TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
TẬP ĐOÀN BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
KHI GIA NHẬP WTO
Họ và tên sinh viên : Lê Thị Thuỳ Dƣơng
Lớp : A8
Khoá : 41C
Giáo viên hƣớng dẫn : Th.S Hoàng Xuân Bình
HÀ NỘI, THÁNG 11/2006 MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ BỐI CẢNH THỊ
TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO 3
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 3
1. Cạnh tranh 3
Khái niệm cạnh tranh 3
Nguồn nhân lực 46
Trình độ công nghệ 51
Quản lý, sử dụng vốn đầu tư 52
5. Khả năng liên doanh liên kết của VNPT 53
III. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VNPT KHI GIA NHẬP WTO 56
1. Cơ hội 56
2. Thách thức 57
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
VNPT KHI GIA NHẬP WTO 59
I. KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN VIỄN THÔNG CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRÊN
THẾ GIỚI 59
1. Kinh nghiệm về chính sách hỗ trợ phát triển viễn thông ở Ấn Độ 59
2. Kinh nghiệm về phát triển công nghệ thông tin và chính sách viễn thông của
Nhật Bản 63
3. Một số nhận xét rút ra từ các bài học kinh nghiệm về phát triển viễn thông có
thể vận dụng vào Việt Nam 65
II. GIẢI PHÁP VỀ PHÍA CHÍNH PHỦ 66
1. Quyết tâm thực hiện các chiến lƣợc đã đề ra 66
2. Tăng cƣờng năng lực và hiệu quả quản lý Nhà nƣớc về BCVT & CNTT 67
3. Nâng cao năng lực 68
4. Huy động nguồn vốn trong và ngoài nƣớc 69
Vốn huy động trong nước 69 Vốn huy động ngoài nước 69
5. Thúc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá ở Tập đoàn Bƣu chính Viễn thông Việt
Nam 69
6. Phát triển thị trƣờng BCVT & CNTT và nội dung thông tin 70
7. Phát triển nguồn nhân lực cho BCVT & CNTT 71
8. Giải pháp nghiên cứu triển khai 71
tiễn.
Dịch vụ viễn thông là loại hình dịch vụ rất đa dạng và phong phú và do
khuôn khổ hạn chế nên đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài không thể
nghiên cứu tất cả các vấn để liên quan tới các dịch vụ viễn thông mà tập trung
nghiên cứu năng lực cạnh tranh một số dịch vụ viễn thông quan trọng của VNPT
từ năm 2000 đến nay và triển vọng đến năm 2010.
Đề tài phân tích năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông
Việt Nam sử dụng phương pháp chủ yếu là phân tích, tổng hợp đánh giá dựa trên
yếu tố cung và cầu; bao gồm các chỉ số như doanh thu, cước phí, thị phần, chất
lượng dịch vụ, tình hình tăng trưởng và phát triển của Tập đoàn. Bên cạnh đó, đề
tài cũng sử dụng phương pháp tổng hợp – phân tích để xử lý các số liệu, những
2
chỉ số so sánh quốc tế, bao gồm phân tích và so sánh chính sách, hoạt động, cước
phí, chất lượng và công nghệ cũng như phân tích chỉ số công nghệ thông tin viễn
thông, chỉ số mức độ chuẩn thiết bị hệ thống mạng.
Bố cục của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh và bối cảnh thị trường viễn
thông Việt Nam trước khi gia nhập WTO
- Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu chính Viễn
thông Việt Nam
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu
chính Viễn thông Việt Nam khi gia nhập WTO
Cuối cùng, để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cảm ơn những
kiến thức quý báu mà các thầy cô ở trường Đại học Ngoại Thương, đặc biệt
Khoa Kinh tế Ngoại Thương đã truyền thụ cho em. Bên cạnh đó, em cũng xin
được cảm ơn Thạc sỹ Hoàng Xuân Bình – Giáo viên hướng dẫn, đã nhiệt tình
Tác động của cạnh tranh
Cạnh tranh chính là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của thị trường, nó có những tác
động tích cực nhất định đến thị trường: thứ nhất cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh
4
giữa cung và cầu, thứ hai là cạnh tranh cho phép sử dụng các nguồn tài nguyên
một cách tối ưu; thứ ba cạnh tranh khuyến khích áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật; thứ tư là thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng và thứ
năm là thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quả
kinh tế.
Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh: Các doanh nghiệp, các nhà sản
xuất khi tham gia thị trường buộc phải chấp nhận sự cạnh tranh với mục tiêu
trước tiên và sau cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Nhưng người tiêu dùng có quyền
lựa chọn những gì mà mình thích, những thứ mà họ cho là tốt nhất, phù hợp
nhất. Như vậy cạnh tranh buộc các nhà sản xuất luôn phải tìm cách nâng cao
chất lượng sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng yêu cầu của khách hàng, của thị trường.
Mặt khác, cạnh tranh có khả năng tạo ra một áp lực liên tục với giá cả, buộc các
nhà sản xuất phải lựa chọn phương án sản xuất tối ưu với mức chi phí nhỏ nhất,
chất lượng tốt nhất, công nghệ phù hợp nhất.
Đối với nền kinh tế xã hội: cạnh tranh là động lực để phát triển kinh tế,
nâng cao năng suất lao động xã hội. Cạnh tranh loại bỏ các doanh nghiệp có chi
phí cao trong sản xuất, điều này buộc các nhà sản xuất phải lựa chọn phương án
sản xuất có chi phí thấp nhất. Đó cũng chính là quy luật: Cạnh tranh là động lực,
là bàn tay vô hình của thị trường (Adam Smith). Vì vậy, cạnh tranh tạo sự đổi
mới, mang lại sự tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm nguồn tài nguyên vốn ngày càng
bị hạn chế. Ngoài ra, cạnh tranh còn là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp
một cách hài hoà, hợp lý giữa lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của người tiêu
dùng và lợi ích của toàn xã hội.
vì vậy, để đảm bảo cho môi trường cạnh tranh luôn lành mạnh và phát huy được
6
những tác động tích cực của nó, Nhà nước cần tạo ra một môi trường hành lang
pháp lý phù hợp và ổn định để các doanh nghiệp có thể phát huy được khả năng
cạnh tranh của mình đồng thời hạn chế được các tác động tiêu cực của cạnh
tranh làm ảnh hưởng đến hiệu quả của nền kinh tế.
2. Năng lực cạnh tranh
2.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Để hiểu đầy đủ nội hàm của khái niệm năng lực cạnh tranh thì cần phải
tiếp cận ở hai cấp độ: vĩ mô và vi mô. Ở cấp độ vĩ mô có năng lực cạnh tranh
quốc gia, ở cấp độ vi mô có năng lực cạnh tranh của ngành, của doanh nghiệp và
của sản phẩm.
Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng nâng cao mức sống một cách
nhanh chóng và bền vững, tức là đạt được mức tăng trưởng cao và ổn định, được
đo lường bằng mức độ thay đổi trong thu nhập bình quân đầu người qua các
năm. Theo cách tiếp cận này thì trình độ và chất lượng hoạt động của các doanh
nghiệp là một yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tất cả những gì mà doanh
nghiệp có thể sử dụng để cạnh tranh trong việc thực hiện mục tiêu đáp ứng nhu
cầu thị trường và mục tiêu của doanh nghiệp. Năng lực của doanh nghiệp không
phải chỉ là những yếu tố hữu hình mà khách hàng có thể nhìn thấy được như
công nghệ sử dụng trong cung cấp dịch vụ, dây truyền sản xuất, đội ngũ cán bộ
công nhân viên… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn có cả những yếu
tố vô hình nữa. Các yếu tố vô hình này có thể là dịch vụ khách hàng, thái độ của
đội ngũ bán hàng, khách hàng cảm nhận về doanh nghiệp sau mỗi lần giao
dịch… Chẳng hạn như Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)
8
của hàng hoá dịch vụ bởi những yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp như uy tín doanh nghiệp, nguồn vốn, văn hóa doanh nghiệp, trình độ
nhân lực, năng lực quản lý và lãnh đạo… có tác động trực tiếp đến giá cả, chất
lượng mẫu mã… của hàng hoá dịch vụ. Đồng thời sự đua tranh giữa những
người sản xuất, nhà cung cấp trong nước và quốc tế để chiếm ưu thế bằng cách
đổi mới và ứng dụng công nghệ mới và trình độ chuyên môn cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến hiệu quả và chất lượng của hàng hoá dịch vụ. Ngược lại, năng lực
cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ chính là yếu tố quyết định năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những sản phẩm
có chất lượng tốt, giá cả hợp lý trên thị trường trong nước và quốc tế sẽ chiếm ưu
thế hơn những hàng hoá, dịch vụ được sản xuất kém hiệu quả hơn do dó sẽ có cơ
hội tiêu thụ được nhiều hàng hoá dịch vụ hơn các doanh nghiệp khác.
Năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có
mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Một quốc gia hay một nền kinh tế nếu có khả
năng cạnh tranh tốt thì sẽ giúp các doanh nghiệp tạo dựng được một năng lực
cạnh tranh tốt hơn trên thị trường thế giới. Nói cách khác, năng lực cạnh tranh
quốc gia là nguồn hình thành nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngược
lại, khi các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thì sẽ góp phần vào nâng cao
thu nhập và tác động tích cực đến môi trường cạnh tranh và do đó, nó góp phần
vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
2.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khi đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, người ta thường
dựa trên các tiêu chí sau:
Thứ nhất là khả năng duy trì và mở rộng thị phần. Có ý kiến cho rằng, thị
phần biểu hiện rõ nét nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên
biệt quan trọng bởi vì đây là một sản phẩm dịch vụ đặc biệt, quá trình sản xuất
và tiêu dùng là một, do đó nếu khâu sản xuất không được đảm bảo thì sẽ ảnh
hưởng trực tiếp ngay đến chất lượng của sản phẩm – dịch vụ và hơn nữa là cùng
lúc có thể gây ảnh hưởng cho nhiều khách hàng. Bên cạnh đó, năng lực cạnh
tranh của sản phẩm còn được thể hiện ở giá cả sản phẩm, uy tín sản phẩm và một
số yếu tố khác nữa. Ngoài ra, tính đa dạng của sản phẩm – dịch vụ cũng góp
phần tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Sản phẩm – dịch vụ càng đa
dạng phong phú thì khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng càng cao.
Thứ năm là khả năng tiếp cận và khai thác có hiệu quả các nguồn lực
phục vụ quá trình kinh doanh. Tiêu chí này được nhìn nhận trên các khía cạnh
sau:
- Khả năng tiếp cận và xử lý các nguồn thông tin hữu ích phục vụ quá trình
ra quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Có nhiều loại thông tin mà doanh
nghiệp cần: thông tin về khả năng cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại, thông
tin về công nghệ mới, thông tin về đối thủ cạnh tranh, thông tin về hành lang
pháp lý… Doanh nghiệp cần luôn cập nhật với các thông tin này để đưa ra những
quyết định kinh doanh kịp thời và chính xác.
- Khả năng tiếp cận, tuyển dụng và sử dụng được các nguồn lực có trình độ
bên ngoài thị trường đặc biệt của đối thủ cạnh tranh.
- Khả năng tiếp cận các nguồn lực vật chất và sử dụng với hiệu suất cao.
Doanh nghiệp nào có ưu thế so với đối thủ cạnh tranh trong việc tiếp cận với các
nhà cung cấp các yếu tố đầu vào có chất lượng và giá cả hợp lý thì không những
giúp giảm giá thành sản phẩm mà còn giúp nâng cao chất lượng sản phẩm.
11
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp. Năng lực tài chính được thể hiện
thông qua quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, khả năng huy
động các nguồn tài chính bên trong và bên ngoài doanh nghiệp phục vụ các mục
tranh. Đó là lý do tại sao một chiến lược thương hiệu tốt đóng vai trò là đường
hướng giúp doanh nghiệp vạch ra kế hoạch đạt được những lợi thế hơn hẳn đối
thủ cạnh tranh dưới mắt người tiêu dùng. Và hầu như sự ưa chuộng chỉ có thể đạt
được nhờ yếu tố khác biệt hoá, mang lại cho khách hàng những lợi ích mà đối
thủ doanh nghiệp không làm được. Bằng việc khác biệt hoá, doanh nghiệp đã
đem đến cho khách hàng những lý do để có thể quyết định mua hàng của doanh
nghiệp nhiều hơn.
