tiểu luận kinh tế công cộng thực trạng đói nghèo ở việt nam sau năm 1986 (sau đổi mới) - Pdf 16

Kinh tế công cộng
Nhóm 2
Đề tài: “Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam sau năm 1986 (sau đổi mới)”
Nhóm 2 Page 1
Kinh tế công cộng
Mục lục:
I. Lý luận chung:
1. Các định nghĩa về nghèo đói.
2. Tiêu chí và thước đo đói nghèo.
II. Thực trạng:
1. Việt Nam được xếp vào nhóm các nước nghèo trên thế giới.
2. Nghèo đói tập trung ở những vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa và
những vùng có điều kiện sống khó khăn.
3. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh.
4. Tốc độ giảm nghèo không đồng đều.
5. Kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững.
6. Tốc độ giảm nghèo của các nhóm dân tộc thiểu số còn chậm.
III. Nguyên nhân:
1. Nguyên nhân khách quan.
2. Nguyên nhân chủ quan.
IV. Giải pháp xóa đói giảm nghèo:
1. Giải pháp của Ngân hàng thế giới.
2. Giải pháp của chính phủ Việt Nam.
V. Kết luận.
Nhóm 2 Page 2
Kinh tế công cộng
I. Lý luận chung.
1. Định nghĩa chung : Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả
mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn
mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
2. Định nghĩa theo các trường phái: Các công trình nghiên cứu coi nghèo là trình trạng

a) Lựa chọn chỉ số phúc lợi:
Những khía cạnh cở bản của nghèo có thể được chia làm hai khía cạnh tiền tệ và phi
tiền tệ. Khía cạnh tiền tệ được phản ánh chủ yếu qua mức chi tiêu bình quân đầu người,
vì chỉ số này tổng hợp được nhiều yếu tố có thể làm cải thiện chất lượng cuộc sống, như
chi cho ăn uống, học hành và các dịch vụ y tế. Ngoài việc sử dụng số liệu về chi tiêu,
người ta còn có thể sử dụng số liệu về thu nhập. Tuy nhiên, số liệu về chi tiêu thường
được xem là tốt hơn vì hai lý do. Thứ nhất, thu nhập chỉ làm tăng phúc lợi khi nó được sử
dụng cho tiêu dùng chú không phải tiết kiệm hay trả nợ. Điều đó có nghĩa là chi cho tiêu
dùng cuar hộ gia đình có liên quan chặt chẽ đến phúc lợi hơn là thu nhập. Thứ hai, số liệu
về thu nhập thường không chính xác.
Các khía cạnh phi tiền tệ của nghèo được dùng để đo tình trạng thiếu thốn về y tế, giáo
dục, các mối quan hệ xã hội, sự bất an, kém tự tin hay thiếu quyền lực… Có thể ước tính
giá trị của các chỉ số phi tiền tệ này, nhưng đa phần phải dựa trên các đánh giá chủ quan
do cá nhân tự thể hiện qua các cuộc khảo sát.
b) Lựa chọn ngưỡng nghèo:
Ngưỡng nghèo (chuẩn nghèo) là ranh giới để phân biệt giữa người nghèo và người
không nghèo. Nó có thể là một ngưỡng tính bằng tiền (một mức tiêu dùng hoặc thu nhập
nào đó), hay phi tiền tệ (một trình độ học vấn nhất định). Có hai cách xác định ngưỡng
nghèo:
Ngưỡng nghèo tuyệt đối: là chuẩn tuyết đối về mức sống được coi là tối thiểu cần
thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh.
Ngưỡng nghèo tương đối: được xác định theo phân phối thu nhập hoặc tiêu dùng
chung phản ánh tình trạng của mộ bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng
đồng.
c) Thước đo mức độ nghèo:
Sau khi xác định được ngưỡng nghèo, có thể tính toán một số thước đo về qui mô,
khoảng nghèo và mức độ trầm trọng của nghèo. Ba thước đo thông dụng nhất phản ánh
các khía cạnh đó lần lượt là: tỷ lệ nghèo (headcount), khoảng nghèo (poverty gap) và
mức độ nghèo (poverty severity). Các chỉ số này có thể được tính toán qua công thức do
Foster, Greer và Thorbecke (1984) đã xây dựng:

g
n
zyP
11
1
),(
1
),(
α
α
α
α
(1)
Trong đó:
n: số hộ gia đình trong cộng đồng.
q: số hộ gia đình dưới ngưỡng nghèo.
g: khoảng nghèo của hộ gia đình thứ i.
y
i
: chi tiêu hoặc thu nhập của hộ gia đình nghèo thứ i.
z: ngưỡng nghèo.
α ≥ 0 : đại lượng đo mức độ bất bình đẳng giữa những người nghèo.
Với giá trị của α = 0, đẳng thức (1) trở thành
n
q
z
g
n
P
q

