Nghệ thuật và Văn hóa
Rangoli, còn được gọi là alpana hay kolam, là nghệ thuật trang trí
nhà cửa truyền thống. Được làm bằng bột gạo, vôi tôi và các thuốc
nhuộm thực vật khác, rangoli chủ yếu được phụ nữ nội trợ sử dụng để
vẽ các họa tiết phức tạp được nghi thức hóa trên sân nhà hay xung
quanh các vị thần trong các lễ hội tôn giáo. Nghệ thuật rangoli không cần
phải được đào tạo chính thức và chủ yếu được vẽ bằng ngón tay – điều
này luôn làm cho họa tiết hoa có nét độc đáo khác biệt.
Rangoli là một ví dụ hoàn hảo về vai trò của nghệ thuật trong đời
sống và văn hóa Ấn Độ. Nó cho thấy sự thể hiện sáng tạo vốn là một
phần trong tính cách của người Ấn Độ. Dù đó là nghi lễ tôn giáo hay
cách thức bày bàn ăn, thì đâu đâu cũng có dấu vết nhất định của năng
lực sáng tạo và khiếu thẩm mỹ.
Tiểu lục địa này có lịch sử phát triển gần như không gián đoạn trong lĩnh vực nghệ thuật và kiến trúc;
nhiều loại hình nghệ thuật cổ điển bắt nguồn từ nền tảng dân gian hay sắc tộc và kết nối với tôn giáo, không
chỉ về khía cạnh huyền bí mà thậm chí cả phương diện thế tục. Từ nền tảng dân gian, nghệ thuật, kiến trúc
và văn hóa Ấn Độ phát triển thành các loại hình cổ điển và đạt tới đỉnh cao huy hoàng dưới thời Đế chế
Gupta.
Nghệ thuật Phật giáo phát triển nở rộ dưới thời Gupta, thường được gọi là thời đại vàng son. Như ở
tất cả các thời kỳ, ở đây có một chút khác biệt trong các hình tượng của các tôn giáo Ấn Độ lớn – Phật giáo,
Ấn Độ giáo và đạo Giai-na, cho dù xuất phát từ các hình thức trang hoàng được đơn giản hóa, nhưng nghệ
thuật cũng đã bắt đầu có các chi tiết trang trí. Hang động Ajanta, được xây dựng khoảng năm 650 sau công
nguyên, có các tranh vẽ trên tường về Phật giáo thật đẹp.(Đức Phật trong thế Dhrama Chakra Pravartna – một mẫu hình của nghệ thuật Sarnath)
Đền Kailash ở Ellora là một quần thể có sân dài 81m, rộng 47m và phía sau cao tới 33m, ở giữa sân
là công trình kiến trúc chính. Ngôi đền là một kỳ công được tạc từ một khối đá nguyên.
duy lý và duy linh phong phú vốn tạo ra đặc trưng riêng của tư tưởng Ấn Độ. Tháp và đền đài hòa quyện
một ngôn ngữ tượng trưng dựa trên những thể hiện bằng hình ảnh các khái niệm triết học quan trọng, như
Chakra – bánh xe luân hồi; Padma – hay hoa sen là hiện thân của sự sáng tạo; Ananta tượng trưng cho
nước, nguồn lực mang lại sự sống; Swastika (chữ thập ngoặc) – thể hiện bốn phương diện xoay vần của
sáng tạo và vận động; Kaplavriksha – cây thỏa mãn ước nguyện tượng trưng cho trí tưởng tượng; Mriga –
hay hươu nai tượng trưng cho dục cảm và vẻ đẹp; và lingam và yoni – biểu tượng phồn thực của đàn ông
và đàn bà.
Vì thế, đền đài và tháp (stupa) ở Ấn Độ còn là các trung tâm văn hóa để cắt nghĩa cho vô số hình
tượng cuộc sống hằng ngày. Sau thế kỷ 10, các đề tài dục cảm bắt đầu trở nên nổi tiếng. Nhục dục và quan
hệ tình dục được phô bày trong các ngôi đền ở Khajuraho, Konarak, Bhubaneshwar và trong các ngôi đền
thời Kakathiya ở Palampet. Những cảnh miêu tả này nói lên rằng, trong thời kỳ đặc biệt đó của lịch sử Ấn
Độ, có sự tương hợp hoàn toàn giữa tính dục và tâm linh của con người.