ii. TÌNH HÌNH CẠNH TRANH TRÊN THỊ TRƢỜNG BƢU CHÍNH
VIỄN THÔNG VIỆT NAM
1. Vài nét khái quát về thị trƣờng Viễn thông Việt Nam
Hiện nay, thị trường Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã có 6 nhà cung
cấp dịch vụ Bưu chính Viễn thông và CNTT trong đó có 6 nhà cung cấp dịch vụ
thông tin di động là VNPT, Viettel, EVN Telecom, Hanoi Telecom, Saigon
Telecom, S-Fone và 8 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet. Tính đến nay,
tổng số thuê bao điện thoại của Việt Nam đạt khoảng 20,44 triệu, tương ứng với
mật độ khoảng 24,42 máy/100 dân. Trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông
Việt Nam (VNPT) đang quản lý và khai thác trên 15,2 triệu thuê bao điện thoại,
chiếm gần 94% thị phần Việt Nam; sản lượng điện thoại quốc tế đạt trên 61% thị
phần. Với thị phần như hiện nay thì VNPT đang là nhà khai thác các dịch vụ
viễn thông lớn nhất trong cả nước. Hai mạng di động MobiFone và Vinaphone
của VNPT chiếm thị phần lớn nhất với trên 8 triệu khách hàng, còn lại thuộc về
13
Viettel Mobile, S-Fone v EVN Telecom. Tng cụng ty Vin thụng Quõn i
(Viettel) l mt gng mt mi nhng n nay, Viettel ó t trờn 4.5 triu thuờ
bao, chim 13,5% th phn trờn th trng vin thụng Vit Nam. Viettel ang l
nh cung cp dch v vin thụng ng th hai. S tng nhanh ca mt in
thoi l nh cú s bựng n ca cỏc mng di ng. Trong 5 nm qua, khi tc
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
4
4.5
5
Mức tăng
tr-ởng
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Năm
biểu đồ mức tăng tr-ởng thuê bao điện thoại
(Đơn vị: triệu thuê bao )
14
Cũng theo nguồn tin từ Hot Telecom – hãng nghiên cứu của Canada cho
biết, đến năm 2010, tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, thị trường di động
sẽ đạt tới 1,5 tỷ thuê bao. Và trên tổng số 15 quốc gia khu vực này, Việt Nam
được đánh giá cao bởi tiềm năng và tốc độ phát triển vượt bậc, đạt 45 triệu thuê
bao di động, vượt qua cả Thái Lan (40 triệu thuê bao); Hàn Quốc (42 triệu thuê
bao); Malaysia (32 triệu thuê bao); Úc (21 triệu thuê bao) và Hồng Kông (8 triệu
thuê bao)… Điều này cho thấy thị trường viễn thông Việt Nam còn rất nhiều
tiềm năng phát triển.
2. Tình hình cạnh tranh trên thị trƣờng Viễn thông
gọi và thời hạn nghe, đã tạo ra nét mới trên thị trường thông tin di động và giúp
cho mạng di động CDMA (Code Division Mutiple Access) này gia tăng đáng kể
lượng thuê bao. Chỉ cần 100.000 đồng tài khoản và kích hoạt 1 cuộc gọi, khách
hàng có thể nhận cuộc gọi không hạn chế thời gian, miễn là tài khoản còn tiền,
đồng thời mạng này cũng đưa ra một cách tính cước mới rất hấp dẫn đối với thuê
bao trả trước chỉ với 270 đồng/ block 6 giây. Cuộc đua khuyến mại giữa các
mạng di động dường như trở nên gấp gáp hơn. Đầu tháng 3, Vinaphone và
Mobiphone đã đồng loạt tổ chức các chương trình khuyến mại từ 1/3 đến 31/3,
cho phép các thuê bao trả trước mới nhân đôi tài khoản khi hoà mạng. Hơn thế,
Vinaphone còn tặng thêm 10% giá trị thẻ nạp cho các thuê bao nạp thêm tiền vào
tài khoản, Mobiphone cũng khuyến mãi mang tính giảm cước cho khách hàng
bằng cách nhân đôi tài khoản cho các bộ kit 75.000 đồng, tặng thêm 30% giá trị
thẻ nạp đối với 3 thẻ nạp tiền tiếp theo. Vừa kết thúc chương trình này,
MobiFone đã chuyển ngay sang chương trình “Cả nhà đều vui”, kéo dài trong
suốt tháng 4/2006, với nội dung khuyến mại giảm 10% cước cuộc gọi tới các
16
thành viên trong nhóm có cùng hộ khẩu gia đình. Không chịu thua kém, Viettel
Mobile tung ra chương trình khuyến mại “Những số 6 may mắn” bắt đầu từ 26/3
đến 26/5 với mức khuyến mãi tuyên bố là lớn nhất từ trước đến nay. Theo đó,
các thuê bao trả sau mới ngoài việc được giảm 60% cước hoà mạng, còn được
miễn phí 6 tháng cước thuê bao. Các thuê bao trả trước mới được tặng 60% giá
trị bộ hoà mạng và tặng thêm 25% giá trị của 6 thẻ nạp tiền tiếp theo. Ngoài ra,
Viettel Mobile còn tổ chức bốc thăm trúng thưởng với 6 chiếc Innova J mỗi
chiếc trị giá 430 triệu đồng cho tất cả các thuê bao mới.