=
q
i
i
z
yz
n
P
1
1
1
.
Khi đó, P
1
là chỉ số đo khoảng cách nghèo, cho biết sự thiếu hụt trong chi tiêu của các hộ
nghèo so với ngưỡng nghèo. Chỉ số này còn cho biết khoảng tiền tối thiểu để đưa những
người nghèo lên đến mức sống ngang với ngưỡng nghèo.
 Giá trị của α = 2, đẳng thức (1) trở thành
2
1
2
1

=







giới đầu tiên để khẳng định chúng ta đã vượt nhóm “đáy”-các nước nghèo nàn lạc hậu
nhất thế giới để bước vào nhóm thứ hai :nhóm các nước có thu nhập trung bình.
2. Nghèo đói phổ biến ở những vùng miền núi , vùng sâu, vùng xa và những vùng
đặc biệt khó khăn.
Những năm gần đây công cuộc giảm nghèo đã có những thành tựu nhất định nhưng
còn rất mong manh.Thu nhập của đại bộ phận dân cư vẫn nằm giáp ranh mức ngheo vì
vậy chỉ cần một điều chỉnh nhỏ về ngưỡng nghèo cũng làm họ rơi xuống ngưỡng nghèo
và làm tăng tỉ lệ nghèo.Phần lớn thu nhập của người nghèo là từ nông nghiệp . Bên
cạnh đó nông nghiệp lại thất thường ,chịu sự ảnh hưởng lớn của thời tiết.
Đa số người nghèo sống ở khu vực khí hậu khắc nghiệt,tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn
như vùng núi vùng sâu vùng xa hoặc các vùng Đồng Bằng song Cửu Long,Miền Trung
do sự ảnh hưởng của thời tiết (bão, hạn hán ,lũ lụt…) khiến cho điếu kiện sinh sống và
sản xuất của nhân dân vô cùng khó khan. Đặc biệt sự kém phát triển của cơ sở hạ tầng
của những vùng này làm chúng càng tách biệt với các vùng khác. Năm 2000 khoảng 20-
30% trong tổng số 1870 xã đặc biệt khó khăn chưa có đường dân sinh đến trung tâm xã ,
40% số xã chưa đủ phòng học, 5% số xã chưa có trạm y tế, 55% số xã chưa có nước
sạch, 40% số xã chưa có đường điện đến trung tâm xã, 20% chưa có chợ xã hoặc cụm
xã. Nghèo đói là hiện tượng phổ biến ở nông thôn, miền núi có đến 90% số hộ nghèo
sống ở nông thôn.
Nhóm 2 Page 6
Kinh tế công cộng
3, Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh:
Ông Zia Qurechi, đặc phái viên của Ngân Hàng thế giới khẳng định, “Việt Nam đã có
tốc độ phát triển kinh tế đáng khâm phục và trở thành một quốc gia xuất sắc trong lĩnh
vực xoá đói giảm nghèo”.
Đó là những nhận xét được đưa ra tại Lễ công bố báo cáo giám sát toàn cầu: Các mục
tiêu phát triển Thiên niên kỷ và Môi trường do Ngân hàng thế giới tổ chức.
Ước tính có khoảng 28 triệu người đã thoát nghèo trong hai thập kỷ qua. Kết quả
này đã giúp Việt Nam hoàn thành trước
thời