(Ảnh chụp các ngôi đền ở Khajuraho)
Kiến trúc đền đài đạo Hindu thể hiện các kiệt tác trang trí điêu khắc. Các ngôi đền gỗ nổi tiếng ở
Mahabalipuram và Kanchipuram gần Chennai do triều đại Pallava xây là các mẫu hình của nghệ thuật trang
trí này, mặc dù triều đại Chola ở Thanjavur đã đưa nó tiến xa hơn nữa với đền Brihadeshwara lộng lẫy.
(Đền Panch Rath ở Mahabalipuran)
Bengal là quê hương của một vài nền văn minh lớn. Các ngôi đền ở Bankura và Burdwan, với những
phù điêu đất nung dùng để trang trí toàn bộ mặt ngoài bằng gạch, không chỉ là những công trình trang trí
lộng lẫy mà còn là sự mô tả hiện thực cuộc sống vùng nông thôn Bengal qua các thời đại, đến tận thời Đế
chế Anh.
(Tháp Qutub Minar)
Ảnh hưởng của Hồi giáo tới kiến trúc Ấn Độ được nhận thấy sau thế kỷ 11 với các cuộc xâm lược của
người Thổ Nhĩ Kỳ và Afghanistan. Qutb-ud-din Aibak – người khởi lập triều đại gọi là triều đại nô lệ – cho
xây thánh đường Hồi giáo đầu tiên ở Delhi và tháp Qutub Minar.
tài thiên nhiên theo một cách thức vừa thỏa mãn về mặt thẩm mỹ lại vừa rất hiệu quả khi làm đồ trang trí.
(Tranh của vùng Ajanta)
Tranh minh họa trên bản viết tay bằng lá cọ kinh sách Phật giáo và đạo Giai-na ở Gujarat vào khoảng
thế kỷ 12, có ảnh hưởng lớn từ tranh dân gian.
Những tranh minh họa này cũng ảnh hưởng đến tranh tiểu họa nổi tiếng của Ấn Độ. Nhiều bức tiểu
họa đẹp nhất của Ấn Độ dựa trên Ragmalas – tức là các tâm trạng gắn liền với các điệu nhạc raga khác
nhau. Ở đây, ta nhấn mạnh vào việc truyền tải tình cảm hay tâm trạng, hoặc bầu không khí. Nhờ việc sử
dụng màu sắc, những chi tiết trừu tượng, và cố ý làm phẳng kết cấu ba chiều một cách táo bạo, người họa
sĩ đã thành công trong việc phát lộ những sắc thái ẩn khuất nhất định vốn bình thường thì không thể làm
được bằng bất kỳ cách nào khác.
Ta có thể thưởng thức chất trữ tình nghiêm túc trong các bức tiểu họa trên lá cọ ở Orissa, phong cách
lịch sự tao nhã của tranh tường ở Bundelkhand, màu sắc táo bạo và sẫm của tranh ở Lepakshi, và cách thể
hiện sinh động trong các cung điện và các đền đài ở Madurai, Thanjavur và Ramanathapuram.
(Gita Govinda trên lá cọ – Orissa cổ đại)
Trong tất cả các truyền thống đa dạng này của hội họa Ấn Độ, yếu tố quan trọng – vốn truyền cho hội
họa Ấn Độ vẻ quyến rũ và nét sinh động – chính là ngôn ngữ dân gian đã tìm ra đường vào nghệ thuật của
các tiểu vương quốc.
(Một trong những bức tranh đẹp nhất thời Mughal)
Sự hòa trộn nghệ thuật Ba Tư và Mughal với nghệ thuật Ấn Độ tạo nên một loại hình nghệ thuật khác
biệt vào thế kỷ 15-16, làm nảy sinh các trường phái lai ghép, như trường phái hội họa Pahari, Rajasthan và
Deccan.