Song hành cùng với cuộc cạnh tranh về giá là cuộc cạnh tranh về các dịch
vụ gia tăng, tuy nhiên cuộc cạnh tranh này lại không dữ dội như cuộc cạnh tranh
về giá cước. Điều này thể hiện rõ thông qua việc các doanh nghiệp tỏ ra không
Xét trên thị trường dịch vụ thoại cố định giá rẻ hay điện thoại qua giao
thức Internet (VoIP): là dịch vụ điện thoại đường dài trong nước và quốc tế sử
dụng công nghệ VoIP (Voice over Internet Protocol)
Đến thời điểm này (2006), đã có 6 doanh nghiệp được cấp phép cung cấp
dịch vụ VoIP trong nước và quốc tế. Doanh nghiệp được phép thử nghiệm dịch
vụ VoIP đầu tiên tại Việt Nam là Công ty điện tử Viễn thông quân đội (Viettel)
đã mở được tại 36 tỉnh, thành với mã gọi 178 vào tháng 10/2001. Cũng trong
năm 2001, Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) cũng đã chính
thức đưa vào cung cấp dịch vụ đường dài giá rẻ VoIP với mã gọi 171, Công ty
cổ phần dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) cũng đã triển khai tới 26
tỉnh, thành với mã gọi 177. Năm 2004, thêm ba doanh nghiệp mới chính thức
cung cấp dịch vụ là Công ty Viễn thông điện lực (EVN Telecom) mã gọi 179 tại
25 tỉnh, thành; Công ty Viễn thông Hàng hải (Vishipel) mã gọi 175 là 8 tỉnh,
18
thnh v Cụng ty c phn Vin thụng H Ni (Hanoi Telecom) vi mó gi 172
9 tnh, thnh.
Theo ỏnh giỏ ca cỏc chuyờn gia vin thụng, cnh tranh ca cỏc doanh
nghip cung cp dch v VoIP v c bn l cnh tranh v giỏ cc, qung cỏo,
khuyn mi, tip th v chm súc khỏch hng. Cỏc cụng ty ny ỏp dng mc
cc thp, cỏc chng trỡnh khuyn mi hp dn, qung cỏo n tng, tip th v
bỏn hng tn nh cng vi thỏi v cht lng chm súc khỏch hng tn tỡnh,
v c bit ch yu tp trung vo cỏc th trng ln. Tuy nhiờn, cng theo ỏnh
giỏ ca cỏc chuyờn gia, ngoi nhng phng thc cnh tranh lnh mnh nh ỏp
dng mc cc thp, khõu tip th v chm súc khỏch hng ca cỏc doanh
nghip cung cp dch v VoIP tt, hin ó cú hin tng cnh tranh khụng lnh
mnh trong cuc chy ua ginh th phn, th hin cỏc hot ng tip th, s
dng qung cỏo bng hỡnh thc so sỏnh trc tip, khụng k mt s trng hp
2
Ngun tng hp t Tp chớ Bu chớnh Vin thụng 2006
19
LỘ TRÌNH MỞ CỬA THỊ TRƢỜNG BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT
NAM KHI GIA NHẬP WTO
1. Giai đoạn 2001 - 2005
Giai đoạn 2001-2005 là giai đoạn đầu của Hội nhập và Phát triển Ngành
Bưu chính viễn thông. Trong giai đoạn này ngành Bưu chính Viễn thông vừa
phải tiến hành hội nhập nhưng cũng vừa phải tăng tốc với việc triển khai các hợp
đồng hợp tác kinh doanh với các Tập đoàn quốc tế lớn dưới dạng nước ngoài
góp vốn chia lãi nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn nắm lượng vốn khống chế.
