Báo cáo "Vai trò của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế Việt Nam" - Pdf 16

Đề tài
Vai trò của thị trường chứng
khoán đối với nền kinh tế
Việt Nam
1
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 1
Phần I: Những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán 2
I/ Chứng khoán và thị trường chứng khoán 2
1. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên thế giới 2
2. Khái niệm 3
II/ Cơ cấu và hoạt động của thị trường chứng khoán 7
1. Thị trường sơ cấp 7
2. Thị trường thứ cấp 8
3. Sở giao dịch chứng khoán 9
4. Những nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán 11
5. Giao dịch trên thị trường chứng khoán 13
III/ Vai trò của thị trường chứng khoán 14
Phần II: Sự hình thành thị trường chứng khoán tại Việt Nam 17
I/ Tính tất yếu của việc hình thành thị trường chứng khoán tại Việt nam 17
1. Do yêu cầu của nền kinh tế 17
2. Do yêu cầu của nhà nước 18
III/ Thực trạng thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay 18
1. Thực trạng 18
2. Những thuận lợi cho sự hình thành một thị trường chứng khoán thực sự
tại Việt Nam
19
3. Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán 20
4. Hàng hoá ở thị trường chứng khoán 21
5. Những vấn đề còn tồn tại 22

không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị
trường.
Vào khoảng giữa thế kỷ 15 ở tại những thành phố trung tâm buôn bán của
phương tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để thương lượng
việc mua bán, trao đổi các loại hàng hoá như: nông sản, khoáng sản, ngoại tệ
và giá khoán động sản … Điểm đặc biệt là trotng những cuộc thương lượng
này các thương gia chỉ dùng lời nói để trao đổi với nhau, không có hàng hoá,
ngoại tệ, giá khoán động sản hay bất cứ một loại giấy tờ nào. Những cuộc
thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các "Hợp đồng" mua bán, trao
đổi thực hiện ngay, kể cả những hợp đồng cho tương lai 3 tháng, 6 tháng hoặc
một năm sau mới thực hiện.
Những cuộc trao đổi này lúc đầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số người
tăng lên. Đến cuối thế kỷ 15 "khu chợ riêng" này trở thành một "thị trường"
và thời gian họp chợ rút xuống hàng tuần và sau đó là hàng ngày. Trong các
phiên chợ này họ thống nhất với nhau những quy ước cho các cuộc thương
lượng. Dần dần những quy ước đó được tu bổ hoàn chỉnh thành những quy
tắc có giá trị bắt buộc đối với những người tham gia. Từ đó thị trường chứng
khoán bắt đầu hình thành.
4
Phiên chợ đầu tiên năm 1453 tại đai Vanber của Bỉ sau đó được xuất hiện ở
Anh năm 1773, ở Đức 1778, ở Mỹ 1792, ở Thụy sĩ 1876, ở Nhật 1878, ở
Pháp 1801, ở Hương Cảng 1946, ở Inđônêxia 1925, ở Hàn Quốc 1956, ở Thái
Lan 1962, ở Malaysia và Philipin 1963.
Quá trình hình thành và phát triển của các thị trường chứng khoán thế giới
đã trải qua những bước thăng trầm. Thời kỳ huy hoàng vào những năm 1975 -
1913 cùng với sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế. Cũng có lúc thị
trường chứng khoán rơi vào đêm đen như ngày thứ năm đen tối tức ngày
29/10/1929 rồi ngày thứ hai đen tối năm 1987, vừa qua tháng 7/97 thị trường
chứng khoán ở các nước Châu Á sụt giá, mất lòng tin bắt đầu từ Thái Lan.
Đến nay thị trường chứng khoán các nước đang phát triển mạnh mẽ về số

