Chuỗi cung ứng đầu vào rau an toàn của công ty VF
Đề tài
Chuỗi cung ứng đầu vào
rau an toàn của công ty VF
Nhóm F4+
2
Chuỗi cung ứng đầu vào rau an toàn của công ty VF
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 7
1.Lý do chọn đề tài 7
2.Phương pháp nghiên cứu 8
3.Phạm vi nghiên cứu 8
4.Kết cấu bài tiểu luận 8
8.Đôi nét về công ty TNHH kinh doanh rau quả thực phẩm VF 18
9.1.Chuỗi cung ứng củ cà rốt 22
9.2.Chuỗi cung ứng rau cải ngọt 25
9.3.Chuỗi cung ứng dưa leo 28
1.Đánh giá thực trạng 32
2.Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc trồng và cung ứng rau an toàn 33
Danh mục tài liệu tham khảo 37
Nhóm F4+
3
Chuỗi cung ứng đầu vào rau an toàn của công ty VF
DANH SÁCH NHÓM
STT Họ tên MSSV Chữ ký Điểm số
1 Đặng Lý Bằng 08091611
2 Ngô Duy Dũng 08105181
3 Phạm Thị Bích Hà 08109761
4 Phạm Hoàng Minh 08121201
5 Trần Bảo Ngọc 08272091
6 Bùi Thị Thảo Vy (nhóm trưởng) 08101571
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
.
Nhóm F4+
6
Chuỗi cung ứng đầu vào rau an toàn của công ty VF
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đã ba năm kể từ khi Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn ban hành quyết định
106 về quản lý sản xuất và kinh doanh rau an toàn, song số lượng hợp tác xã (HTX),
cơ sở sản xuất rau an toàn vẫn còn khá ít; chưa đến 25 cơ sở sản xuất rau ở các tỉnh
phía Nam đạt chuẩn VietGAP (Good Agricultural Practices) của Bộ Nông nghiệp -
Phát triển nông thôn ban hành.
Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) đối với nông sản nhất là rau xanh đang
được xã hội đặc biệt quan tâm. Vì rau là thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa
ăn hàng ngày, là nguồn cung cấp vitamin, chất khoáng, vi lượng, chất xơ cho cơ
thể con người mà không thể thay thế. Việc ô nhiễm vi sinh vật, hóa chất độc hại,
kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) tồn dư trên rau, đặc biệt là rau ăn lá
đã gây ảnh hưởng không nhỏ trước mắt cũng như lâu dài đối với sức khỏe cộng
đồng.
Ngày nay do người trồng rau quá lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón cũng
như sử dụng nước, đất ô nhiễm trong quá trình canh tác nên trong rau xanh tồn tại
nhiều yếu tố độc hại có hại cho sức khoẻ của con người. Thời gian qua rau luôn là
thủ phạm số một trong các vụ ngộ độc thức ăn. Cũng vì thế nỗi lo của người tiêu
dùng về chất lượng rau ngày càng lớn, hơn lúc nào hết nhu cầu được sử dụng RAT
của người tiêu dùng lại nhiều như hiện nay, nhu cầu này sẽ ngày càng tăng, đặc biệt
hướng phát triển trong tương lai.
4. Kết cấu bài tiểu luận
Ngoài phần mở đầu thì tiểu luận được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Một số khái niệm liên quan đến chuỗi cung ứng
Chương 2: Chuỗi cung ứng đầu vào một số loại rau an toàn của công ty TNHH
kinh doanh rau quả VF
Chương 3: Đánh giá và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trồng rau an
toàn tại thành phố Hồ Chí Minh
Nhóm F4+
8
Chuỗi cung ứng đầu vào rau an toàn của công ty VF
Chương I
Một số khái niệm liên quan đến chuỗi cung ứng
1. Chuỗi cung ứng
Là một tổng thể giữa hàng loạt các nhà cung ứng và khách hàng được kết nối với
nhau, trong đó mỗi khách hàng đến lượt mình lại là nhà cung ứng cho tổ chức tiếp
theo cho đến khi thành phẩm đến tay người tiêu dùng. Chuỗi này được bắt đầu từ
việc khai thác các nguyên liệu nguyên thủy, và người tiêu dùng là mắt xích cuối
cùng của chuỗi.
