TRƯỜNG ĐH NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN:
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA CỦA VIỆT NAM NĂM 2012
Nhóm số 12
Giảng viên hướng dẫn: Ts. Hoàng Xuân Bình
Khối 2 – TMQT – K50
Hà Nội, 05/2014
Danh sách thành viên nhóm số 12:
Phạm Thanh Tùng
Lê Vân Long
Phạm Tuấn Anh
Nguyễn Ngọc Anh
Nguyễn Thanh Tùng
Trịnh Hải Cường
Trần Hồng Quân
Trần Hoàng Quân
Đỗ Chí Sơn Linh
Phạm Sĩ Khiêm
Dương Tuấn Lộc
Nguyễn Vĩnh An
Đào Anh Tú
Mục lục
Lời mở đầu
Với tốc độ tăng trưởng chóng mặt như hiện nay, các nhà kinh doanh ra sức sản xuất, mở rộng
kinh tế nhằm sản xuất ra thật nhiều hàng hóa phục vụ nhu cầu vô hạn của con người. Tuy nhiên,
việc tạo ra thật nhiều hàng hóa đã vô tình phản lại mong muốn có nhiều lợi nhuận của các nhà
doanh nghiệp. Hàng hóa tăng nhanh hơn nhu cầu của con người dẫn đến cung vượt quá cầu và
tình trạng lạm phát xuất hiện. Lạm phát gây cho nền kinh tế nhiều bất ổn đòi hỏi Nhà nước phải
vào cuộc để điều chỉnh giảm lạm pháp gây nên việc thực hiện chính sách tài khoán có nhiều điều
Hay nói cách khác chính sách tài khóa liên quan đến tác động tổng thể của ngân sách đối với
hoạt động kinh tế. Có các loại chính sách tài khóa điển hình là trung lập, mở rộng, và thu gọn:
1. Chính sách trung lập là chính sách cân bằng ngân sách khi đó G = T (G: chi tiêu chính phủ, T:
thu nhập từ thuế). Chi tiêu của chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn thu từ thuế và nhìn
chung kết quả có ảnh hưởng trung tính lên mức độ các hoạt động kinh tế.
2. Chính sách mở rộng là chính sách tăng cường chi tiêu của chính phủ (G > T) thông qua chi tiêu
chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt hoặc kết hợp cả 2. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách
nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng.
3. Chính sách thu hẹp là chính sách trong đó chi tiêu của chính phủ ít đi thông qua việc tăng thu từ
thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp cả 2.
Đôi khi chính sách tài khóa để đạt được một số mục tiêu đề ra đã gây hậu quả xấu cho việc
thực thi các mục tiêu của chính sách tiền tệ và ngược lại. Chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ nếu thiếu đi sự phối hợp nhịp nhàng trong chính sách thực thi chính sách sẽ gây ra những tác
động đối kháng lẫn nhau, phá vỡ quy luật của thị trường, ảnh hưởng xấu đến mục tiêu tăng
trưởng bền vững của nền kinh tế. Vì vậy, trong ngắn hạn, hai chính sách phải phối hợp nhằm đạt
được các mục tiêu của từng chính sách một cách có trật tự, bao gồm cả ổn định giá. Trong dài
hạn, hai chính sách phải phối hợp để đảm bảo được lợi ích cân bằng giữa mục tiêu của từng
chính sách với mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, kiềm chế lạm phát.
1.1.3 Mục đích của chính sách tài khóa:
Đó là ổn định kinh tế và can thiệp tỷ giá hối đoái. Về ổn định kinh tế vĩ mô, chính sách tiền
tệ là cơ quan hữu trách về tiền tệ (ngân hàng trung ương hay cục tiền tệ) sẽ thay đổi lượng cung
tiền tệ. Các công cụ để đạt được mục tiêu này gồm: thay đổi lãi suất chiết khẩu, thay đổi tỷ lệ dự
trữ bắt buộc, và các nghiệp vụ thị trường mở.
II. CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA CỦA VIỆT NAM NĂM 2012
Những bất lợi từ sự sụt giảm của kinh tế thế giới đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản
xuất kinh doanh và đời sống dân cư trong nước. Thị trường hàng hóa bị thu hẹp, hàng tồn kho ở
mức cao, sức mua trong dân giảm. Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại. Nhiều doanh
nghiệp (DN), nhất là DN nhỏ và vừa (DNNVV) phải dừng hoạt động hoặc giải thể. Trước tình
hình này, Chính phủ xác định là tập trung trọng tâm vào việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô và từng bước thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế ở 3 lĩnh vực quan trọng là đầu tư công,
hành chính trong lĩnh vực Thuế và Hải quan nhằm giảm thiểu tối đa thời gian kê khai, nộp thuế
cho DN, khuyến khích các DN kê khai qua mạng
Về các giải pháp quản lý thu, Chính phủ cũng đã yêu cầu của các bộ, cơ quan trung ương và
địa phương phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý nguồn thu, chống thất thu NSNN. Bộ Tài
chính đã ban hành Chỉ thị 01/CT-BTC về tăng cường công tác quản lý thu, chống thất thu và
giảm nợ đọng thuế năm 2012; tập trung chỉ đạo ngành Thuế, Hải quan làm tốt công tác thanh tra,
kiểm tra thuế tại DN và đẩy mạnh các hoạt động chống chuyển giá, chống buôn lậu và gian lận
thương mại… qua đó đã phát hiện và xử lý kịp thời nhiều trường hợp vi phạm, gian lận, trốn lậu
thuế.
2.1.2 Chi ngân sách nhà nước (chi tiêu chính phủ)
Thứ nhất, điều hành chính sách chi tiết kiệm, linh hoạt hiệu quả. Quán triệt tinh thần Nghị
quyết 01 của Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản hướng dẫn và tổ chức điều hành
chi NSNN chủ động và tích cực, đáp ứng đầy đủ kịp thời kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ chi
về đảm bảo an ninh quốc phòng, an ninh, các sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, xã hội.
Bộ Tài chính đã ban hành công văn số 6890/BTC-HCSN ngày 23/5/2012 chỉ đạo việc thực hiện
tiết kiệm chi thường xuyên, chi đầu tư từ NSNN. Bộ đã phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan
trung ương, địa phương nghiêm túc rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại để điều chuyển vốn đầu tư từ
NSNN, trái phiếu chính phủ trong phạm vi quản lý để tập trung vốn đẩy nhanh tiến độ các công
trình, dự án quan trọng, cấp thiết có điều kiện hoàn thành trong 2012, 2013; Không khởi công
các công trình, dự án mới, trừ các dự án phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách, dự
án trọng điểm quốc gia; Sử dụng nguồn dự phòng NSNN được bố trí để xử lý những nhiệm vụ
cấp bách phát sinh như: phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, đảm bảo an sinh
xã hội, quốc phòng an ninh…; Không sử dụng dự phòng ngân sách để bổ sung cho các nhiệm vụ
chưa thật cần thiết.
Thứ hai, khuyến khích thực hiện hiệu quả các dự án đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn
đối với các dự án đầu tư trọng điểm, có hiệu quả. Đầu năm 2012, Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày
15/01/2011 của Thủ tướng và Nghị quyết 01 của Chính phủ về việc không ứng trước vốn NSNN,
vốn trái phiếu chính phủ cho các công trình, dự án (trừ các dự án phòng chống, khắc phục hậu
quả thiên tai, dịch bệnh, quốc phòng an ninh cấp bách) đã được thực hiện nghiêm túc nhằm thực
hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, do tăng trưởng kinh tế những tháng đầu năm khó
51.4
30
37.7
27.7
12
8.91
0
10
20
30
40
50
60
Tăng trưởng n dụng
mạnh xuống mức thấp nhất trong vòng nhiều năm gần đây ở hầu hết các kỳ hạn, dao động quanh
mức 2% đối với kỳ hạn qua đêm so với mức trên 20% trong năm 2011. Lãi suất này giảm và ổn
định kể từ khi Thông tư 21 có hiệu lực, NHNN điều tiết thông qua phát hành tín phiếu và nghiệp
vụ thị trường mở. Lãi suất tín phiếu trên thị trường mở (OMO) đang có xu hướng giảm tạo điều
kiện giảm lãi suất TPCP qua đó góp phần định hướng giảm lãi suất chung trên thị trường. Nhiều
khả năng lãi suất sẽ tiếp tục giảm trong năm 2013 về 7%.
