SKKN. ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THÍ NGHIỆM VẬT LÍ THCS - Pdf 16

Tất cả vì học sinh thân yêu
SKKN: Đổi mới phương pháp dạy học một giờ vật lý có thí nghiệm
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
I/- LỜI MỞ ĐẦU:
Đảng và Nhà nước luôn quan trọng phát triển sự nghiệp giáo dục nghị quyết, Hội
nghị BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá 8 lần 2 đã xác định "Đổi mới mạnh
mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục nối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy
sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại
vào quá trình dạy học". Để nâng cao giáo dục trung học cơ sở, trước hết và quan trọng nhất
phải đổi mới phương pháp dạy học, tại mục 2 điều 4 Luật Giáo dục đã ghi rõ "Phương pháp
giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tư duy sáng tạo của người học, bồi
dưỡng năng lực tự học lòng say mê học tập và ý chí vươn lên". Tuy nhiên trong quá trình
giảng dạy môn Vật lý THCS hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, chính vì môn vật lý là một
trong những môn khoa học thực nghiệm được Toán học hoá ở mức độ cao, nhất là hiện nay
với yêu cầu đòi hỏi chất lượng ngày càng cao. Vậy hơn lúc này hết tất cả các thầy giáo, cô
giáo càng phải chủ động cần thiết nâng cao tính tự lực và phát huy tính chủ động sáng tạo
của học sinh trong học tập các bộ môn nói chung và môn vật lý nói riêng.
Do vậy khi giảng dạy môn vật lý đối với người giáo viên phải dạy như thế nào để
phát huy ở mỗi đối tượng từ học sinh giỏi đến học sinh yếu kém, có thế mới theo sát và bắt
kịp với khoa học kỹ thuật của nhân loại trong thời kỳ đổi mới và phát triển. Nhiệm vụ trọng
tâm của công tác giảng dạy hiện nay đang đề cập sôi nổi và tích cực phương pháp dạy học
theo hướng đổi mới (lấy học sinh làm trung tâm). Mà trọng tâm của nó là tính tích cực hoá
học sinh trong quá trình học tập thì việc thực hành thí nghiệm theo một quy trình nhất định
là công cụ quan trọng để đạt được thành công đó.
Trong trường THCS học sinh mới bắt đầu được học môn Vật Lý năng lực nhận thức
của các em chưa cao, do vậy càng cần phải thực hiện các thí nghiệm cho các bài học để gây
hứng thú học tập, tích cực hoá học tập của học sinh đúng như các nhà khoa học đã đúc kết:
nghe dễ quên, nhìn dễ nhớ, làm dễ hiểu. Chính vì vậy nếu giáo viên phát huy tính tự lực tích
cực chủ động sáng tạo của học sinh trong mỗi giờ học cũng góp phần thiết thực nâng cao
quá trình tiếp thu bài học của học sinh. Việc dạy học môn vật lý trong trường THCS không
những nhằm truyền thụ cho học sinh những kiến thức cơ bản về môn vật lý, mà còn là trang