Nói cách khác chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh doanh
cung cấp một sản phẩm/ dịch vụ cho khách hàng từ khâu sản xuất và phân phối đến
người tiêu dùng cuối cùng.
2. Quản trị chuỗi cung ứng
Quản trị chuỗi cung ứng là hoạch định, thiết kế, kiểm soát luồng thông tin và
luồng vật chất theo chuỗi cung ứng nhằm đạt được các yêu cầu của khách hàng một
cách hiệu quả ở thời điểm hiện tại và trong tương lai.
Chính vì vậy, Quản trị logistics rất rộng với các nội dung chủ yếu sau:
• Dịch vụ khách hàng.
• Hệ thống thông tin.
• Dự trữ.
Chuỗi cung ứng đầu vào rau an toàn của công ty VF
Chuỗi cung ứng đầu vào một số loại rau an toàn tại
công ty TNHH kinh doanh rau quả VF
1. Khái niệm và quá trình phát triển rau an toàn tại thành phố Hồ Chí Minh
1.1. Khái niệm về rau an toàn
1.1.1. Khái niệm của Bộ NN & PTNT
- Trong chương trình phát triển Rau An Toàn, Bộ Nông Nghiệp và Phát
Triển Nông Thôn đã thống nhất đưa ra khái niệm về rau an toàn như
sau: Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ,
thân, lá, hoa, quả) có chất lượng đúng như đặc tính của nó. Hàm
lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại dưới
mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và
môi trường., thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm,
gọi tắt là “rau an toàn”.
- Một khi nông dân trồng rau đi vào qui trình sản xuất đúng qui cách,
tuân thủ đầy đủ các qui định về sản xuất rau an toàn thì việc nắm bắt
được khái niệm chính xác và thực hiện đúng yêu cầu là điều không thể
thiếu.
1.1.2. Khái niệm của nông dân
Theo nguồn thảo luận nhóm nông dân Củ Chi thì khái niệm về rau an
toàn của người nông dân như sau:
• Nông dân trồng rau an toàn phải thông qua lớp tập huấn.
• Sử dụng thuốc đúng qui cách (cách li theo đúng hướng dẫn trên bao bì,
3-7 ngày).
• Phải ủ qua phân chuồng trước khi sử dụng.
• Nguồn nước sạch.
• Sau khi kết thúc một vụ, đất phải để 2 đến 3 ngày.
• Phải có nhà lưới (tránh mùa mưa).
Nhóm F4+
11
giữa rau an toàn và không an toàn vẫn chưa hoàn toàn được rõ ràng, chỉ dựa
trên cảm nhận là chính.
Phần tiếp sau đây sẽ đề cập kỹ hơn về quy trình trồng trọt của rau an toàn
theo đúng quy định của Bộ NN & PTNT.
6.1. Quy trình trồng trọt rau an toàn
Nhóm F4+
12
Chuỗi cung ứng đầu vào rau an toàn của công ty VF
6.1.1. Yêu cầu về đất trồng
• Đất phải không chịu ảnh hưởng xấu của các chất thải công nghiệp, giao
thông, khu dân cư tập trung,bệnh viện, nghĩa trang, có nghĩa là các chất độc
hại cho người và cho môi trường.
• Sau một vụ sản xuất, đất phải được phơi 2-3 ngày sau đó phải được xới
tơi để trồng tiếp. Công việc này chủ yếu bằng thủ công. Nông dân chưa được
trang bị cơ giới hoá như máy xới đất nên với một diện tích đất 1.000 m2 thì
công việc này rất nặng nhọc.
6.1.2. Yêu cầu về phân bón
Chỉ dùng phân hữu cơ như phân xanh, phân chuồng đã được ủ hoại mục,
tuyệt đối không được dung các loại phân hữu cơ còn tươi. Số lượng phân
phải dựa trên tiêu chuẩn cụ thể quy định trong các quy trình của từng loại rau,
đặc biệt với rau ăn lá kết thúc phân bón trước khi thu hoạch 15 – 20 ngày.
