Tiểu luận tài chính quốc tế :Quản trị quốc tế - Pdf 16

GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hội Chuyên đề: Quản Trị Quốc Tế
MỤC LỤC

LI M ĐU 4
CHƯƠNG 1: 5
TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ QUỐC TẾ 5
1.3. CHỨC NĂNG CỦA QUẢN TRỊ QUỐC TẾ 6
CHƯƠNG 2: 9
ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯNG QUỐC TẾ 9
2.1. KHÁI QUÁT VỀ MÔI TRƯNG KINH DOANH QUỐC TẾ 9
2.2. CÁC YẾU TỐ CỦA MÔI TRƯNG KINH DOANH QUỐC TẾ 10
2.2.1 Yếu tố kinh tế 10
2.3. LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC QUỐC GIA 20
2.3.1 Khái niệm 20
2.3.2 Tầm quan trọng của lợi thế cạnh tranh quốc gia 20
CHƯƠNG 3: 22
PHÁN ĐOÁN CÁC VẤN ĐỀ CHIẾN LƯỢC 22
3.1. KHÁI QUÁT VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ 22
3.1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh quốc tế 22
3.1.2 Vai trò của chiến lược 22
3.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIA NHẬP THỊ TRƯNG QUỐC TẾ 22
3.2.1 Xuất khẩu 22
3.2.3 Nhượng quyền thương mại (Franchising) – một hình thức đặc biệt của cấp phép 29
3.2.4 Liên minh chiến lược 31
3.2.5 Mở các chi nhánh 34
3.3. CÁC CHIẾN LƯỢC CỦA TẬP ĐOÀN ĐA QUỐC GIA (MNC) 37
3.3.1 Triết lý chiến lược của MNC 37
3.3.2 Các chiến lược 38
CHƯƠNG 4: TỔ CHỨC KINH DOANH QUỐC TẾ 40
CHƯƠNG 5: THÍCH ỨNG SỰ KHÁC BIỆT VĂN HOÁ 45
CHƯƠNG 6: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC 54

kỹ thuật hiện có thông qua nhượng bản quyền (licensing) đặc quyền kinh tiêu
( franchising),và đặc biệt là tạo cơ hội để doanh nghiệp nâng cao vị thế của
doanh nghiệp trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, trong quá trình tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế đòi
hỏi các doanh nghiệp phải có những thay đổi để thích nghi với môi trường quốc
tế. Để hiểu rõ hơn về việc hoạt động này, chúng ta nghiên cứu về chuyên đề:
“Quản trị quốc tế”.
Lớp cao học Đêm 5 – K20 – Nhóm 11 Trang 4
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hội Chuyên đề: Quản Trị Quốc Tế
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ QUỐC TẾ
1.1. KHÁI NIỆM
Hoạt động kinh doanh quốc tế: là các hoạt động liên quan đến lợi nhuận
vượt qua các biên giới quốc tế. Nó bao gồm nguồn cung cấp từ các nước khác
nhau, sản phẩm hoặc dịch vụ được bán đi cho khách hàng khắp nơi và dòng
tiền được chuyển đi trên khắp thế giới.
Quản trị quốc tế: là những hoạt động nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh quốc
tế của doanh nghiệp thông qua nỗ lực của các thành viên trong doanh nghiệp.
Quản trị kinh doanh quốc tế: là quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo
và kiểm soát những con người làm việc trong một tổ chức hoạt động trên phạm
vi quốc tế nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức.
KDQT được tiến hành trên cơ sở quốc tế hoá các hoạt động kinh doanh.
Khi quyết định tham gia vào KDQT thì một doanh nghiệp phải đối mặt với
nhiều thách thức. Khi đó, các yếu tố nội tại của công ty phải đương đầu với các
yếu tố mới bên ngoài về văn hóa, chính trị, pháp luật, kinh tế và cạnh tranh. Các
yếu tố nội tại của công ty là những nhân tố công ty có thể kiểm soát được. Các
yếu tố này bao gồm:
- Xác định phương pháp và xây dựng kế hoạch sản xuất.
- Tìm kiếm và phân bổ nguồn tài chính.
- Chính sách phân bổ nguồn nhân lực, chương trình đào tạo và phát triển