sinh tôi thấy còn hạn chế rất nhiều, tỷ lệ học sinh yếu kém còn cao.
Với thực trạng như vậy tôi đưa ra SKKN: Đổi mới phương pháp dạy học một giờ Vật
lý có thí nghiệm nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức:
* Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 7A, 7B, 7C Trường THCS LĐĐ “C” – Đông Hải.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Ng ười thực hiện : Nguyễn Ngọc Thành Trang 2
Tất cả vì học sinh thân yêu
Qua quá nghiên cứu và tìm hiểu tôi nhận thấy rằng nghiên cứu thực chất việc tự lực
nắm vững kiến thức Vật lý và phát huy tính tích cực, tự lực chủ động, sáng tạo của học sinh
trong một giờ học Vật lý.
* Phạm vi nghiên cứu:
Do những điều kiện khách quan và chủ quan, tôi chỉ tập trung nghiên cứu một hoạt
động có liên quan trực tiếp đến công tác giảng dạy bộ môn Vật lý nói chung và một giờ Vật
lý nói riêng trong trường THCS.
* Phương pháp nghiên cứu:
- Thực nghiệm.
- So sánh trò chuyện.
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I- CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Để đạt được kết quả tốt trong tất cả các môn học nói chung và môn Vật lý nói riêng
thì một trong các yếu tố quan trọng nhất là người học phải có hứng thú đặc biệt là một Vật
lý mà mỗi sự vật hiện tượng đều phải thực hiện một yếu tố, một bản chất nào đó của một
quy luật tự nhiên trong quá trình dạy học việc đổi mới phương pháp là vô cùng cần thiết sao
cho vận dụng các phương thức trong từng bài, từng thí nghiệm, từng phần phải phù hợp với
đối tượng học sinh mà mục đích cuối cùng là học sinh chủ động làm việc tích cực hoạt động
trong mỗi thao tác trong mỗi giờ học đặc biệt đối với giờ học có tiết học Vật lý mà mục đích
sử dụng các thí nghiệm vật lý trong quá trình dạy học thí nghiệm Vật lý được sử dụng các
mục đích sau:
1- Thí nghiệm Vật lý được sử dụng để xây dựng kiến thức mới.

- Mục tiêu của tiết dạy.
- Nhiệm vụ của học sinh.
- Kiến thức xuất phát cần thiết.
2- Tổ chức tình huống:
Đây là một vấn đề then chốt trong giờ Vật lý có thí nghiệm bởi vì khác với giờ dạy,
dùng thí nghiệm để chứng minh tiết dạy Vật lý có thí nghiệm yêu cầu học sinh phải thao tác
tư duy suy luận để giải quyết các vấn đề mà giáo viên nêu ra. Do vậy để tiết học có hiệu quả
cao, phát huy tính tối đa, tính tích cực của học sinh cần phải tiến hành triệt để các bước sau.
- Kỹ năng quan sát: Bước đầu định hướng cho học sinh biết quan sát một cách có
mục đích, có kế hoạch trong một trường hợp có thể học sinh tự vạch ra kế hoạch quan sát
chứ không tuỳ tiện ngẫu nhiên giáo viên có thể tổ chức cho học sinh trao đổi kỹ trong nhóm
về mục đích và kế hoạch quan sát rồi mới quan sát.
- Kỹ năng thu nhập và xử lý thông tin:
Thu được từ quan sát thí nghiệm nên luôn chú trọng việc thu được lập thành bảng
biểu một cách trung thực việc xử lý các thông tin dự liệu phải theo những phương pháp xác
Ng ười thực hiện : Nguyễn Ngọc Thành Trang 4
Tất cả vì học sinh thân yêu
định thực chất là phương pháp suy luận từ những dữ liệu, số liệu cụ thể suy ra những kết
luận chung hay từ những tích chất, quy luật chung mà suy ra những biểu hiện cụ thể trong
khi hình thành ở mỗi lớp phải chú trọng nhiều đến phương pháp suy luận quy nạp chưa
dùng phương pháp suy diễn dựa trên những kiến thức toán học phức tạp trong giai đoạn vận
dụng kiến thức có sử dụng phương pháp suy luận, lôgíc chú trọng phương pháp ngôn ngữ
của học sinh yêu cầu học sinh sử dụng những ngôn ngữ, thuần ngữ khoa học để giải quyết
các hiện tượng, các quá trình rèn luyện kỹ năng, diễn dịch rõ ràng chính xác bằng ngôn ngữ
Vật lý thông qua việc thảo luận nhóm và việc trình bày các kết quả quan sát nghiên cứu tạo
điều kiện để học sinh được làm, được nói nhiều hơn. Tóm lại để dạy có hiệu quả cao phải
phát huy tính tích cực của học sinh cần tiến hành triệt để các bước sau:
Bước 1: Chia học sinh trong lớp theo nhóm.
Chỉ có chia lớp thành 5 - 6 nhóm, các học sinh trong nhóm được phân bổ học sinh
giỏi có, khá có, trung bình có và yếu kém có.