6.1.3. Nước tưới
Chỉ dùng nước giếng khoan, nước từ các sông hồ lớn không bị ô nhiễm
các chất độc hại. Tuyệt đối không dùng trực tiếp nước thải từ các khu công
nghiệp, thành phố, bệnh viện, khu dân cư, nước ao, tù đọng.
6.1.4. Phòng trừ sâu bệnh
Phải áp dụng phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp, ít độc hại cho người
và môi trường:
• Giống: Chọn giống tốt, các cây giống phải xử lý sạch sâu bệnh trước khi
xuất ra khỏi vườn ươm.
thông qua đề án triển khai chương trình sản xuất rau sạch và quyết định số
2598/QĐ-UB về việc thành lập Ban chỉ đạo chương trình rau sạch cấp thành
phố. Vì vậy việc sản xuất rau an toàn được quan tâm nhiều hơn. Các sở, ban,
ngành địa phương đã quan tâm phát triển cây rau nhiều hơn. Trên cơ sở đó
các Tổ sản xuất rau an toàn ở Huyện Củ Chi đã dần dần hình thành và là nền
tảng cho sự hình thành và phát triển các Tổ rau an toàn sau này.
6.2.3. Giai đoạn từ 2001 – 2003
Trong giai đoạn này, Sở Nông Nghiệp đã phối hợp với UBND các quận,
huyện có sản xuất rau tập trung triển khai chương trình một cách đồn bộ. Cả
Nhóm F4+
14
Chuỗi cung ứng đầu vào rau an toàn của công ty VF
diện tích giao trồng cũng như số lượng các tổ sản xuất tăng đáng kể: diện tích
gieo trồng rau an toàn đã đạt hơn 700 ha, có 13 tổ sản xuất rau an toàn. Ở giai
đoạn này đã có chuyển biến đáng kể trong nhận thức của người nông dân,
người tiêu dùng đối với sản phẩm rau an toàn.
6.2.4. Từ 2004 đến năm 2010
Để đáp ứng nhu cầu về rau an toàn ngày càng cao, trong chương trình
phát triển rau an toàn đến 2010 (đã được Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố phê
duyệt theo quyết định số 104/202/QĐ-UB ngày 19/9/2002) như sau:
Nhìn vào bảng qui hoạch dưới cho thấy UBND thành phố đã có quyết tâm
rất lớn trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng: năm 2010 thì diện tích rau
trồng trên địa bàn thành phố sẽ là 100% rau an toàn, với diện tích gieo trồng
sẽ tăng gần 44%. Tuy nhiên do tốc độ đô thị hóa sẽ xảy ra ngày càng mạnh
mẽ, đất sản xuất đang bị thu hẹp nhanh nên diện tích trồng rau đã khó phát
triển hơn được. Trong khi đó, trồng rau an toàn mang lại hiệu quả kinh tế hơn
so với rau bình thường trên cùng 1 diện tích đất sản xuất nên diện tích trồng
rau trước đây đang dần thay thế bằng rau an toàn. Với tốc độ phát triển diện
tích rau an toàn và nhu cầu gia tăng như hiện nay thì kế hoạch trên của
UBND thành phố là hoàn toàn có thể đạt được.
Củ Chi và số ít ở quận 9, quận 12. Củ Chi là vùng sản xuất rau an toàn lớn nhất
của thành phố Hồ Chí Minh với diện tích khoảng 1,800 ha. Tại các khu vực này
chủng loại rau an toàn được trồng rất đa dạng. Nông dân thường trồng nhiều loại
khác nhau để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Theo sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, hiện nay các loại chính trên địa
bàn thành phố được chia thành 6 nhóm sau:
* Rau ăn lá ngắn ngày gồm : rau dền, rau muống cạn, rau tần ô, cải bẹ xanh,
cải bẹ dún, xà lách, mồng tơi, cải ngọt, bạc hà; ước sản lượng khoảng 65,000 tấn/
năm.