− Lãnh đạo là tác động đến người khác, truyền cảm hứng, khơi dậy lòng
nhiệt quyết của họ đối với công việc, tổ chức và những người xung quanh.
1.3.4. Kiểm soát:
Là quá trình đo lường kết quả thực tế và so sánh với những tiêu chuẩn
nhằm phát hiện sự sai lệch và nguyên nhân sự sai lệch, đưa ra biện pháp điều
chỉnh kịp thời nhằm khắc phục sự sai lệch hoặc nguy cơ sai lệch, đảm bảo tổ
chức đạt được các mục tiêu và các kế hoạch vạch ra.
− Kiểm soát là chức năng của mọi nhà quản trị trong tổ chức.
− Kiểm soát là chức năng cuối cùng khép kín quá trình quản trị.
1.4. CÁC TỔ CHỨC THAM GIA QUẢN TRỊ QUỐC TẾ
a. Các doanh nghiệp nội địa ( A domestic budiness):
Lớp cao học Đêm 5 – K20 – Nhóm 11 Trang 6
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hội Chuyên đề: Quản Trị Quốc Tế
Kinh doanh nội địa sử dụng chủ yếu tất cả các tài nguyên của mình và bán
tất cả sản phẩm, dịch vụ của mình trong phạm vi một nước duy nhất. Nhiều
doanh nghiệp nhỏ hoạt động chủ yếu ở trong nước. Tuy nhiên, một số ít (nếu có
thể) các doanh nghiệp nội địa lớn ngày nay đều tham gia vào hoạt động thế giới.
Các doanh nghiệp nhỏ đang ngày càng tham gia tích cực vào hoạt động
thương mại hay đầu tư quốc tế. Chính sự đổi mới công nghệ đã gỡ bỏ nhiều trở
ngại thực tế đối với các hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp nhỏ.
Trong khi các kênh phân phối truyền thông chỉ cho phép các doanh nghiệp
lớn thâm nhập vào các thị trường ở xa thì phân phối qua mạng điện tử là giải
pháp ít tốn kém và có hiệu quả đối với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Doanh nghiệp quốc tế chủ yếu đặt căn cứ tại một quốc gia duy nhất, nhưng
lại chiếm một số thị phần có ý nghĩa về các tài nguyên hay doanh số của mình từ
các quốc gia khác.
b. Các doanh nghiệp đa quốc gia (A multinational business):
Các công ty đa quốc gia có thị trường tiêu thụ khắp thế giới nơi công ty mua
nguyên liệu, vay tiền, chế tạo và bán các sản phẩm của mình.
Một công ty lớn có các nhà máy phân bổ trên khắp thế giới cũng được gọi là

Lớp cao học Đêm 5 – K20 – Nhóm 11 Trang 8
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hội Chuyên đề: Quản Trị Quốc Tế
CHƯƠNG 2:
ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯNG QUỐC TẾ
2.1. KHÁI QUÁT VỀ MÔI TRƯNG KINH DOANH QUỐC TẾ
2.1.1 Khái niệm về môi trường kinh doanh quốc tế
Môi trường kinh doanh quốc tế là tổng thể các môi trường thành phần như
môi trường pháp luật, chính trị, kinh tế văn hóa, cạnh tranh , chúng tác động và
chi phối mạnh mẽ đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc các
doanh nghiệp phải tự điều chỉnh các mục đích, hình thức và chức năng hoạt động
của mình cho thích ứng nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu
quả cao trong kinh doanh.
2.1.2 Phân loại môi trường kinh doanh quốc tế
 Khi nghiên cứu môi trường ở trạng thái “tĩnh”, có thể chia môi
trường kinh doanh thành phần thành môi trường địa lý, chính trị, pháp luật, kinh
tế, văn hoá, thể chế.
 Khi đứng trên góc độ chức năng hoạt động (tức là xem xét môi
trường ở khía cạnh động) thì môi trường kinh doanh gồm môi trường thương
mại, tài chính - tiền tệ, đầu tư
 Khi đứng trên góc độ điều kiện kinh doanh thì môi trường kinh
doanh phân chia thành môi trường trong nước, môi trường quốc tế.
Việc quản trị kinh doanh quốc tế mở ra nhiều cơ hội lớn nhưng môi
trường kinh doanh quốc tế là môi trường luôn luôn biến đổi, mang tính chất phức
tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố nên nó cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc
hiểu biết các yếu tố môi trường rộng lớn hơn so với kinh doanh nội địa. Trong
phần này, chúng ta sẽ tìm hiểu các yếu tố tác động của môi trường quốc tế và
khái niệm rộng hơn đó là các lợi thế cạnh tranh của các quốc gia.
2.1.3 Sự cần thiết của việc nghiên cứu môi trường kinh doanh quốc tế
Trong những điều kiện của xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá và khu
vực hoá nền kinh tế thế giới và nền kinh tế mỗi quốc gia, hoạt động kinh doanh