2.2.2. Tín dụng
Tăng trưởng tín dụng trong năm 2012 có dấu hiệu chậm lại ở hầu hết các tổ chức tín dụng do
nhu cầu vay vốn không có dấu hiệu tăng. Tính đến thời điểm cuối năm 2012, tổng phương tiện
thanh toán (M2) tăng 22,4% so với năm 2011, tăng trưởng tín dụng đạt 8,91%, hoàn thành kế
hoạch tăng 8-9% của Chính phủ. Trong đó tín dụng VND tăng 11,51%, tín dụng bằng ngoại tệ
giảm 1,56%, phù hợp với chủ trương hạn chế đô la hóa của Chính phủ. Như vậy, tăng trưởng tín
dụng dù thấp nhưng cơ cấu lại chuyển dịch theo hướng tích cực; tín dụng đối với xuất khẩu,
nông nghiệp, nông thôn tăng cao hơn tăng trưởng tín dụng chung, tỷ trọng dư nợ cho vay đối với
lĩnh vực không khuyến khích giảm.
loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định an toàn trong hoạt
động ngân hàng; tăng cường công tác thanh tra giám sát.
III. GIẢI PHÁP, KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Một số đề xuất về sự phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong thời gian
tới:
Để tăng cường hiệu quả cần phải có sự kết hợp nhịp nhàng và đồng bộ theo hướng sau đây:
Thứ nhất, cần triển khai mạnh mẽ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh,
hỗ trợ thị trường, xử lý nợ xấu, trong đó tập trung vào các nội dung gia hạn thời gian nộp thuế
TNDN, GTGT; giảm thuế suất thuế TNDN, GTGT đối với một số đối tượng DN, ngành nghề cụ
thể như DNNVV, DN nhiều lao động trong lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến nông, lâm, thuỷ
sản, dệt may, da giày…
Thứ hai, tiếp tục rà soát lại hệ thống chính sách thuế và thu ngân sách để sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp với tình hình thực tế theo hướng tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ
cho thị trường. Định hướng chính sách thuế và thu NSNN nên theo hướng giảm thuế suất, mở
rộng đối tượng chịu thuế; tăng thuế suất thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng không khuyến
khích nhập khẩu và các mặt hàng có khả năng sản xuất trong nước, tăng thuế suất thuế xuất khẩu
đối với các sản phẩm từ khai thác tài nguyên.
Thứ ba, tăng cường chỉ đạo công tác thu, quản lý NSNN, chống thất thu, gian lận thuế, giảm
các khoản nợ đọng thuế; Thực hiện thu đầy đủ, kịp thời các khoản thu năm 2010, 2011, 2012
được gia hạn sang năm 2013; Tổ chức triển khai thực hiện tốt các chính sách thuế và thu ngân
sách mới như Luật Quản lý thuế, Luật Sửa đổi và bổ sung Luật Thuế thu nhập cá nhân…; Tăng
cường công tác quản lý thu NSNN; Tăng cường giám sát hải quan đối với hàng nhập khẩu, xuất
khẩu, tạm nhập tái xuất thông qua cửa khẩu; Kết hợp chặt chẽ với cơ quan thanh toán (Kho bạc
nhà nước, ngân hàng thương mại…) nhằm kiểm tra đúng, kịp thời đầy đủ số thu ngân sách,
chống thất thu, gian lận thuế.
Thứ tư, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế nhằm giảm thời gian, chi phí cho người
nộp thuế, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho DN sản xuất kinh doanh phát triển; đẩy mạnh hạ tầng
kỹ thuật, hệ thống thông tin quản lý tích hợp, có sự liên kết trao đổi giữa các cơ quan thu, các đại
lý thuế với cơ quan kiểm soát chi và ngân hàng thương mại… để phát triển và mở rộng thêm
nhiều hình thức nộp thuế đơn giản, thuận tiện cho người nộp thuế.
hoạch phát triển kinh tế xã hội 2013, báo cáo 284/BC-CP, ngày 19/10/2012;