hộ
nghèo
31% 30% 15,6% 10% 17,2% 8,3% 26,7% 14,8% 11% 9,45%
(14,2%)
11,76%
( Nguồn: Bộ Lao động- Thương binh và xã hội)
Căn cứ vào chuẩn nghèo quốc gia do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành,
tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ hơn 30% năm 1990, 30% vào năm 1992, 15,6% năm 1998,
xuống xấp xỉ 17% vào năm 2001(2,8 triệu hộ) và 10% năm 2000. Số hộ nghèo của năm
2004 là 1,44 triệu hộ, tỷ lệ nghèo là 8,3%, Từ năm 1992 đến 2004, tỷ lệ đói nghèo ở Việt
Nam đã giảm từ 30% xuống còn 8,3%. Tính đến tháng 12-2004, trên địa bàn cả nước có
2 tỉnh và thành phố cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chuẩn; có 18 tỉnh tỷ lệ nghèo
chiếm 3-5%; 24 tỉnh có tỷ lệ nghèo chiếm 5-10% Đáng kể trong chương trình Xóa đói
giảm nghèo là những xã nằm trong diện 135 (xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn) đã có
những thay đổi biến chuyển rõ nét. Nếu năm 1992, có tới 60-70% số xã nghèo trong diện
135, thì đến năm 2004 giảm xuống còn khoảng 20-25%. đến cuối năm 2005 còn khoảng
Nhóm 2 Page 7
Kinh tế công cộng
dưới 7% với 1,1 triệu hộ Tuy nhiên từ năm 2005, Chính phủ áp dụng chuẩn nghèo mới
cho giai đoạn 2006-2010, theo đó chuẩn nghèo tăng gấp đôi, như vậy nếu áp dụng chuẩn
mới thì năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo là 26,7% và đến năm 2007 thì giảm xuống chỉ còn
14,8%. Trong các năm 2007-2009, cùng với sự khó khăn của nền kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo
có sự giảm chậm, cho đến năm 2009 cả nước Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu hộ nghèo,
đạt tỷ lệ 11% dân số và đến năm 2010 là 9,45%.
4, Tốc độ giảm nghèo không đồng đều:
Theo chuẩn nghèo của chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia, đầu năm 2001 có
khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm 17,2% tổng số hộ trong cả nước, chủ yếu tập trung vào
các vùng nông thôn. Các vùng nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số tỷ lệ nghèo cao hơn con số trung bình này nhiều. Có tới 64% số người
nghèo tập trung ở vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền

- Năm 2006, 200 nghìn đồng/người đối với khu vực nông thôn, 260 nghìn đồng/
người đối với khu vực thành thị.
- Năm 2008, 290 nghìn đồng/người đối với khu vực nông thôn, 370 nghìn đồng/
người đối với khu vực thành thị.
- Năm 2010, 400 nghìn đồng/người đối với khu vực nông thôn, 500 nghìn đồng/
người đối với khu vực thành thị.
(Nguồn: Bộ Lao động-Thương binh và xã hội)
Bản đồ: Sự phân bố đói nghèo ở Việt Nam.
Nhóm 2 Page 9
Kinh tế công cộng
Mặc dù việc giảm nghèo diễn ra
n
h
a
n
h
đối với cả hai nhóm dân cư ở nông thôn
và thành thị, song tỷ lệ nghèo ở nông thôn (66,4%
n
ă
m
1993 và 18,7% năm 2008)
vẫn cao hơn đáng kể so với tỷ lệ nghèo ở thành thị (25,1% năm 1993 và 3,3%
năm 2008). Cũng có sự chênh lệch giữa các vùng miền, với vùng Đông
N
a
m
Bộ và
Đồng bằng sông Hồng là những nơi giảm nghèo diễn ra nhanh hơn hẳn so với các
vùng khác, với k

u
(tương ứng là 24,3%, 24,1% và
22,6%), và đều cao hơn đáng kể so với
v
ù
n
g
Nam Trung Bộ (13,7%). Cũng vẫn còn
có sự chênh lệch đáng kể trong nội bộ mỗi nhóm dân cư. Cụ thể, trong nhóm đồng
bào các dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo vẫn còn ở mức cao tới 83,4% đối với
đ