năng lớn để mở rộng thị trường.
Trong yếu tố kinh tế tác động đến việc quản trị quốc tế. Chúng ta cần phân
tích làm rõ các yếu tố sau:
a. Cơ sở hạ tầng
Lớp cao học Đêm 5 – K20 – Nhóm 11 Trang 10
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hội Chuyên đề: Quản Trị Quốc Tế
Quyết định tiến hành kinh doanh ở một lãnh thổ cũng phụ thuộc vào cơ sở
hạ tầng. Cơ sở hạ tầng liên quan đến đường cao tốc, đường sắt, sân bay, cơ sở vật
chất nước thải, nhà ở, cơ sở giáo dục, mạng thông tin liên lạc, các cơ sở vui chơi
giải trí, và các tiện nghi kinh tế và xã hội khác là những dấu hiệu về sự phát triển
kinh tế ở vùng đó.
Do tầm quan trọng của việc phát triển hệ thống công nghệ thông tin, nên hạ
tầng truyền thông thông tin là quan trọng nhất. Theo nghiên cứu ngân hàng phát
triển Châu Á, các nước trong khu vực cần đầu tư mạnh để nâng cấp cơ sở hạ tầng
viễn thông. Ngoài ra cũng cần thiết chi đầu tư cho việc vận chuyển trong khu
vực, hệ thống nước và năng lượng. Do đó, xây dựng cơ sở hạ tầng để hỗ trợ phát
triển kinh tế là rất tốn kém. Nhưng nếu một quốc gia nào đó muốn kêu gọi các
nhà đầu tư đầu tư sang nước mình thì việc xây dựng cơ sở hạ tầng là thật sự cần
thiết.
b. Cán cân thanh toán và cán cân thương mại
Một nhân tố kinh tế khác là cán cân thanh toán của quốc gia, tài khoản ghi
chép hàng hóa và dịch vụ, vốn vay, vàng và các khoản mục khác đi vào và đi ra
khỏi quốc gia đó. Cán cân thương mại, tài khoản theo dõi giữa xuất khẩu và nhập
khẩu của một quốc gia, là một yếu tố quan trọng quyết định cán cân thanh toán
quốc gia đó. Nếu một quốc gia có kim nghạch xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu tức
là quốc gia đó đã thặng dư được cán cân thương mại, điều này dẫn đến lượng dự
trữ ngoại hối ở quốc gia đó được dư thừa giúp cải thiện cán cân thanh toán.
c. Tỷ giá hối đoái
Nhắc đến môi trường kinh doanh quốc tế là nhắc đến tỷ giá hối đoái, là giá
trị mà tại đó một đơn vị tiền tệ của một quốc gia có thể đổi được bao nhiêu tiền

− Rủi ro vĩ mô: đe dọa đến tất cả các doanh nghiệp không trừ một ngành
nào. Rủi ro vĩ mô ảnh hưởng đến hầu hết các công ty – cả doanh nghiệp trong và
ngoài nước.
− Rủi ro vi mô: tác động đến những công ty thuộc một ngành nào đó.
 Hậu quả mà rủi ro chính trị gây ra:
− Xung đột và bạo lực: Xung đột địa phương có thể gây cản trở mạnh mẽ
đến đầu tư của các công ty quốc tế. Bạo lực làm suy yếu khả năng sản xuất và
phân phối sản phẩm, gây khó khăn cho việc nhận nguyên liệu và thiết bị gây cản
trở việc tuyển dụng những nhân công giỏi. Xung đột nổ ra cũng đe dọa cả tài sản
(văn phòng, nhà máy và thiết bị sản xuất) và cuộc sống của nhân công
Lớp cao học Đêm 5 – K20 – Nhóm 11 Trang 12
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hội Chuyên đề: Quản Trị Quốc Tế
− Khủng bố và bắt cóc: Khủng bố có mục đích tạo ra sự lo sợ và ép buộc
sự thay đổi thông qua việc gây ra những cái chết và tàn phá tài sản một cách bất
ngờ và không lường trước được. Bắt cóc thường được sử dụng nhằm tài trợ tài
chính cho các hoạt động khủng bố. Các hãng kinh doanh nước ngoài lớn là mục
tiêu chính bởi vì những người làm việc ở đây khá “nặng túi” và có thể trả những
khoản chuộc khá hậu hĩnh.
− Sự thay dổi các chính sách: Sự thay đổi chính sách của chính phủ cũng
có thể là do nguyên nhân mất ổn định xã hội hoặc là do có sự tham gia của các
chính đảng mới.
b. Sự công hữu hóa
Đôi khi một số chính quyền chiếm đoạt tài sản của các công ty trên lãnh
thổ của họ. Sự chiếm đoạt diễn ra dưới 3 hình thức: Tịch thu, xung công và quốc
hữu hóa.
• Tịch thu: Là việc chuyển tài sản của công ty vào tay chính phủ mà không
có sự đền bù nào cả. Thông thường không có cơ sở pháp lý yêu cầu đền bù hoặc
hoàn trả lại tài sản.
− Xung công: Là việc chuyển tài sản của tư nhân vào tay chính phủ nhưng
được đền bù

