Đề tài nghiên cứu phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam - Pdf 16

LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể,
đời sống người dân được nâng cao. Để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân,
thì không chỉ cần một nền sản xuất tiên tiến, mà bên cạnh đó, hệ thống bán lẻ cũng
đóng một vai trò hết sức quan trọng. Trong những năm gần đây, ngành bán lẻ của Việt
Nam đã có những bước phát triển vượt bậc. Nếu như trong thời kỳ bao cấp chỉ có một
vài cửa hàng mậu dịch của nhà nước mở ra để phục vụ cho những nhu cầu tiêu dùng
cơ bản của người dân, hàng hóa khan hiếm nên việc mua sắm gặp nhiều khó khăn, thì
hiện nay, với việc số lượng doanh nghiệp bán lẻ tăng lên nhanh chóng, hàng hóa đa
dạng phong phú, việc mua sắm đã trở nên thuận tiện hơn rất nhiều. Không chỉ vậy thị
trường bán lẻ còn góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa, đóng góp đáng kể vào tăng
doanh thu dịch vụ tiêu dùng, phát triển kinh tế đất nước.
Thị trường bán lẻ Việt Nam, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO, được nhìn nhận
là một thị trường đầy tiềm năng thu hút sự quan tâm đầu tư của cả các doanh nghiệp
trong nước lẫn các nhà bán lẻ nước ngoài. Theo đánh giá của các chuyên gia, trong
tương lai thị trường này sẽ còn phát triển nở rộ hơn nữa. Tuy nhiên đi cùng với sự phát
triển là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp bán lẻ trong nước và các tập
đoàn phân phối hàng đầu thế giới để giành thị phần trên mảnh đất màu mỡ này. Do đó,
em đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Phỏt triển thị trường bán lẻ của Việt
Nam”, với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về cơ sở lý luận của bán lẻ, thực trạng thị
trường bán lẻ của Việt Nam, và đưa ra một số kiến nghị, giải pháp.
Chuyên đề của em bao gồm 3 phần chính:
Chương 1 Cơ sở lý luận về thị trường bán lẻ
Chương 2 Thực trạng thị trường bán lẻ của Việt Nam
Chương 3 Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường bán lẻ của Việt Nam
trong điều kiện mở cửa thị trường phân phối
Do chuyên đề được viết dưới gúc nhỡn của cá nhân nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của cô giáo và các bạn.
Qua bài viết này em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sỹ Bùi Thị
Hồng Việt, cùng các anh chị, cán bộ công chức của Bộ Công Thương, Vụ thị trường
trong nước và Phòng Quản lý dịch vụ phân phối đã tạo điều kiện cho em trong suốt

dùng của khách hàng.
Mặc dù hầu hết hoạt động bán lẻ diễn ra tại các cửa hàng bán lẻ song trong
những năm gần đây hình thức bán lẻ không qua cửa hàng như bán hàng qua thư,
catalogue, điện thoại, Internet, Tivi, máy bán hàng tự động ngày càng phát triển và
trở nên phổ biến.
II. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA BÁN LẺ
1. Đặc điểm
Bán lẻ là thành viên cuối cùng trong kênh phân phối hàng hoá dịch vụ của doanh
nghiệp, do vậy người bán lẻ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng.
Vốn lưu động của doanh nghiệp luân chuyển liên tục, do các hoạt động mua bán
hàng hoá trong doanh nghiệp diễn ra thường xuyên và liên tục.
Các doanh nghiệp bán lẻ thường chọn vị trí đặt cửa hàng ở các khu vực dân cư
những địa điểm dễ nhận biết, dễ nhận ra và cũng được trang trí rất hấp dẫn để khách
hàng dễ nhớ.
Hệ thống kho tàng của doanh nghiệp bán lẻ cũng được thiết kế đặc biệt đảm bảo
luôn đủ hàng để cung cấp cho khách hàng, bảo đảm chất lượng hàng hoá. Đội ngũ
nhân viên bán hàng cũng đươc đào tạo rất chuyên nghiệp, có đầy đủ các kỹ năng bán
hàng.
2. Vai trò
Các doanh nghiệp bán lẻ góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành và cả
nền kinh tế, là mắt xích cuối cùng trong kênh phân phối, do vậy nó cũng đẩy nhanh tốc
độ chu chuyển hàng hoá từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.
Những người bán lẻ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên họ là người trực tiếp
nắm được những thông tin phản hồi từ khách hàng, nắm được những thông tin từ đối
thủ cạnh tranh. Do vậy nó là nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy cho các doanh
nghiệp, từ đó đưa ra các kế hoạch sản xuất nhằm thu được lợi ích cao nhất.
Các doanh nghiệp bán lẻ cũng góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn
đề xã hội như: tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, làm giảm các tệ nạn xã
hội (do không có việc làm) đóng góp vào ngân sách Nhà nước và tham gia vào các
hoạt đông văn hoá xã hội.

