
dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế ( điều 2 khoản 4 Hiến
chương liên hiệp quốc )
· Biên giới quốc gia trên bộ là đường biên giới được vạch ra trên đất liền, đảo,
sông, hồ… cơ sở pháp lí đường biên giới trên bộ luôn kí kết dựa trên điều ước
quốc tế.
· Biên giới quốc gia trên biển: là ranh giới giữa vùng biển thuộc chủ quyền hoàn
toàn của quốc gia với những vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia khác hoặc
với những vùng biển không thuộc chủ quyền của Quốc gia.
v Giống nhau:
Cả hai đều là đường biên giới và đều thuộc chủ quyền của Quốc gia.
v Khác nhau:
[IMG]file:///C:/Users/LUCKYC%7E1/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/cli
p_image002.gif[/IMG] Cách xác định biên giới Quốc gia:
· Trên bộ được trải qua 3 bước:
Ø Hoạch định biên giới quốc gia : là một quá trình xây dựng phương hướng, vị trí,
tính chất của đường biên giới quốc gia trên văn bản chính, thiết lập đường biên
giới quốc gia ở trong hiệp định và có bản đồ chi tiết đính kèm.
Ø Phân giới thực địa: là giai đọan chuyển hóa đường biên giới từ điều ước quốc tế
thành đường biên giới thực tế. Thông thường công việc này là do một UB hổn hợp
của hai bên hữu quan cử ra để đối chiếu các qui định trong điều ước quốc tế, với
bản đồ để đánh dấu các điểm trên thực tế UB liên hiệp chỉ có quyền chuyển hóa
đúng với điều ước quốc tế không được sửa chửa thay đổi sai sót.
Ø Cấm mốc: là hoạt động cuối cùng của quá trình phân giới thực địa. Sau khi các
bên đã đồng ý và hoàn thành các công việc cần thiết ở giai đoạn hai thì UB sẽ tiến
hành cấm theo mốc cụ thể tại các điểm đã được hai bên đánh dấu, đường biên giới
là đường nối liền các cột đã được cấm mốc.
· Trên biển: xác định biên giới đối với hai quốc gia nằm kề nhau hoặc đối diện
nhau mà có chung vùng nước nội thủy hay có chung vùng nước lãnh hải dựa trên
nguyên tắc thỏa thuận giữa các quốc gia bằng việc kí kết điều ước quốc tế về biên
giới , mô tả cụ thể về vị trí đặc điểm tính chất ,toạ độ cụ thể & chính xác
Thông thường đường biên giới quốc gia trên biển sẽ được phân định trong điều
ước quốc tế theo phương pháp cách đều đối với hai quốc gia có đường biên giới
đáy biển & lòng đất dưới đáy biển cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm
dò & khai thác vùng nầy nhằm mục đích kinh tế như việc sản xuất năng lượng trữ
nước hải lưu & gió ( điều 56 công ước về luật biển) Quốc gia ven biển có quyền
tài phán sẽ hưởng quyền tài phán lắp đặt & sử dụng các công trình thiết bị nhân
tạo, tài phán về lĩnh vực nghiên cứu khoa học, tài phán về việc bảo vệ & giữ gìn
môi trường biển có nghĩa là đặt ra các qui cách các đảo nhân tạo, công trình nhân
tạo
Nghĩa vụ của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế có nghĩa vụ chung
khi thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đàm phán của quốc gia ven biển thì quốc
gia ven biển không được làm ảnh hưởng các quyền của quốc gia khác trên biển.
Quyền & nghĩa vụ của các quốc gia khác ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế
nói chung là các quyền tự do hàng hải, tự do lắp đặt dây cáp, ống dẫn ngầm. Các
quốc gia không có biển & địa lí không thuận lợi sẽ được hưởng các quyền ưu tiên
đánh bắt số cá dư trong vùng đặc quyền kinh tế, nhưng quyền nầy có thực hiện
được hay không là phụ thuộc vào các quốc gia ven biển, phải phụ thuộc vào các
điều kiện sau: quốc gia đó phải có vị trí không thuận lợi, vị trí quốc gia đó không
có biển & phải nằm trong khu vực, tiểu khu vực, quốc gia ven biển phải tuyên bố
khả năng không khai thác hết nguồn hải sản trong vùng đặc quyền kinh tế.
20.Khái niệm, chế độ pháp lí & quyền tài phán của quốc gia ven biển trong
vùng lãnh hải
Lãnh hải là vùng nước biển có chiều rộng nhất định được giới hạn bởi một bên là
đường cơ sở và phía bên kia là đường biên giới quốc gia ven biển (ranh giới phía
ngoài của lãnh hải.)
Đặc điểm về chế độ pháp lí lãnh hải : xét về các bộ phận cấu thành lãnh hải : là
một bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia ( vùng nước) . Chủ quyền quốc gia đối
với lãnh hải là chủ quyền hòan tòan & đầy đủ ( đối với mực nước biển ở lãnh hải)
không áp dụng đối với đường biển , lòng đất,vùng trời bởi vì các vùng này là chủ
quyền tuyệt đối của quốc gia.
Chế độ pháp lí của lãnh hải : theo điều 19 luật biển quốc tế 1982 thì những hành
vi sau được xem là gây thiệt hại cho quốc gia ven biển:
sau khi rời nội thủy.
Chỉ đi qua lãnh hải một cách đơn thuần thì quốc gia ven biển không được giữ lại
hoặc bắt tàu thay đổi hành trinh chỉ nhằm mục đích xét xử dân sự đối người trên
tàu ( trừ trường hợp khi con tàu vi phạm nghĩa vụ đã cam kết đối với quốc gia ven
biển)
Quyền tài phán về hành chánh: trên lãnh hải trong công ước 1982 không có qui
định nào về xử phạt hành chánh, nhưng trong lãnh hải nếu tàu dân sự vi phạm
hành chánh thì quốc gia ven biển có quyền áp dụng quyền tài phán đối với tàu dân
sự vi phạm.