Luật dựa trên nền tảng tôn giáo được gọi là luật thần quyền. Có 3 luật thần
quyền nổi lên đó là Luật Đạo Hồi, đạo Hin-đu, luật Do Thái.
Các hãng hoạt động ở những nước tồn tại luật thần quyền phải nhạy cảm
với niềm tin và văn hóa địa phương. Họ nên đánh giá hết các hoạt động sản xuất,
kinh doanh bao gồm những thông lệ và chính sách đầu tư để đảm bảo phù hợp
với không chỉ pháp luật mà còn tôn giáo và văn hóa địa phương.
 Luật chống độc quyền:
Các đạo luật nhằm chống các công ty ấn định giá cả, chiếm lĩnh thị trường
và tận dụng những lợi thế do độc quyền gọi là đạo luật chống độc quyền. Những
đạo luật này cố gắng cung cấp cho khách hàng những sản phẩm đa dạng ở mức
giá hợp lý.
Các công ty bị chế tài bởi luật chống độc quyền cho rằng họ bị mất lợi thế
do phải chia sẻ thị phần với các đối thủ cạnh tranh trong nước. Vì vậy, những
hãng hoạt động ở những nước có đạo luật chống độc quyền thường được miễn
thuế trong một số giao dịch quốc tế. Một số tiểu thương cho rằng họ có thể có
Lớp cao học Đêm 5 – K20 – Nhóm 11 Trang 14
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hội Chuyên đề: Quản Trị Quốc Tế
điều kiện cạnh tranh tốt hơn đối với các công ty quốc tế lớn nếu không vi phạm
luật chống độc quyền.
d. Thuế quan
Chính phủ các nước dùng thu nhập từ thuế doanh thu cho nhiều mục đích.
Tiền thuế được dùng để trả lương, xây dựng quân đội, điều hòa thu nhập từ người
giàu sang người nghèo. Chính phủ cũng đánh thuế trực thu, còn gọi là thuế tiêu
dùng cho 2 mục đích:
- Nó giúp cho việc chi trả cho những hậu quả của việc tiêu dùng 1 sản
phẩm.
- Làm cho hàng hóa nhập khẩu đắt hơn.
Thuế tiêu dùng được đánh trên các hàng hóa như rượu và thuốc lá để điều trị
những bệnh tật sinh ra từ những sản phẩm này. Tương tự, thuế đánh trên xăng
dầu để xây dựng và sữa chữa cầu cống và đường xá. Thuế đánh trên những mặt