n
g
bào
Kinh, Hoa.
Đến năm 2011, toàn quốc có 2.580.885 hộ thuộc diện hộ nghèo, bằng 11,76%;
1.530.925 hộ cận nghèo, bằng 6,98%. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo chênh lệch khá lớn giữa
các vùng: Miền núi Tây Bắc, tỷ lệ hộ nghèo là 33,02%, cận nghèo là 12,08%; vùng núi
Nhóm 2 Page 10
Kinh tế công cộng
Đông Bắc: 21,01% hộ nghèo, 9,58% hộ cận nghèo. Trong khi đó 2 tỷ lệ này ở khu vực
đồng bằng Sông Hồng tương ứng là 6,5% và 4,46%. Khu vực khu IV cũ có tỷ lệ hộ
nghèo 18,28%, hộ cận nghèo 13,78%; Khu vực Duyên hải miền Trung, tỷ lệ này là
14,49% và 10,01%; Khu vực Tây Nguyên, tỷ lệ tương ứng là 18,62% và 5,87%; Khu vực
Đồng bằng Sông Cửu Long có tỷ lệ 11,39% và 7,04%. Khu vực Đông Nam Bộ có tỷ lệ
hộ nghèo và cận nghèo thấp nhất trong cả nước với con số 1,70% và 1,78%.Cùng với đó
là sự bất bình đẳng trong thu nhập ngày càng gia tăng.
5, Kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững:
Cho đến năm 2009. Theo chuẩn nghèo trên , cả nước việt nam hiện có 2tr hộ nghèo, đạt

dân tộc, ngôn ngữ, xã hội và kinh tế. Kinh nghiệm của các nước khác cho thấy rằng lợi
ích thực sự của tăng trưởng kinh tế ít đến được với các nhóm người chịu thiệt thòi
này.Nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp
cận dịch vụ, như giáo dục, văn hóa trường kinh doanh thuận lợi. Mức nghèo còn là tình
trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng.
Báo cáo quốc gia đầu tiên của Việt Nam về tiến độ thực hiện các Mục tiêu Phát triển
Thiên niên kỷ, được công bố tháng 9 năm 2005 và phân phát tại Hội nghị Thượng đỉnh
thế giới năm 2005, cho thấy tình trạng chênh lệch và bất bình đẳng xã hội giữa các vùng,
giới tính và nhóm dân cư đang ngày càng gia tăng. Trong khi các vùng đô thị được hưởng
lợi nhiều nhất từ các chính sách cải cách và tăng trưởng kinh tế, thì tình trạng nghèo vẫn
tồn tại dai dẳng ở nhiều vùng nông thôn của Việt Nam và ở mức độ rất cao ở các vùng
dân tộc thiểu số - theo Tổng cục Thống kê là 69,3% vào năm 2002.
Trong thập kỷ tới đây nỗ lực của Việt Nam trong việc hội nhập với nền kinh tế toàn cầu
sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự tăng trưởng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự
nghiệp giảm nghèo.
6, Tốc độ giảm nghèo của nhóm dân tộc thiểu số còn chậm:
Theo thống kê, trong khi tỉ lệ nghèo chung đã giảm đáng kể từ 14,5% năm 2010, tốc độ
giảm nghèo đáng kể ở các nhóm dân tộc thiểu số chậm hơn nhiều so với các nhóm dân
tộc đa số. Năm 2012, trên 50% người dân tộc thiểu số vẫn đang sống dưới chuẩn nghèo
chung, trong đó có tới 31% nghèo về lương thực. Tiến độ giảm nghèo ở dân tộc thiểu số
trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, nước sạch, vệ sinh và nhà ở còn chậm so với mức bình
quân cả nước.
Trong vòng 15 năm, tỷ lệ nghèo đói của người Kinh giảm 5 lần, so với mức giảm chỉ 1,6
lần ở các dân tộc thiêu số. Năm 1993, 22% người nghèo thuộc nhóm các dân tộc thiểu số
không phải người Kinh; năm 2006, các dân tộc thiểu số chiếm 44% và 59% số người đói-
tức là người sống dưới chuẩn nghèo theo thu nhập.
Bất bình đẳng về tiêu dung ngày càng gia tăng theo thời gian. Năm 1998, mức tiêu tiêu
dùng của người Kinh cao hơn 51% so với các dân tộc khác và khoảng cách này đã tăng
lên 74% so với năm 2006. Khoảng cách này còn lớn hơn nữa ở các nấc thang trên, những
người rất giàu trước hết là người Kinh.