* Rau ăn lá dài ngày có: cải bắp, cải thảo, cải bông; ước sản lượng khoảng
9,000 tấn/ năm
* Rau ăn củ, quả ngắn ngày như dưa leo, khổ qua, mướp khía, đậu cove, đậu
đũa, củ cải; ước sản lượng khoảng 35,000 tấn/ năm.
Nhóm F4+
16
Chuỗi cung ứng đầu vào rau an toàn của công ty VF
* Rau ăn củ quả dài ngày như đậu bắp, cà chua, cà tím, cà pháo, ớt, bầu, bí,
ước sản lượng khoảng 10,000 tấn/ năm
* Rau muống nước ước sản lượng hàng năm khoảng 50,000 tấn ( chiếm 40%
các loại)
* Rau gia vị như ngò rí, ngò gai, ớt cay, hành lá, húng cây
Sau đây là thị phần sản lượng của các nhóm rau này:
Đồ thị 12 : Sản lượng các loại rau an toàn 2009.
Như vậy, chiếm hơn 1/3 là các loại rau ăn lá ngắn ngày, sau đó là rau muống
nước (29%) Các loại rau thường trồng là: cải ngọt, cải xanh, rau dền, rau muống,
mồng tơi, xà lách, tần ô. Đạt năng suất cao nhất trên m
2
là cải: 3-4 kg/m
2
. Rau
nhận vùng sản xuất đạt tiêu chuẩn an toàn.
Trên đây là qui trình đã được đưa vào áp dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh. Tuy nhiên các qui định còn chưa chặt chẽ. Chẳng hạn như việc ‘tái công
nhận vùng sản xuất rau an toàn’ chưa qui định rõ ràng việc lấy mẫu như thế nào,
thời gian kiểm tra dư lượng thuốc trừ sâu trong rau cụ thể là bao lâu một lần?
Phương pháp kiểm tra chưa được hướng dẫn và phổ biến rộng rãi và cụ thể nên
hay xảy ra nhầm lẫn.
8. Đôi nét về công ty TNHH kinh doanh rau quả thực phẩm VF
60/1 Nguyễn Thượng Hiền, P.5, Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh
8.1. Giới thiệu
Nhóm F4+
18
Chuỗi cung ứng đầu vào rau an toàn của công ty VF
VF là một công ty chuyên ngành có nhiều kinh nghiệm trong việc cung ứng
và xuất khẩu rau quả và chế biến thực phẩm.
Đối với thị trường trong nước, công ty chuyên cung cấp cho các nhà hàng,
khách sạn, trường học, bếp ăn tập thể, cơ sở chế biến thức ăn công nghiệp và
xuất ăn trên máy bay tất cả các loại rau quả, thực phẩm tươi và chế biến. Hợp tác
trồng thử nghiệm các loại rau và giống mới có tiềm năng xuất khẩu.
Đối với thị trường nước ngoài, công ty chuyên xuất khẩu rau quả tươi và chế
biến đông lạnh sấy khô. Thị trường nước ngoài của công ty VF bao gồm các
nước như Nhật Bản, Đài Loan, Singapo, Malaysia, Đức, Đan Mạch, Anh & Mỹ.
Tầm nhìn phát triển công ty là trở thành công ty hàng đầu trong lĩnh vực cung
cấp rau sạch cao cấp cho thị trường Việt Nam và hướng ra xuất khẩu trong năm
năm (2007 – 2011)
8.2. Các sản phẩm chính của công ty
− Nhóm sản phẩm rau: Khoai lang ruột vàng, khoai lang ruột tím, hành tím.
− Nhóm thực phẩm chế biến, rau muối đóng lọ (keo) bao gồm: Cà pháo, củ sen,
tỏi, ớt cay, gừng, củ riềng.
8.3. Giới thiệu vài nét về quy trình sản xuất rau sạch của công ty VF
− Điều tiết tiến độ sản xuất, trữ hàng, thời gian tung hàng, giá bán.