là biểu hiện sự dễ dàng đối với các cá nhân có thể di chuyển lên hay xuống trong
thứ bậc xã hội của một nền văn hóa hay không. Đối với hầu hết dân tộc trên thế
giới ngày nay, một trong hai hệ thống quyết định tính linh hoạt của xã hội là : hệ
thống đẳng cấp xã hội và hệ thống giai cấp xã hội.
 Hệ thống đẳng cấp
Hệ thống đẳng cấp là một hệ thống về phân tầng xã hội, trong đó con
người được sinh ra ở một thứ bậc xã hội hay đẳng cấp xã hội, không có cơ hội di
chuyển sang đẳng cấp khác.
Nhiều cơ hội về việc làm và thăng tiến bị từ chối trong hệ thống, những
nghề nghiệp nhất định bị hạn chế đối với thành viên trong mỗi đẳng cấp. Vì thế
có nhiều xung đột cá nhân là tất yếu, một thành viên ở đẳng cấp thấp không thể
giám sát một ai đó ở đẳng cấp cao hơn.
 Hệ thống giai cấp
Một hệ thống phân tầng xã hội trong đó khả năng cá nhân và hành động cá
nhân quyết định địa vị xã hội và tính linh hoạt của xã hội được gọi là hệ thống
giai cấp. Đây là hình thức thông dụng trong phân tầng xã hội trên thế giới ngày
nay. Ý thức về giai cấp của người dân trong một xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ
đến tính linh hoạt của xã hội đó. Các nền văn hóa có ý thức phân tầng cao thường
ít linh hoạt hơn và nó phải trải qua mâu thuẫn giai cấp cao hơn.
Ngược lại, ở mức ý thức giai cấp thấp hơn sẽ khuyến khích tính linh hoạt
xã hội và ít có mâu thuẫn. Phần lớn các công dân Mỹ cùng chung niềm tin rằng
làm việc tích cực có thể cải thiện các tiêu chuẩn sống và địa vị xã hội của họ. Họ
cho rằng các địa vị xã hội cao hơn gắn với thu nhập cao hơn và sung túc hơn, ít
Lớp cao học Đêm 5 – K20 – Nhóm 11 Trang 16
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hội Chuyên đề: Quản Trị Quốc Tế
xem xét đến nguồn gốc gia đình. Giàu có về mặt vật chất là quan trọng vì nó
khẳng định hay cải thiện địa vị xã hội. Khi mọi người cảm thấy vị trí xã hội cao
hơn trong tầm tay họ, họ sẽ có xu hướng bộc lộ sự hợp tác nhiều hơn ở nơi làm
việc.
b. Định hướng khuyến khích thành tích

hóa định hướng theo cá nhân có thể thấy khó tin vào sự hợp tác giữa các bên.
Các đối tác rất có thể sẽ rút lui khỏi sự hợp tác khi các mục tiêu của họ được thỏa
mãn.
 Nền văn hóa định hướng theo nhóm ( tập thể)
Một nền văn hóa trong đó một nhóm cùng chung chia sẽ trách nhiệm về
sự sung túc của mỗi thành viên được gọi là nền văn hóa định hướng theo nhóm.
Con người làm việc vì tập thể nhiều hơn các mục tiêu cá nhân và có trách nhiệm
trong nhóm đối với các hành động của họ. Toàn thể các thể chế xã hội, chính trị,
kinh tế và luật pháp phản ánh vai trò chủ yếu của nhóm. Mục tiêu duy trì sự hài
hòa nhóm được minh chứng tốt nhất thông qua cấu trúc gia đình.
Nhật Bản là một nền văn hóa khuynh hướng nhóm cổ điển. Các nhà quản
lý Nhật Bản ra quyết định chỉ sau khi xem xét ý kiến của tất cả các nhân viên cấp
dưới.
e. Các khác biệt văn hóa
Văn hoá của mỗi dân tộc có những nét đặc thù khác biệt nhau. Đây là vấn
đề hết sức quan trọng đối với các doanh nhân khi tham gia kinh doanh trên thị
trường quốc tế. Ảnh hưởng của văn hoá đối với mọi chức năng kinh doanh quốc
tế như tiếp thị, quản lý nguồn nhân công, sản xuất tài chính ở nhiều nơi, đặc
biệt những nơi có tính tự hào dân tộc cao như Nhật Bản, các công ty địa phương
cạnh tranh thành công hơn so với công ty nước ngoài do sử dụng văn hoá truyền
thống dân tộc để quảng cáo.
Mỗi một nền văn hoá lại có một mẫu thái độ và đức tin ảnh hưởng đến hầu
hết tất cả các khía cạnh của hoạt động con người. Các nhà quản lý càng biết
nhiều về những thái độ và đức tin của con người bao nhiêu thì họ càng được
chuẩn bị tốt hơn để hiểu tại sao người ta làm như vậy.
Việc thuê mướn nhân công, buôn bán của doanh nghiệp đều được điều
chỉnh và sở hữu bởi con người. Vì vậy, doanh nghiệp phải cân nhắc sự khác nhau
giữa những nhóm dân tộc và xã hội để dự đoán, điều hành các mối quan hệ và
hoạt động của mình. Sự khác nhau về con người đã làm gia tăng những hoạt
động kinh doanh khác nhau ở nhiều quốc gia trên thế giới. Điều đó buộc các nhà