duy, các suy luận lôgíc đẻ vạch ra các nét bản chất.
* Củng cố sự lĩnh hội kiến thức của học sinh vận dụng kiến thức và thực tiễn, tuy
nhiên việc tổ chức hoạt động học tập đối với các tiết dạy cần phải kết hợp lồng ghép 4 nội
dung trên một cách hợp lý theo một trình tự nhất định, bởi hệ thống câu hỏi nêu vấn đề mà
giáo viên đã chuẩn bị.
Ví dụ: Khâu tổ chức học tập đối với tiết dạy:
Bài 19: Sự nổi vì nhiệt của chất lỏng (Vật lý lớp 6).
1- Câu hỏi có thể đưa ra: Khi đun nóng một ấm nước đầy liệu nước có tràn ra ngoài
không vì sao. Không yêu cầu học sinh trả lời.
Để giải quyết được vấn đề này: Bài hôm nay.
? Có hiện tượng gì xảy ra với mực nước trong ống thuỷ tinh khi ta đặt bình vào chậu
nước nóng: H19.2 (SGK) Vật lý 6.
? Nếu sau đó ta đặt bình cầu vào nước lạnh thì có hiện tượng gì xảy ra giáo viên
không yêu cầu học sinh trả lời mà học sinh dự đoán.
? Em có nhận xét gì về sự nở vì nhiệt của ba chất lỏng: Nước, rượu và dầu (H19.3).
2- Giáo viên cùng học sinh làm thí nghiệm giải quyết vấn đề đối với mỗi thí nghiệm
của nhóm học tập, cần phải làm thí nghiệm và quan sát, ghi chép các kết quả thí nghiệm và
chính từ các kết quả thí nghiệm bằng suy luận các thao tác tư duy, yêu cầu học sinh phải
vạch ra những nét bản chất của bài đó là:
* Chất lỏng nở ra khi nóng lên, co lại khi lạnh đi.
* Các chất lỏng khác nhau nở vì nhiệt khác nhau.
Và thông qua đó cho học sinh trả lời các câu hỏi ở phần vận dụng của bài và làm các
bài tập trắc nghiệm ở bài tập dưới đây tôi xin được trình bày một bài sau cụ thể.
III/- BÀI SOẠN MỘT TIẾT DẠY VẬT LÝ CÓ THÍ NGHIỆM:
Tên bài: GƯƠNG CẦU LÕM (tiết 8 theo PPCT)
1. Mục tiêu:
- Nhận biết được ảnh ảo tạo bởi gương cầu lõm.
Ng ười thực hiện : Nguyễn Ngọc Thành Trang 6
Tất cả vì học sinh thân yêu
- Nêu được những tính chất của ảnh ảo bởi gương cầu lõm.

- Ảnh quan sát được trong
gương.
- Độ lớn của ảnh so với vật.
I. Ảnh tạo bởi
gương cầu lõm.
1. Thí nghiệm:
Hình 8.1 (SGK)
Ng ười thực hiện : Nguyễn Ngọc Thành Trang 7
Tất cả vì học sinh thân yêu
? Ảnh tạo bởi gương cầu lõm có tính chất như
thế nào?
? Ảnh của vật tạo bởi gương cầu lõm như thế
nào so với ảnh tạo bởi gương phẳng?
GV: Cho các nhóm nêu các kết quả thông qua thí
nghiệm.
? Qua các thí nghiệm trên em hãy tìm từ thích
hợp hoàn thành lời kết luận sau:
GV: Cho các nhóm lên điền vào bảng phụ.
- GV: Đây chính là nội dung phần kết luận 1:
ảnh tạo vởi gương cầu lõm.
So sánh sự giống và khác
nhau giữ ảnh tạo bởi gương
cầu lõm so với gương
phẳng.
HS: Nhắc lại nội dung kết
luận.
- Chùm tia sáng song song.
- Chùm tia sáng hội tụ
- Chùm tia sáng phân kỳ.
2. Kết luận