Thị trường viễn thông đã xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp, chuyển sang cạnh
tranh trên tất cả các loại hình dịch vụ, tạo lập một thị trường viễn thông sôi động.
Mở cửa thị trường để thúc đẩy nội lực và phát huy nội lực để mở cửa thị trường
là hai mặt của một vấn đề có quan hệ biện chứng trong môi trường cạnh tranh
quốc tế. Việc mở cửa thị trường viễn thông ở Việt Nam đã được thực hiện theo
một lộ trình chặt chẽ, hợp lý và khoa học. Năm 1995, Viettel và SPT được thành
lập cùng với sự ra đời của Tổng công ty 91 VNPT là mở màn cho sự tập dượt
cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước. Từ 1997 đến 2003, việc cạnh tranh
được tiến hành mở rộng từng bước, lúc đầu là đối với dịch vụ Internet, dịch vụ
điện thoại đường dài và quốc tế sử dụng công nghệ mới (VoIP), dịch vụ chuyển
phát Bưu chính và sau đó từ năm 2003 đã xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp, tạo
môi trường cạnh tranh trên tất cả các lĩnh vực dịch vụ. Đến nay đã có 8 doanh
nghiệp có cơ sở hạ tầng mạng và hơn 20 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuộc
mọi thành phần kinh tế. Thị trường viễn thông trong nước đã được mở rộng, cụ
phát triển chủ yếu của ngành vào năm 2010 ít nhất tăng gấp 2 lần so với năm
2005. Từ kết quả này, chúng ta có thể thấy trong thời gian qua ngành Bưu chính
21
Viễn thông đã có sự phát triển vượt bậc là nhờ chúng ta đã mạnh dạn đi thẳng
vào công nghệ hiện đại, biết kết hợp nội lực và ngoại lực và chủ động phát triển
nguồn nhân lực.
Giai đoạn 2006 - 2010
Để tiếp tục phát huy những thành tựu đạt được trong thời gian qua, chúng
ta cần tiếp tục thực hiện các bước đi mới đúng đắn, và hợp lý hơn nữa.
Thứ nhất là Bộ Bưu chính Viễn thông sẽ phối hợp với các bộ ngành liên
quan tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật để tạo hành lang pháp lý
đồng bộ theo hướng minh bạch để các doanh nghiệp vào Việt Nam có điều kiện
đầu tư một cách tốt hơn.
Thứ hai là tiếp tục đổi mới, tiếp tục tăng tốc và thay đổi tư duy trong việc
mở cửa cạnh tranh kinh doanh các dịch vụ Bưu chính Viễn thông và CNTT. Hơn
nữa, phải huy động được toàn bộ nhân lực, tài lực để xây dựng mạng lưới viễn
thông trong thời gian tới. Mở ra nhiều dịch vụ đáp ứng không chỉ người dân ở
thành thị mà cả ở nông thôn và vùng cao.
Thứ ba là phát huy mọi nguồn nội lực của đất nước kết hợp với hợp tác
quốc tế hiệu quả để mở rộng, phát triển thị trường. Ngoài hình thức hợp tác dưới
hình thức các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) Việt Nam sẽ mở rộng thêm
nhiều hình thức mới nữa trong đó có hợp đồng liên doanh. Với hình thức này,
các nhà đầu tư nước ngoài có thể trực tiếp tham gia điều hành ở liên doanh. Tuy
nhiên, ban đầu chúng ta sẽ quy định “mức trần” tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư
nước ngoài không vượt quá 49%, tỷ lệ này sau đó sẽ được nới rộng theo lộ trình
nhất định. Bên cạnh đó nhằm tạo điều kiện khuyến khích phát triển thị trường,
tạo môi trường cạnh tranh, thúc đẩy hợp tác đầu tư, Bộ Bưu chính Viễn thông