8.6. Phòng sàn xuất
− Kiểm tra máy móc thiết bị, sửa chữa, bảo dưỡng bảo trì và lên kế họach mua
sắm
− Lên kế họach nhân lực, đảm bảo tiến độ sản xuất đáp ứng nhu cầu của thị
trường.
− Thực hiện chế độ báo tiến độ sản xuất đến Tổng giám đốc.
− Lập lịch trình sản xuất.
Nhóm F4+
20
Chuỗi cung ứng đầu vào rau an toàn của công ty VF
− Điều độ sản xuất phân công máy móc thiết bị, lao động với mục đích sử dụng
công suất sẵn có hiệu quả và mang lợi ích cao nhất nhằm hạn chế sản lượng
hao hụt thấp nhất.
− Tiết kiệm chi phí sản xuất.
− Kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi chuyển qua kho thành phẩm.
8.7. Phòng kế toán
− Báo cáo chế độ tài chính ngân sách thực hiện lên Tổng giám đốc.
− Tính giá thành sản phẩm.
− Theo dõi chế độ công nợ và đảm bảo chế độ thanh toán.
− Báo cáo doanh thu lên Tổng giám đốc.
8.8. Phòng kỹ thuật
− Theo dõi sữa chữa bảo trì máy móc đảm bảo tiến độ sản xuất.
8.9. Phòng nghiên cứu và thiết kế sản phẩm
− Kết hợp với phòng cung ứng, tiến hành thử mẫu nguyên vật liệu, bao bì cải
tiến sản phẩm, nghiên cứu sản phẩm mới, thử nghiệm các mẫu nguyên vật
liệu thay thế.
− Kiểm tra nguyên vật liệu đầu vào - đầu ra nhằm đảm bảo chất lượng sản
phẩm.
− Phân loại xử lý các sản phẩm bị trả về từ nhà phân phối (bao bì bị xì xệp,
− Kết hợp bộ phận chăm sóc khách hàng để giải quyết các vần đề phát sinh với
khách hàng.
− Chuyển các yêu cầu của sản phẩm tới bộ phận phân phối.
9. Chuỗi cung ứng đầu vào một số loại rau củ quả tại công ty VF
9.1. Chuỗi cung ứng củ cà rốt
9.1.1. Đặc điểm cây cà rốt
Cây cà rốt có tên khoa học là Daucuscarota var sativa, là loại cây rau ăn
củ sống 1 hay 2 năm, họ Hoa tán Umbelliferae, sống ở vùng nhiệt độ mát 16
– 24 độ C. Cây thụ phấn chéo nhờ côn trùng. Hạt có gai, màng vỏ hạt có tinh
dầu.
Trong 100g củ cà rốt có 75,2g nước; 4,3g gluxit; 36,6mg canxi; 33,2mg phot
pho; 0,7g sắt; 7,65mg caroten và 7mg vitamin C.
9.1.2. Thời vụ
Nhóm F4+
22
Hoạch
định mua
hàng
Hoạch
định SCM
Công ty
VF
Nông
dân
Vaän
chuyeån
Thu
hoạch
Phân
loại
• Chăm sóc: Sau khi gieo, mỗi ngày tưới nước 1 lần vào sáng sớm, khi đã
mọc đều thì 3-4 ngày tưới một lần và giữ đủ ẩm thường xuyên cho cà rốt
Nhóm F4+
23
Chuỗi cung ứng đầu vào rau an toàn của công ty VF
cho đến trước khi thu hoạch 10 ngày. Nhớ phá váng sau mỗi lần tưới giúp
cây mọc khỏe, củ lớn nhanh. Khi cây cao 8-10 cm thì tỉa lần thứ nhất, bỏ
bớt những cây xấu, mọc chen nhau. Cây cao gần 15 cm thì tỉa cây, để lại
khoảng cách hàng là 20 cm, cây cách cây 10-12 cm (mật độ khoảng
330.000-420.000 cây/ha). Bón phân thúc cho cà rốt sau khi đã tỉa định cây
xong kết hợp với lần vun xới lần thứ hai bằng 2/3 lượng phân đạm và toàn
bộ phân kali. Bón thúc lần 2 là 1/3 lượng đạm còn lại sau lần bón thúc thứ
nhất 1 tháng. Có thể bón phân khô theo rạch, hoặc hoà với nước, phân
chuồng pha loãng để tưới thúc.