đình ở nông thôn cũng như thành thị, lạm phát tăng cao có lúc lên đến 700%/năm.
Biểu đồ lạm phát ở Việt Nam
Thứ tư, việc áp dụng sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và tập thể của các tư liệu sản xuất
chủ yếu trong một thời gian dài đã làm thui chột ý chí phấn đấu, động lực làm việc, động
lực sản xuất và sáng tạo của con người. Nó làm cho đại đa số người dân Việt Nam trở
nên lười biếng, ỷ lại, tạo thói quen xấu cho mọi người dân, làm cho nền kinh tế ngày càng
Nhóm 2 Page 14
Kinh tế công cộng
ì ạch và kiệt quệ. Đến sau thời kì đổi mới thì tác phong này của người Việt Nam vẫn gây
cản trở rất lớn cho việc phát triển đất nước, xóa đói giảm nghèo
Thứ năm, Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị lao động,
không được đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính sách quản lý bằng hộ
khẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn cản nông dân di cư, nhập cư vào thành phố.
Thứ sáu, việc huy động nguồn lực nông dân quá mức, ngăn sông cấm chợ đã làm cắt rời
sản xuất với thị trường, sản xuất nông nghiệp đơn điệu, công nghiệp thiếu hiệu quả,
thương nghiệp tư nhân lụi tàn, thương nghiệp quốc doanh thiếu hàng hàng hóa làm thu
nhập đa số bộ phận giảm sút trong khi dân số tăng cao.
Thứ bảy, thất nghiệp tăng cao trong một thời gian dài trước thời kì đổi mới do nguồn vốn
đầu tư thấp và thiếu hiệu quả vào các công trình thâm dụng vốn của Nhà nước cũng ảnh
hưởng lớn đến nền kinh tế sau đổi mới.
2. Nguyên nhân chủ quan:
Thứ nhất, sai lệch thống kê: do điều chỉnh chuẩn nghèo của Chính phủ lên cho gần với
chuẩn nghèo của thế giới (1USD/ngày) cho các nước đang phát triển làm tỷ lệ nghèo
tăng lên.
Theo ngưỡng nghèo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội:
Năm 1996 – 2000:
Nông thôn, miền núi, hải đảo: 55.000 đồng/người/tháng
Nông thôn đồng bằng: 70.000 đồng/người/tháng
Thành thị: 90.000 đồng/người/tháng
Năm 2000 – 2005:

Kinh tế công cộng

Thứ năm, nền kinh tế phát triển không bền vững, tăng trưởng tuy khá nhưng chủ yếu là
do nguồn vốn đầu tư trực tiếp, vốn ODA, kiều hối, thu nhập từ dầu mỏ trong khi nguồn
vốn đầu tư trong nước còn thấp. Tín dụng chưa thay đổi kịp thời, vẫn còn ưu tiên cho vay
các doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả thấp, không thế chấp, môi trường sớm bị hủy
hoại, đầu tư vào con người ở mức cao nhưng hiệu quả còn hạn chế, số lượng lao động
được đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường còn thấp. Nông dân khó tiếp cận tín dụng ngân
hàng nhà nước.
Thứ sáu, đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói. Tỷ lệ sinh con trong
các gia đình nghèo và khu vực nông thôn thường là rất cao. Mức độ hiểu biết của các cặp
vợ chồng nghèo về vệ sinh, an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo
đói, sức khỏe sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế. Dân số tăng nhanh, quy mô gia
đình nhiều con ở khu vực ngoại thành là áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm và
Nhóm 2 Page 17
Kinh tế công cộng
xóa đói giảm nghèo đồng thời tỷ lệ người ăn theo cao trong các gia đình nghèo chính là
nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của họ. Tỷ lệ phụ thuộc còn cao (54%)
(nguồn: TCTK-diều tra biến động DS-KHHGD2005-2007).
Thứ bảy, người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ thường rơi vào vòng luẩn quẩn
của nghèo đói. Ý chí vươn lên thoát nghèo của họ còn thấp, vẫn tồn tại thái độ tiêu cực
với cuộc sống. nhiều người không thực sự muốn làm ăn, quanh năm họ chỉ trông chờ vào
sự cứu trợ của chính quyền, thậm chí khi chưa đến mức bần cùng họ cũng không thể hiện
chút nỗ lực nào, ngược lại là tìm mọi cách để có tên trong sổ nghèo với hi vọng được thụ
hưởng một số quyền lợi cho không. Một số cá nhân khác do có vấn đề tâm lý (làm ăn thất
bại, gia đình đỗ vỡ…) nên không thiết tha với cuộc sống và trở nên rất tiêu cực (nghiện
rượu, bài bạc…). Đây là những trường hợp rất khó để thoát nghèo cho dù các biện pháp
chính sách có tốt đến đâu đi chăng nữa.
Nhóm 2 Page 18
Kinh tế công cộng