chỉ được hoàn trả khi đến hạn thanh toán ghi trên trái phiếu mà người phát
hành phải thực hiện. Trái phiếu do các doanh nghiệp có thể là quốc doanh, tư
doanh hay cổ phần phát hành. ở Việt Nam hình thức vay vốn bằng cách phát
hành trái phiếu đã xuất hiện ở một vài nơi. Ví dụ như việc phát hành trái
phiếu huy động vốn cho đầu tư mở rộng sản xuất của nhà máy xi măng
Hoàng Thạch vào cuối năm 994, một số doanh nghiệp khác cũng có hình thức
huy động vốn này để vay của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.
Kỳ phiếu là chứng chỉ của nhà nước phát hành với mục đích vay vốn của
các tổ chức kinh tế xã hội, các tầng lớp dân cư để bù đắp vào thâm hụt của
ngân sách Nhà nước. Trong vài năm trở lại đây, kho bạc nhà nước đã phát
hành kỳ phiếu kho bạc rộng rãi trong cả nước.
b. Thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán (tiếng latinh là Bursa - nghĩa là cái ví tiền) là nơi
mà cung và cầu của các loại chứng khoán gặp nhau để xác định giá cả. Số
lượng của từng loại chứng khoán được giao dịch trên thị trường.
6
Cụ thể hơn thị trường chứng khoán có thể được định nghĩa như là nơi tập
trung các nguồn tiết kiệm để phân phối lại cho người muốn sử dụng những
nguồn tiết kiệm đó theo giá mà người sử dụng sẵn sàng trả. Nói cách khác thị
trường chứng khoán là nơi tập trung và phân phối các nguồn đầu tư này, có
thêm nhiều vốn hơn để đưa vào sản xuất trong nền kinh tế vì vậy có thể làm
cho nền kinh tế tăng trưởng và tạo nên sự thịnh vượng.
Theo định nghĩa nêu trên, thị trường chứng khoán không phải là cơ quan
mua vào hoặc bán ra các loại chứng khoán. Thị trường chứng khoán chỉ là nơi
giao dịch, ở đó việc mua bán chứng khoán được thực hiện bởi những người
môi giới chứng khoán. Như vậy thị trường chứng khoán không phải là nơi
giao dịch (mua - bán) chứng khoán của những người muốn mua hay bán
chứng khoán mà là của những nhà môi giới. Nếu một người muốn mua hay
bán chứng khoán, người này sẽ thông qua người môi giới chứng khoán của
anh ta trên thị trường chứng khoán để tiến hành việc mua bán chứ không trực

thị trường chứng khoán mà ở dạng này hay dạng khác người ta dùng chỉ số
chứng khoán để thể hiện sự phát triển của thị trường và các thành phần của
nó. Các chỉ số này thường được thông báo trên các phương tiện thông tin đại
chúng và các tờ nhật báo lớn ở các nước chỉ số chứng khoán phản ánh tình
hình hoạt động của các công ty trên thị trường. Nếu các công ty làm ăn có lãi,
giá chứng khoán của các công ty đó sẽ tăng và làm tăng theo chỉ số chứng
khoán. Ngược lại, chỉ số chứng khoán sẽ giảm. Dựa vào chỉ số chứng khoán,
các nhà đầu tư có thể xác định được hiệu quả của một cổ phiếu hoặc một
danh mục các chứng khoán để đầu tư vào.
Bất kỳ một thị trường chứng khoán nào cũng có một chỉ số chứng khoán của
riêng nó. Ví dụ thị trường chứng khoán New york có chỉ số Dow Jones, thị
8
trường chứng khoán Tokyo áp dụng chỉ số Nikkei, Hong Kong áp dụng chỉ số
Hang - xieng, Singapore áp dụng chỉ số "Strai taime"…
Một loại chỉ số chứng khoán được nhiều người biết đến nhất là chỉ số Dow
Jones ra đời cách đây vừa tròn 100 năm (896). Chỉ số này được coi như một
cột mốc của thị trường chứng khoán thế giới. Chỉ số này do hai nhà kinh tế
Mỹ Edward David Jones và Charles Hery Dow đề xuất đo lường mức độ biến
động của thị giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán New York. Chỉ số Dow
Jones bao gồm 65 loại cổ phiếu được chia thành 3 nhóm chỉ số bình quân nhỏ
như sau:
+ Chỉ số Dow Jones công nghiệp bao gồm giá cổ phiếu của 30 công ty hàng
đầu ngành công nghiệp công lại rồi chia cho 1504 (con số này có khi có
giảm).
+ Chỉ số Dow Jones vận tải bao gồm giá cổ phiếu của 20 công ty hàng đầu
ngành giao thông vận tải cộng lại chia cho 2785 (con số này có khi tăng).
+ Chỉ số Dow Jones dịch vụ công cộng bao gồm giá cổ phiếu của 15 công ty
hàng đầu ngành dịch vụ công cộng.
Để biết được tình hình phát triển kinh tế gần đây người ta xác định thêm một
số tiêu chuẩn khác. Đó là các điểm giới hạn và điểm liệt. Chẳng hạn điểm giới