Electric đại tu các công nghệ của các nhà máy Tungsram và hệ thống máy tính
của nó.
Khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất ngày càng phát triển dẫn đến quá
trình chuyên môn hóa ngày càng sâu. Sản xuất sản phẩm của nhiều nghành đã
mang tính toàn cầu, mỗi quốc gia chỉ sản xuất một cụm chi tiết hoặc thậm chí là
Lớp cao học Đêm 5 – K20 – Nhóm 11 Trang 19
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hội Chuyên đề: Quản Trị Quốc Tế
một chi tiết của sản phẩm. Điều này làm cho việc sản xuất giữa các quôc gia gắn
chặt với nhau hơn.
2.3. LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC QUỐC GIA
2.3.1 Khái niệm
Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia chỉ các yếu tố môi trường (kinh tế,
chính trị - pháp luật, văn hóa xã hội, công nghệ) trong một quốc gia có thể thúc
đẩy sự đổi mới trong các ngành công nghiệp cụ thể, vì thế tăng viễn cảnh thành
công cho các công ty thuộc quốc gia này khi hoạt động quốc tế.
2.3.2 Tầm quan trọng của lợi thế cạnh tranh quốc gia
Theo Porter thì không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở
tất cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành. Các quốc gia chỉ có thể thành công
trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững
trong một số ngành nào đó. Porter phê phán các học thuyết cổ điển trước đây cho
rằng ưu thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thương trường cạnh tranh quốc
tế là chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối của Adam Smith hay chỉ có lợi thế so sánh của
David Ricardo. Theo ông, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại
phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành của quốc gia đó.
Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất toàn cầu hóa thì nền tảng cạnh tranh sẽ
chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban cho sang
những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài
của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế.
Khi nền tảng của cạnh tranh càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri thức
mới thì vai trò của quốc gia càng tăng lên. Lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo

thiên nhiên và văn hóa độc đáo ở cả 3 miền của đất nước, nhưng muốn có lợi thế
cạnh tranh quốc gia để giành ưu thế trên thương trường quốc tế, Việt Nam cần có
sự phối kết hợp hài hòa một hệ thống cung cấp giá trị gia tăng theo “các viên đá
tảng kim cương của Porter”, những hoạt động giải quyết thị trường đầu ra, thị
trường đầu vào cung cấp các hoạt động cần thiết cho ngành du lịch, như cung cấp
đồ ăn thức uống, dịch vụ vui chơi giải trí và các ngành hỗ trợ, như giao thông cầu
đường, các ngành vận tải đường sông, đường bộ, hàng không, đến ngành quảng
cáo tạo ra sự liên kết chặt chẽ. Đây là những mối quan hệ tương hỗ cơ bản tạo
ra giá trị gia tăng của ngành. Sự hợp tác càng hiệu quả bao nhiêu thì năng suất
lao động của ngành càng cao bấy nhiêu và là cơ sở tạo ra lợi thế cạnh tranh của
ngành và quốc gia.
Lớp cao học Đêm 5 – K20 – Nhóm 11 Trang 21
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hội Chuyên đề: Quản Trị Quốc Tế
CHƯƠNG 3:
PHÁN ĐOÁN CÁC VẤN ĐỀ CHIẾN LƯỢC
3.1. KHÁI QUÁT VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ
3.1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh quốc tế
Chiến lược kinh doanh nói chung là sự tập hợp một cách thống nhất các
mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp các hoạt động của một đơn vị kinh
doanh chiến lược trong tổng thể nhất định. Chiến lược kinh doanh phản ánh các
hoạt động của một đơn vị kinh doanh chiến lược bao gồm quá trình đặt ra mục
tiêu và các biện pháp, các phương tiện sử dụng để đạt được mục tiêu đó.
Chiến lược kinh doanh quốc tế là một bộ phận trong chiến lược kinh doanh
và phát triển của công ty, nó bao gồm các mục tiêu dài hạn mà công ty cần phải
đạt được thông qua các hoạt động kinh doanh quốc tế, các chính sách và các giải
pháp lớn nhằm đưa hoạt động quốc tế hiện tại của công ty phát triển lên một
trạng thái mới cao hơn về chất.
3.1.2 Vai trò của chiến lược
Chiến lược kinh doanh đóng vai trò định hướng hoạt động cho doanh
nghiệp. Chiến lược kinh doanh chỉ ra được những lợi thế và bất lợi của doanh