quyền tham gia vào các quyết định kiên quan đến họ, nhất là ở cấp địa phương. Để làm
được điều đó, chính phủ cần:
 Xây dựng cơ sở chính trị và pháp lý cho quá trình phát triển có sự tham gia của
quần chúng.
Nhóm 2 Page 19
Kinh tế công cộng
 Xây dựng bộ máy công quyền vững mạnh, có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng và
đảm bảo công bằng.
 Thúc đẩy quá trình phân cấp để phát huy dân chủ ở cấp cơ sở và đẩy mạnh quá
trình phát triển cộng đồng.
 Thúc đẩy bình đẳng giới.
 Khắc phục những rào cản của xã hội đang phân biệt đối xử với người nghèo.
 Hỗ trợ vốn xã hội cho người nghèo
3. Tăng cường ASXH: ASXH là các chương trình giúp giảm bớt nguy cơ người nghèo bị
tổn thương trước những cú sốc kinh tế, thiên tai, ốm đau, bệnh tật và bị ngược đãi. Muốn
vậy , chính phủ phải:
 Xây dựng những phương thức mẫu mực để giúp người nghèo giảm bớt rủi ro.
 Triển khai các chương trình quốc gia để phòng ngừa, chuẩn bị ứng phó và ứng phó
với các cú sốc vĩ mô, cả về kinh tế lẫn tự nhiên.
 Xây dựng hệ thống quốc gia để quản lý những rủi ro xã hội hỗ trợ cho tăng
trưởng; giải quyết các xung đột nội bộ.
 Đấu tranh với nạn dịch HIV/AIDS.
Tuy nhiên, NHTG cũng khuyến cáo rằng, từ chiến lược đến hành động là cả một quãng
đường dài và không đâu có một khuôn mẫu giản đơn và thống nhất để thực hiện chiến
lược đó. Mỗi nước cần hoạch định một hệ thống chính sách đặc thù của riêng mình để
giảm đói nghèo, và hệ thống chính sách đó phải phản ánh được mục tiêu ưu tiên của mỗi
quốc gia, đồng thời phải phù hợp với mục tiêu chung của quốc tế. Là một trong những
nước đi đầu trong công cuộc XĐGN, từ chiến lwocj chung của thế giới, chúng ta đã cụ
thể hóa thành hàng loạt các chính sách thiết thực, phản ánh rõ nét tình tình thực tiễn của
Việt Nam và quyết tâm XĐGN của chính phủ.

trợ công cụ và thiết bị kỹ thuật để nâng cao hiệu suất lao động
⇒ Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu để tăng thêm thu nhập cho nông dân
và cho người nghèo.
2. Thực hiện chính sách tín dụng phù hợp với các đối tượng chính sách:
Tạo điều kiện cho người nghèo, người yếu thế, người bị rủi ro và ưu tiên cho phụ nữ có
nhu cầu cần được vay vốn tín dụng với lãi suất hợp lí, kịp thời và đúng thời vụ để phát
triển sản xuất. Trước mắt là áp dụng chính sách lãi suất thấp cho người nghèo, về lâu dài
hệ thống tín dụng được đơn giản hóa gắn với đào tạo để mang lại hiệu quả sử dụng vốn.
⇒ Đáp ứng nhu cầu vốn, tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho người nghèo.
3. Mở rộng công tác đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn:
Cần phải làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, đầu tư mạnh hơn nữa vào cơ sở vật chất,
trang thiết bị dạy và học (đa ngành nghề) để thu hút được thanh niên nông thôn theo học
nghề. Bên cạnh đó chúng ta cần có nhiều kênh thông tin hơn để cho thanh niên nông thôn
dễ dàng tiếp cận và tìm hiểu những ngành nghề mà mình dự định theo học, cũng như việc
Nhóm 2 Page 21
Kinh tế công cộng
định hướng cho họ, giúp họ hiểu rõ hơn học xong ra trường họ sẽ làm gì. Song song với
điều đó là hỗ trợ một phần kinh phí cho các cơ sở dạy nghề để tạo điều kiện cho người
nghèo đi học.
(II), Phát triển công nghiệp tạo việc làm và nâng cao mức sống cho người
nghèo.
1. Phát triển các nghành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, nghành công nghiệp mũi
nhọn, có công nghệ cao.
Theo Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách công nghiệp Việt Nam, đối với các ngành
công nghiệp mũi nhọn sẽ chú trọng vào các ngành có lợi thế cạnh tranh để thúc đẩy XK
như dệt may, da giày, thực phẩm chế biến (thị trường Nhật rất tiềm năng). Tập trung phát
triển công nghiệp nền tảng cho nền kinh tế như năng lượng, máy móc và công nghiệp
luyện kim. Ngoài ra cũng sẽ đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp mới, trong đó có
công nghiệp phần mềm, công nghiệp vật liệu mới…
⇒ Thu hút nhiều lao động và tạo công ăn việc làm, góp phần cải thiện thu nhập.