khoản của chứng khoán.
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp gộp lại được gọi là thị trường chứng
khoán. Hai thị trường này tồn tại quan hệ mật thiết với nhau được ví dụ như
hai bánh xe của một chiếc xe, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề,
thị trường thứ cấp là động lực. Nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ chẳng có
chứng khoán để lưu thông trên thị trường thứ cấp và ngược lại, nếu không có
thị trường thứ cấp thì việc hoán chuyển các chứng khoán thành tiền sẽ bị khó
10
khăn, khiến cho người đầu tư sẽ bị thu nhỏ lại, hạn chế khả năng huy động
vốn trong nền kinh tế.
Việc phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt
lý thuyết. Trong thực tế tổ chức thị trường chứng khoán không có sự phân
biệt đâu là thị trường sơ cấp và đâu là thị trường thứ cấp. Nghĩa là, trong một
thị trường chứng khoán vừa có giao dịch của thị trường sơ cấp vừa có giao
dịch của thị trường thứ cấp. Vừa có việc mua bán chứng khoán theo tính chất
mua đi bán lại.
Tuy nhiên, điểm cần chú ý là phải coi trọng thị trường sơ cấp, vì đây là thị
trường phát hành là hoạt động tạo vốn cho đơn vị phát hành đồng thời phải
giám sát chặt chẽ thị trường thứ cấp, không để tình trạng đầu cơ lũng đoạn thị
trường để đảm bảo thị trường chứng khoán trở thành công cụ hữu dụng của
nền kinh tế.
3. Sở giao dịch chứng khoán:
Thị trường chứng khoán chính thức được tổ chức theo hình thức Sở giao
dịch chứng khoán.
a. Các hình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán.
Hiện nay trên thế giới có 3 hình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán.
Thứ nhất: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức theo hình thức "Câu lạc
bộ" tự nguyện của các thành viên. Trong hình thức này, các thành viên của sở
giao dịch (hội viên) tự tổ chức và tự quản lý sở giao dịch chứng khoán theo
pháp luật không có sự can thiệp của nhà nước. Các hội viên của Sở giao dịch

viên nào được phép buôn bán tại sở giao dịch, những loại chứng khoán nào đủ
tiêu chuẩn được phép niêm yết tại phòng giao dịch. Hội đồng này có quyền
đình chỉ hoặc huỷ bỏ việc niêm yết một chứng khoán nào đó. Hội đồng quản
trị có quyền kiểm tra quá trình kinh doanh của các thành viên sở giao dịch.
12
Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc
kinh doanh của thành viên trong một thời gian nhất định hoặc trục xuất không
cho phép mua bán trên sở giao dịch. Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản
trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc kinh doanh của thành viên trong một thời
gian nhất định hoặc trục xuất không cho phép mua bán trên sở giao dịch
chứng khoán nữa.
c. Thành viên sở giao dịch chứng khoán.
Thành viên sở giao dịch chứng khoán có thể là các cá nhân hoặc các công ty
chứng khoán. Để trở thành thành viên của sở giao dịch chứng khoán trước hết
công ty phải được công ty có thẩm quyền của nhà nước cấp giấy phép hoạt
động. Phải có số vốn tối thiểu theo quy định, có chuyên gia kinh tế, pháp lý
đã được đào tạo về phân tích và kinh doanh chứng khoán. Ngoài ra công ty
còn phải thoả mãn các yêu cầu của từng sở giao dịch chứng khoán cụ thể. Một
công ty chứng khoán có thể là thành viên của nhiều sở giao dịch chứng khoán
khác nhau nhưng không được là thành viên của thị trường chứng khoán phi
tập trung và ngược lại công ty chứng khoán có thể thực hiện một hay nhiều
nghiệp vụ khác nhau trên thị trường chứng khoán.
d. Giám sát thị trường chứng khoán.
Để đảm bảo cho các giao dịch được công bằng đảm bảo lợi ích của các nhà
đầu tư, sở giao dịch chứng khoán có một bộ phận chuyên theo dõi giám sát
các giao dịch chứng khoán để ngăn chặn kịp thời các vi phạm trong giao dịch
chứng khoán. Nhiệm vụ chủ yếu của các bộ phận giám sát là kiểm tra theo dõi
và ngăn chặn kịp thời các hoạt động tiêu cực như gây nhiễu giá, giao dịch tay
trong, giao dịch lòng vòng, giao dịch có dàn xếp trước.
4. Những nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán.

Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hoá.
Thông tin về các loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, tình
hình tài chính và kết quả kinh doanh của các công ty phát hành, số lượng
chứng khoán và giá cả của từng loại chứng khoán đều được thông báo công
khai trên thị trường. Khi kết thúc một cuộc giao dịch, số lượng mua bán và
giá cả thống nhất lập tức được thông báo ngay. Nguyên tắc công khai của thị
trường chứng khoán nhằm đảm bảo quyền lợi cho người mua bán chứng
khoán không bị "hớ" trong mua bán chứng khoán.
Tất cả các nguyên tắc trên đều được thể hiện bằng văn bản pháp quy từ luật
đến qui chế, điều lệ của mỗi thị trường chứng khoán nhằm bảo vệ quyền lợi
của người mua chứng khoán và của các thành viên trên thị trường chứng
khoán.
5. Giao dịch trên thị trường chứng khoán.
Các chứng khoán được giao dịch trên thị trường theo lô chẵn hoặc lô lẻ.
Trên sàn giao dịch, có nhiều loại lệnh khác nhau được nhà đầu tư sử dụng tùy
theo mục đích của từng người. Để mua hay bán chứng khoán, các nhà đầu tư
sẽ đưa ra các lệnh thuê các công ty môi giới chứng khoán thực hiện hộ.
* Lệnh thị trường: Đây là loại lệnh thông dụng nhất. Các công ty môi giới
căn cứ vào giá thị trường hiện tại của loại chứng khoán mà nhà đầu tư yêu cầu
thực hiện để tiến hành giao dịch, xong họ cũng phải xem xét để mua hoặc bán
sao cho có lợi nhất cho khách hàng của họ, các khách hàng biết chắc lệnh sẽ
được thực hiện nhưng không biết chắc giá cả là bao nhiêu.
* Lệnh giới hạn: Lệnh này thường được đưa ra bởi các nhà đầu tư có hiểu
biết chút ít về thị trường chứng khoán và kinh tế. Trong lệnh có giới hạn về
giá bán thấp nhất và giá mua cao nhất mà công ty môi giới trên sàn giao dịch
được phép thực hiện. Đối với lệnh mua thì giá mua thường thấp hơn giá thị
15
trường hiện đại còn lệnh bán có giá thường cao hơn giá thị trường. Do vậy
lệnh giới hạn thường không được thực hiện ngay mà được thực hiện trong
một thời gian nhất định cho đến khi hết thời hạn và huỷ bỏ. Trong khi chưa bị

tăng từ 4.700 tỷ USD năm 1985 lên 15200 tỷ USD năm 1995. Trong đó giá trị
cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán ở các nước đang phát triển
tăng nhanh từ 3% năm 1983 lên 17% tổng lượng giao dịch toàn thế giới năm
1995.
Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán có tác động tích cực tới
sự phát triển của các quốc gia. Thực tế cho thấy thị trường chứng khoán đã
thúc đẩy phát triển kinh tế ở nhiều nước một cách có hiệu quả thông qua việc
góp phần tạo ra vốn khả dụng. Thực vậy, đa số các dự án đầu tư cần phải sử
dụng vốn dài hạn thì mới đạt hiệu quả cao trong khi các nhà tiết kiệm lại
không muốn mất quyền kiểm soát món tiết kiệm của họ trong thời gian dài.
Thị trường chứng khoán hoạt động trôi chảy sẽ cho phép khắc phục được mâu
thuẫn này khiến cho các hoạt động đầu tư trên thị trường hấp dẫn, thuận tiện
và có lãi suất cao hơn so với gửi tiết kiệm vì người tiết kiệm có thể mua một
loại chứng khoán nào đó rồi lại đem bán một cách nhanh chóng ít phí tổn khi
cần tiền mặt hoặc để đầu tư vào một loại chứng khoán khác mà họ thích. Việc
trao đổi này diễn ra trên thị trường thứ cấp trong khi đó các doanh nghiệp vẫn
được sử dụng nguồn vốn dài hạn thường xuyên và ổn định. Như vậy, thông
qua việc tạo điều kiện thuận lợi cho các khoản đầu tư dài hạn phát triển, làm
cho các khoản đầu tư sinh lợi nhiều hơn mà thị trường chứng khoán khuyến
khích được nhiều vốn hơn vào nền kinh tế góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Thị trường chứng khoán cũng hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng
trong nhiều lĩnh vực. Về cơ bản, thị trường chứng khoán bổ sung cho hệ
17
thống ngân hàng trong việc cung cấp vốn vay trung và dài hạn. Hệ thống ngân
hàng với chức năng chủ yếu là "tạm ứng" vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt
động tín dụng: Nhân tố tiền gửi của dân cư mà học nhân được lên nhiều. Tiền
được cho vay qua các hoạt động tín dụng cần được thu về. Tuy vậy bao giờ
cũng có phần vốn vay kém hiệu quả không thu hồi được vẫn nằm trong lưu
thông, làm cho mức gia tăng tiền tệ cao hơn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Điều đó
có nghĩa là một lượng tiền tăng thêm không có lượng hàng hoá dịch vụ tăng

để thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển.
"Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, chủ yếu mới có hình thức giao lưu vốn
giáp tiếp nên chưa huy động và thu hút có hiệu quả tối ưu nguồn vốn còn khá
tiềm tàng của đất nước. Do đó, cùng với sự phát triển, hoàn thiện thị trường
liên ngân hàng, nâng cao trình độ giao lưu vốn gián tiếp, cần phải thúc đẩy sự
phát triển mạnh mẽ hình thức giao lưu vốn trực tiếp"
*
.
Giao lưu vốn trực tiếp là hình thức giao lưu vốn chủ yếu thông qua phương
thức thu hút vốn bằng phát hành các phương tiện tín dụng, như trái phiếu, cổ
phiếu.
Phương thức giao lưu vốn trực tiếp có nhiều ưu điểm nổi bật hơn phương
thức giao lưu vốn gián tiếp. Do vậy, trong điều kiện nước ta hiện nay, cùng
với việc hoàn thiện tổ chức giao lưu vốn gián tiếp phải đồng thời phát triển
mạnh giao lưu vốn trực tiếp nhằm làm phong phú thị trường tiền vốn và đổi
*
Theo thị trường t i chính tià ền tệ số 12: tháng 6/2000
19
mới cơ chế giao lưu vốn theo hướng hiện đại. Chỉ khi nào cả hai hình thức
giao lưu vốn trên cùng tồn tại, phát triển và bổ sung cho nhau thì thị trường
tiền tệ - tín dụng mới từng bước được cải tiến, thị trường chứng khoán mới
xuất hiện và hoạt động có hiệu quả trong một thị trường tiền tệ - tín dụng
hoàn chỉnh, nhờ đó mà thu hút được mọi nguồn vốn tiềm tàng trong và ngoài
nước cho đầu tư phát triển.
2. Do yêu cầu của nhà nước.
Để hoàn thiện nhiệm vụ của mình nhà nước luôn phải chi tiêu mà nguồn thu
chủ yếu của nhà nước từ thuế thường không trang trải hết các hoạt động của
nhà nước. Nhà nước buộc phải vay vốn trong dân cư và các tổ chức tín dụng
bằng cách phát hành kỳ phiếu. Thị trường chứng khoán ra đời sẽ giúp cho
quá trình phát hành này được thuận lợi hơn.

2. Những thuận lợi cho sự hình thành một thị trường chứng khoán thực
sự tại Việt Nam.
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đã có những tiến triển cơ bản tạo điều kiện
thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán. Chúng
ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Lạm phát đã giảm từ 67% năm
1992 xuống còn 14,4% năm 1994 và 12,7% năm 1995. Tỷ lệ tăng trưởng kinh
tế bình quân trong 5 năm trở lại đây luôn được duy trì ở mức 9%, nền kinh tế
đã bắt đầu ổn định. Thu nhập của dân cư đã tăng và trong nội bộ nền kinh tế
đã có tích luỹ.
Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, chính sách một giá tạo điều kiện
cho hàng hoá lưu thông thuận tiện giữa các khu vực trong nước. Lãi suất tín
dụng và lãi suất tiết kiệm đã được ấn định trên cơ sở tương quan giữa cung và
cầu vốn trên thị trường. Quy luật cung cầu và quy luật giá trị đang phát huy
những tác động tích cực tới nền kinh tế.
21
Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển khá nhanh. Số doanh
nghiệp cổ phần và liên doanh thu hút nhiều vốn trong nước cũng như vốn đầu
tư nước ngoài cũng tăng nhanh. Sự ra đời của các cổ phiếu, trái phiếu do các
công ty cổ phần, các doanh nghiệp nhà nước, phát hành tạo điều kiện thuận
lợi cho thị trường chứng khoán ra đời.
Thêm vào đó, nền kinh tế thị trường cũng đang làm tiến triển dần thói quen
và nếp nghĩ của dân chúng sẽ được công nhận vì nó đáp ứng được nhu cầu
của người đầu tư vốn. Người sử dụng vốn và cả của nhà nước.
Các yếu tố trên đây tạo thuận lợi cho sự ra đời của thị trường chứng khoán
và khẳng định là thị trường chứng khoán sẽ được công nhận vì nó đáp ứng
được nhu cầu của người đầu tư vốn, người sử dụng vốn và cả của nhà nước.
3. Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán.
Ai có thể tham gia thị trường chứng khoán.
Mọi người dân trong cả nước đều có thể tham gia mua, bán chứng khoán
qua sáu công ty chứng khoán theo nguyên tắc: Giao dịch chứng khoán là qua