chủ yếu sau:
* Đại diện bán hàng.
Đại diện bán hàng là hình thức bán hàng không mang danh nghĩa của
mình mà lấy danh nghĩa của người ủy thác nhằm nhận lương và một phần hoa
hồng trên cơ sở giá trị hàng hóa bán được. Trên thực tế, đại diện bán hàng hoạt
động như là nhân viên bán hàng của công ty ở thị trường nước ngoài. Công ty sẽ
ký hợp đồng trực tiếp với khách hàng tở thị trường đó.
* Đại lý phân phối.
Đại lý phân phối là người mua hàng hóa của công ty để bán theo kênh tiêu
thụ ở khu vực mà công ty phân định. Công ty khống chế phạm vi phân phối,
kênh phân phối ở thị trường nước ngoài. Đại lý phân phối chấp nhận toàn bộ rủi
ro liên quan đến việc bán hàng hóa ở thị trường đã phân định và thu lợi nhuận
qua chênh lệch giữa giá mua và giá bán.
b. Xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức bán hàng hóa và dịch vụ của công ty ra
nước ngoài thông qua trung gian (thông qua người thứ 3)
Các trung gian mua bán chủ yếu trong kinh doanh xuất khẩu là : đại lý,
công ty quản lý xuất nhập khẩu và công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. Các trung
Lớp cao học Đêm 5 – K20 – Nhóm 11 Trang 23
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hội Chuyên đề: Quản Trị Quốc Tế
gian mua bán này không chiếm hữu hàng hóa của công ty nhưng trợ giúp công ty
xuất khẩu hàng hóa sang thị trường nước ngoài.
* Đại lý (Agent)
Đại lý là các cá nhân hay tổ chức đại diện cho nhà xuất khẩu thực hiện
một hay một số hoạt động nào đó ở thị trường nước ngoài.
Đại lý chỉ thực hiện một công việc nào đó cho công ty ủy thác và nhận thù
lao. Đại lý không chiếm hữu và sở hữu hàng hóa. Đại lý là người thiết lập quan
hệ hợp đồng giữa công ty và khách hàng ở thị trường nước ngoài.
* Công ty quản lý xuất khẩu (Export management company)
Công ty quản lý xuất khẩu là các công ty nhận ủy thác và quản lý công tác

Các đại lý vận tải này cũng thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu và phát
triển nhiều loại hình dịch vụ giao nhận hàng hóa đến tận tay người nhận. Khi các
công ty xuất khẩu thông qua các đại lý vận tải hay các công ty chuyển phát hàng
rhì các đại lý và các công ty đó cũng làm các dịch vụ xuất nhập khẩu thông qua
hàng hóa đó. Bản chất của các đại lý vận tải hoạt động như các công ty kinh
doanh dịch vụ giao nhận vận chuyển và dịch vụ xuất nhập khẩu, thậm chí cả dịch
vụ bao gói hàng hóa cho phù hợp với phương thức vận chuyển, mua bảo hiểm
hàng hóa cho hoạt động của họ.
3.2.1.3 Ưu nhược điểm của phương pháp gia nhập thông qua xuất
khẩu
a. Ưu điểm
Thâm nhập thị trường nước ngoài thông qua hình thức xuất khẩu sẽ giúp
cho các công ty tăng được doanh số bán hàng, tiếp thu được kinh nghiệm kinh
doanh quốc tế, tận dụng được những năng lực dư thừa và tăng thu ngoại tệ cho
đất nước. Đặc biệt, hình thức thâm nhập này ít bị rủi ro, không tốn nhiều chi phí
nên dễ áp dụng trong giai đoạn đầu mới thâm nhập thị trường quốc tế.
b. Nhược điểm
− Khó khăn trong việc tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng nên
không có các biện pháp mạnh để cạnh tranh.
− Các công ty cũng không am hiểu sâu sắc phong tục tập quán, luật pháp
của thị trường nơi công ty thâm nhập nên cũng dễ bị mất thị trường.
− Chi phí vận chuyển cao, khó khăn về thuế cũng như các rào cản thương
mại.
3.2.2 Cấp phép (Licensing)
3.2.2.1 Khái niệm
Lớp cao học Đêm 5 – K20 – Nhóm 11 Trang 25

Trích đoạn Triết lý chiến lược của MNC Các chiến lược CÁC KHOẢN THANH TOÁN NGOÀI SỔ SÁCH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status