theo nhóm và rút ra kết
luận.
- Chùm tia phản xạ song
song.
HS thảo luận và điền vào
bảng phụ.
HS quan sát và thảo luận về
cấu tạo của pha đèn pin.
Cách điều chỉnh pha đèn so
với vị trí của bóng đèn
II. Sự phản xạ ánh
sáng trên gương cầu
lõm.
1. Đối với chùm tia
tới song song.
a) Thí nghiệm:
Hình 8.2 (SGK)
b. Kết luận:
2. Đối với chùm tia
tới phân kỳ.
a. Thí nghiệm:
Hình 8.4 (SGK)
b. Kết luận:
Ng ười thực hiện : Nguyễn Ngọc Thành Trang 8
Tất cả vì học sinh thân yêu
Em hãy trả lời câu hỏi sau: (C4)
- GV: Vậy đối với chùm tia tới phân kỳ khi
gặp gương phẳng thì chùm tia phản xạ có đặc
điểm như thế nào?
- GV: Hướng dẫn HS tương tự như thí nghiệm

bài tập 8.1; 8.2; 8.3.
III- Vận dụng:
1. Tìm hiều đèn
pin.
Hình 8.5 (SGK)
a) Vận dụng:
Câu 1: Chọn câu trả lời đầy đủ nhất.
Gương cầu lõm có thể tạo ra ảnh.
Ng ười thực hiện : Nguyễn Ngọc Thành Trang 9
Tất cả vì học sinh thân yêu
A. ảo, lớn hơn vật.
B. Thật.
C. Ảnh lớn hơn vật khi vật đặt gần sát gương, ảnh thật khi vật ở xa gương.
D. Hứng được trên màn chắn.
Câu 2: Chọn nội dung trả lời đúng nhất.
Chiếu một chùm sáng song song lên một gương cầu lõm thì chùm sáng phản xạ là
A. Chùm sáng hội tụ, điểm hội tụ này ở trước gương.
B. Chùm sáng song song.
C. Chùm sáng gồm các tia sáng trực tiếp giao nhau một điểm.
D. Chùm sáng phân kỳ.
C- KẾT LUẬN:
I- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
1- Với phương pháp giảng dạy như trên, bằng một số kinh nghiệm trong quá
trình nghiên cứu giảng dạy tôi đã thu được kết quả cụ thể như sau:
Lớp 8A; Số học sinh hứng thú học tập môn Vật lý là: 100%.
Trong đó: 90% học sinh nắm được bài tại lớp.
Lớp 8B: Số học sinh hứng thú học tập môn Vật lý là: 100%.
Trong đó: 95% học sinh nắm được bài tại lớp.
Lớp 8C: Số học sinh hứng thú học tập môn Vật lý là: 100%.
Trong đó: 100% học sinh nắm được bài tại lớp.

tự lập trong mọi tình huống Vật lý.
Bản thân tôi chỉ xin trình bày ý kiến trong phạm vi hẹp, chỉ là kinh nghiệm nhỏ được
tách ra từ những kinh nghiệm thực tế giảng dạy. Do đó không tránh khỏi những thiếu sót,
thiếu tính khách quan, rất mong được lĩnh hội các thông tin đánh giá để tôi tiếp tục nghiên
cứu hơn nữa, để cùng đồng nghiệp đạt được mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả
trong công tác giảng dạy.
LĐĐA, ngày 22 tháng 3 năm 2010
Người thực hiện
Nguyễn Ngọc Thành
Ng ười thực hiện : Nguyễn Ngọc Thành Trang
11
Tất cả vì học sinh thân yêu
Ng ười thực hiện : Nguyễn Ngọc Thành Trang
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status