do tiền lãi thu được từ trái phiếu là cố định, còn cổ phiếu có thể tăng giảm tùy
thuộc lợi nhuận của doanh nghiệp. Biên độ giá chứng khoán không vượt quá
+5% (Với CP) là 1,8% với trái phiếu người đầu tư vào chứng khoán không
phải trả một khoản thuế nào.
Nhà đầu tư (người mua) bằng lòng với lợi nhuận thấp nhưng ổn định thường
chọn trái phiếu làm đối tượng đầu tư. Ngược lại ai dám mạo hiểm, chấp nhận
rủi ro để lấy một tiềm năng lợi nhuận lớn sẽ chọn cổ phiếu.
Theo uỷ ban chứng khoán nhà nước hiện cả nước có 370 công ty cổ phần
trong đó có trên 100 công ty có khả năng niêm yết trên thị trường chứng
khoán. Tuy nhiên để tạo lòng tin của công chúng, hàng hoá trong thời gian
23
đầu đòi hỏi chất lượng và ổn định. Vì vậy công ty CP cơ điện lạnh REE và
công ty CP cáp và vật liệu viễn thông SACOM và có thể thêm cổ phiếu của
công ty giao nhận và kho vận ngoại thương Trasimex Thành phố HCM và
công ty XNK chế biến nông sản Long An được niêm yết. Ngoài ra sẽ có thêm
vài trăm tỉ đồng trái phiếu của nhà nước cũng được mua bán.
Điều kiện để các công ty có cổ phiếu tham gia giao dịch là 2 - 3năm liền có
lãi, tình hình tài chính lành mạnh được kiểm toán xác nhận, có đủ 10 tỷ đồng
vốn trở lên.
Trên cơ sở ấy, vụ quản lý phát hành của Uỷ ban chứng khoán nhà nước sẽ
quyết định cổ phiếu của công ty có được tham gia giao dịch hay không.
5. Những vấn đề còn tồn tại.
Bên cạnh những thuận lợi kể trên, hiện nay vẫn còn tồn tại các khó khăn cản
trở sự hình thành thị trường chứng khoán tại Việt Nam.
Nhìn toàn cảnh, nền kinh tế vẫn chưa đạt thật sự ổn định, nguy cơ lạm phát
vẫn còn làm các nhà quản lý kinh tế đau đầu. Hiệu quả của sản xuất trong
nước còn thấp nhất là ở các doanh nghiệp nhà nước. Các sản phẩm nội địa của
ta đang phải cạnh tranh chật vật với các sản phẩm của nước ngoài. Sự thua lỗ
của nhiều doanh nghiệp quốc doanh và sự quản lý cồng kềnh của các ngành
ngân hàng tài chính gây nên khó khăn và tâm lý lo ngại cho các nhà đầu tư.

nay đã có tới hàng nghìn cán bộ từ nhiều cơ quan đã đi khảo sát về thị trường
chứng khoán, nhưng chưa có đội ngũ được đào tạo cơ bản về quản lý và kinh
doanh trên thị trường chứng khoán.
Như vậy, để thành lập được một thị trường chứng khoán hoạt động tốt cần
phải tiến hành một khối lượng các công việc chuẩn bị rất lớn, đồng bộ trên
nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Chúng ta cũng cần tuyên truyền,
giáo dục các kiến thức cơ sở về thị trường chứng khoán cho nhân dân, củng
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status