Giúp các xã nghèo xây dựng các công trình KCHT và đào tạo tập huấn cán bộ nhân viên
làm nhiệm vụ quản lý và vận hành, bảo dưỡng các công trình 1 cách có hiệu quả.
3. Công khai hóa quy hoạch và kế hoạch đầu tư của nhà nước
Phát huy sự tham gia của người dân ở các xã nghèo, cộng đồng nghèo nhằm lựa chọn
đúng quyết định xây dựng những công trình KCHT thiết yếu nhất. Thực hiện nghiêm
chỉnh quy chế dân chủ ở cơ sở, gắn bó quyền lợi trách nghiệm của người dân địa phương
vào đầu tư khai thác sử dụng công trình.
(IV). Xây dựng nền giáo dục công bằng hơn, chú trọng nâng cao chất lượng
giáo dục cho người nghèo
1. Hoàn thiện các thể chế chính sách:
Nhằm tạo điều kiện công bằng hơn trong giáo dục, đào tạo nâng cao chất lượng giáo dục
cho người nghèo và các nhóm yếu thế trong xã hội là một trong những trọng tâm của quá
trình phát triển và mang tính quyết định đối với công cuộc XĐGN.
2. Đầu tư cho hệ thống giáo dục của các xã nghèo, vùng nghèo:
Xây dựng trường kiên cố cho các vùng thường xảy ra thiên tai, duy trì và mở rộng hệ
thống trường nội trú cho vùng sâu vùng xa, vùng cao để tăng số lượng và chất lượng giáo
viên, học sinh ở các vùng nghèo.
3. Miễn giảm hoặc hỗ trợ cho trẻ em các hộ gia đình nghèo trong lĩnh vực giáo dục
các khoản đóng góp mà người nghèo ít có khả năng đóng góp:
Tiền học phí, tiền sách giáo khoa, tiền xây dựng trường, tiền ăn ở đi lại…để giảm bớt khó
khăn cho các gia đình và hạn chế tình trạng con em họ bỏ học.
(V). Phát triển mạng lưới an sinh xã hội giúp dỡ người nghèo.
1. Tăng cường nguồn tài chính cho giáo dục đào tạo:
Tăng tỉ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo, đồng thời mở rộng quỹ khuyến
học, quỹ bảo trợ giáo dục. khuyến khích các cá nhân và tập thể đầu tư cho giáo dục, phát
triển các trung tâm giáo dục cộng đồng.
Nhóm 2 Page 23
Kinh tế công cộng
2. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách trợ giúp của nhà nước:
Dành cho các nhóm người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không có cơ hội tự tạo việc

Danh sách thành viên nhóm 2:
STT Tên thành viên Nhiệm vụ
1 Đỗ Tuấn Dương
2 Bùi Đức Anh
3 Nguyễn Cảnh Linh Thực trạng
4 Lê Ánh Đạt
5 Nguyễn Hồng Quốc
6 Dương Thị Ngọc
7 Trương Thị Kiều Oanh Nguyên nhân
8 Nguyễn Thị Thúy
9 Võ Thị Hoàn Giải pháp
10 Vương Thị Chiêu
11 Nguyễn Thị Thu Hiền
(Nhóm trưởng_sđt 01692824230)
Nhóm 2 Page 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status