(Tranh theo trường phái Rajasthan)
(Tranh theo trường phái Pahari)
raga – thuật ngữ tiếng Phạn, và mỗi một raga lại có màu sắc và hơi điệu riêng biệt. Ngày nay, phần lớn raga
là những làn điệu dân gian hay dân tộc được chỉnh lý rất tinh tế và có quy tắc diễn xướng. Mỗi điệu raga có
đặc tính riêng, được hát tại thời điểm cụ thể trong ngày, trong mùa và gợi lên tâm trạng cụ thể. Nét tuyệt
hảo của âm nhạc Ấn Độ nằm ở quyền tự do dành cho người hát, bởi vì ngoài giới hạn đã xác lập thì nhạc sĩ
được tự do sáng tác. Điều này cũng đã tạo nên nhiều “gharanas” âm nhạc khác nhau. Có hai truyền thống
âm nhạc cổ điển Ấn Độ chính – Hindustani (Bắc Ấn) và Carnatic (Nam Ấn). Mặc dù cả hai đều dựa trên
cùng một quan niệm cơ bản, nhưng vẫn có sự khác nhau về sắc thái âm điệu, v.v. Sitar là nhạc cụ nổi tiếng
nhất của Ấn Độ, nhưng còn có vô số các nhạc cụ khác, gồm veena, santoor, shehnai, sáo – tất cả đều có
bộ gõ đi kèm, như tabla (trống đôi), pakhawaj, mridangam và ghatam. Tất cả đều phát triển từ nhạc cụ dân
gian đơn giản làm từ lau sậy, tre nứa và vỏ quả bầu.(Sitar)
(Veena hiện đại)
(Santoor)
(Sarod)
(Shehnai)
(Sáo)
(Tabla)
Trước khi có các loại hình múa cổ điển thì âm nhạc và múa tập trung vào các hoạt động của người
dân nông thôn và bộ tộc. Cho đến ngày nay, các cộng đồng nông thôn vẫn làm lễ kỷ niệm các sự kiện diễn
ra định kỳ trong cuộc sống thường nhật và các sự kiện theo mùa vụ, với các điệu múa và âm nhạc có
những nét rất giống nhau. Ở vùng vành đai dãy Himalaya, nam nữ ôm nhau và nhún nhảy một cách duyên
dáng, còn ở Punjab, động tác múa mạnh mẽ hơn và được gọi là điệu Bhangra (nam biểu diễn) và Giddha
(nữ biểu diễn).
(Ảnh chụp điệu múa Bhangra)
(Điệu Kuchipuddi)
Nghề thủ công
Ở Ấn Độ, dệt vải và in ấn lên vải được coi tự thân là một loại hình nghệ thuật. Từ vải muxơlin huyền
thoại, mỏng nhẹ như tơ của vùng Bengal đến khăn choàng dày của các bộ lạc, lụa thêu kim tuyến lóng lánh,
đến vải cotton đơn giản với các họa tiết in, khăn choàng jamavar đến đồ có gắn gương kính, ngành dệt Ấn
Độ là một kho báu. Ví dụ, zari là sợi kim tuyến vàng bạc đẹp lấp lánh, được dùng để thêu.
(Zariwork)
(Khăn choàng bộ lạc)
Đường may thêu vô cùng tinh tế và được thực hiện một cách khéo léo, lành nghề, với cách thêu bắt
đầu từ giữa, kéo dài đến viền ngoài theo hình xoay tròn. Các mẫu zari được sử dụng cho khăn trải bàn
bằng vải lanh và để may đồ quần áo cá nhân. Khăn choàng pashmina nổi tiếng của vùng Kashmi được làm
bằng loại len đẹp nhất và có lối dệt mịn, dày. Khăn choàng Án Độ phụ thuộc vào đường thêu hay cách dệt
họa tiết trang trí. Thợ thêu Kashmir rất tự hào về khăn choàng thêu có họa tiết giống nhau ở cả hai mặt.
Họa tiết được sử dụng để thêu và dệt khăn choàng tuân theo các truyền thống Ấn Độ và bao gồm họa tiết
voi, xoài, hoa sen và các họa tiết khác.
Điện ảnh
Phim xuất hiện ở Ấn Độ vào năm 1896, khi nghệ thuật điện ảnh của anh em nhà Lumiere trình chiếu
sáu bộ phim câm ngắn ở Mumbai. Bộ phim truyện đầu tiên của Ấn Độ – Raja Harishchandra – được phát
hành năm 1913. Bộ phim được thực hiện bởi Dhundiraj Govind Phalke, thường được biết đến là
Dadasaheb Phalke (1817-1944). Đây là một bộ phim câm. Đến năm 1920, ngành làm phim mới hình thành.
Bộ phim có tiếng nói đầu tiên được làm ở Ấn Độ là Alam Ara (Hãng phim Imperial sản xuất), phát hành
vào năm 1931. Cho đến những năm 1960, các công ty làm phim thống trị ngành điện ảnh và nhiều công ty
trong số đó có trường quay riêng. Các nghệ sĩ và kỹ thuật viên là người làm công hoặc ký hợp đồng dài hạn