• Phòng trừ sâu bệnh: Thường xuyên kiểm tra phát hiện kịp thời để phòng
trị bằng các biện pháp canh tác, cơ giới hay thuốc hoá học theo chỉ dẫn
của các cán bộ Bảo vệ thực vật.
9.1.4. Thu hoạch
Khi củ cà rốt vừa tới độ, Cây lá chuyển màu, vai củ tròn đều thì cần thu
hoạch ngay chất lượng mới cao. Nên thu hoạch vào những ngày khô nắng,
làm sạch đất và cắt bớt phần lá, chỉ để lại đoạn cuống dài 15-20 cm, bó thành
từng bó nhỏ 5 - 6 củ, xếp nhẹ nhàng vào bao bì cứng (sọt tre, hòm gỗ, khay
nhựa…) để vận chuyển về nơi tiêu thụ hoặc cơ sở chế biến càng nhanh càng
tốt.
9.1.5. Bảo quản cà rốt
Cà rốt rửa sạch, đem ngâm trong dung dịch nước ôzôn nồng độ 140ppm
trong thời gian 5 phút. Vớt ra để ráo nước, đem bảo quản trong kho lạnh ở
điều kiện nhiệt độ từ 0 độ C đến 2 độ C, ẩm độ không khí từ 90 đến 95%, rải
đều lên trên cà rốt các túi vải thưa có chứa bột khử ethylen (KMnO4-
CaSiO3), mỗi túi 3g, tỷ lệ 0,1%. Sau 3 tháng bảo quản, tỷ lệ củ bị hư hỏng là
9.2.2. Vườn ươm: Cây cải ngọt có thể gieo hạt thẳng hoặc gieo ở vườn ươm
rồi cấy. Làm đất nhỏ, lên luống rộng 1m, cao 30cm, rãnh rộng 30cm.
Bón lót phân chuồng hoại mục 2 - 3kg/m
2
. Nếu gieo để liền chân thì
dùng 0,5 - 1g hạt giống/m
2
; nếu gieo vườn ươm rồi cấy thì 1 - 1,2g hạt
giống/m
2
. Gieo hạt xong phủ trấu hoặc rơm rạ lên mặt luống rồi dùng
thùng ô doa tưới đều, sau đó mỗi ngày tưới một lần.
Nhóm F4+
25
Chuỗi cung ứng đầu vào rau an toàn của công ty VF
9.2.3. Làm đất, trồng: Chọn đất cát pha hoặc thịt nhẹ có độ pH 5,5 - 6,5.
Làm đất nhỏ, lên luống rộng 1m, cao 30cm, rãnh rộng 30cm. Bón phân
chuồng hoai mục 1,2 - 2kg/m
2
. Nếu không có phân chuồng có thể sử
dụng phân hữu cơ vi sinh, lượng dùng 100 - 110kg/sào Bắc Bộ. Trộn
đều phân vi sinh với đạm, san phẳng mặt luống, sau đó gieo hạt hoặc
cấy. Nếu gieo liền chân thì tỉa làm 2 đợt khi cây có 2 - 3 lá thật với
khoảng cách 15 - 20cm. Nếu cấy thì để khoảng cách 20-25cm, bảo đảm
mật độ trồng 3.000 - 3.600 cây/sào Bắc bộ.
• Bón phân:
Lượng bón (tính 1 sào Bắc bộ):
+ Phân chuồng: 700kg (hoặc 400kg phân chuồng + 100kg phân
Bokashi). Có thể dùng phân hữu cơ vi sinh hoặc phân rác đã chế biến
thay thế (bằng 1/3 lượng phân chuồng).