sắm của người tiêu dùng tại địa phương ấy.
Chẳng hạn như nhà sản xuất bia sẽ cung cấp cho nhà phân phối từng xe tải, nhà
phân phối sau đó bán lại cho nhà bán lẻ mỗi lần có thể chỉ vài két, để nhà bán lẻ cuối
cùng bán lại cho người tiêu dùng một vài chai.
3. Lưu trữ sẵn hàng hóa
Một trong những chức năng chính của nhà bán lẻ là lưu trữ hàng hóa nhằm làm
cho hàng hóa lúc nào cũng có sẵn mỗi khi người tiêu dùng cần đến. Người bán lẻ
thông thường không thích trữ chỉ một vài mặt hàng với khối lượng lớn, ngược lại họ
thích trữ nhiều mặt hàng với khối lượng càng nhỏ càng tốt. Vì như thế khách hàng
luôn luôn có nhiều sự chọn lựa hơn. Hưởng lợi từ chức năng này của người bán lẻ,
khách hàng không phải mua trữ nhiều sản phẩm trong nhà. Họ chỉ mua đủ dùng vì sản
phẩm lúc nào cũng có sẵn ở cửa hàng bán lẻ.
Không những thế, người bán lẻ còn dự đoán nhu cầu của khách hàng khi lên kế
hoạch dự trữ hàng. Đây là một lợi ích mà người bán lẻ tạo ra cho khách hàng, khi nhu
cầu phát sinh, khách hàng luôn dễ dàng tìm thấy thứ mà mình cần.
4. Trưng bày hàng hóa và cung cấp dịch vụ cộng thêm.
Bên cạnh những chức năng trên, nhà bán lẻ còn tạo ra mặt bằng trưng bày hàng
hóa rộng lớn có thể trưng bày hàng hóa một cách đa dạng và phong phú, giúp khách
hàng thoải mái xem, thử, chọn lựa trước khi quyết định mua.
Không chỉ chấp nhận thanh toán bằng những loại thẻ tín dụng phổ biến, nhiều
nhà bán lẻ còn phát hành thẻ tín dụng riêng của họ nhằm giúp cho khách hàng có được
một hạn mức tín dụng để mua hàng trước và trả tiền sau.
IV. PHÂN LOẠI
Thể loại bán lẻ của một cửa hàng chính là sự tập hợp những chủng loại hàng hóa
và dịch vụ mà cửa hàng ấy chọn vào danh mục phục vụ, và bao gồm những yếu tố
dưới đây:
- Đặc tính của chủng loại hàng hóa và dịch vụ mà cửa hàng ấy phục vụ
- Chính sách giá mà cửa hàng ấy theo đuổi
- Chính sách của cửa hàng đối với hoạt động quảng cáo và khuyến mãi
- Chính sách của cửa hàng về mặt thiết kế, trưng bày

khách hàng về với mình.
4. Siêu thị bỏch hoỏ, siêu thị tổng hợp, và tổ hợp thương mại.
Siêu thị bỏch hoỏ là có mặt bằng khoảng 35.000 foot vuông và nhằm mục đích
thoả mãn đầy đủ các nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm mua hàng ngày và
những mặt hàng không phải thực phẩm, có thể nó cũng đảm bảo cả dịch vụ như giặt là,
sửa chữa giày dép, đổi séc ra tiền mặt và thanh toán hoá đơn, các quầy điểm tâm rẻ
tiền.
Siêu thị tổng hợp là một dạng siêu thị đa dạng hoỏ cỏc mặt hàng, có bán cả thực
phẩm và dược phẩm, có mặt bằng trung bình khoảng 55.000 foot vuông.
Tổ hợp thương mại có diện tích lớn hơn nữa có diện tích khoảng 80.000 đến
220.000 foot vuông. Tổ hợp thương mại kết hợp siêu thị và các nguyên tắc bán lẻ có
chiết khấu và bán lẻ tại kho. Danh mục sản phẩm của nó vượt ra ngoài phạm vi những
hàng hoá thông thường bao gồm cả đồ gỗ, các thiết bị lớn và nhỏ, quần áo, và rất nhiều
những mặt hàng khác. Nguyên tắc cơ bản là xếp hàng thành đống và giảm đến mức tối
thiểu công việc bốc xếp cho nhân viên bán hàng, có đảm bảo chiết giá cho những
khách hàng sẵn sàng chuyên chở lấy những thiết bị và đồ gỗ nặng từ cửa hàng về nhà.
5. Cửa hàng hạ giá.
Cửa hàng hạ giá bán những hàng hoá tiêu chuẩn với giá thấp do chấp nhận mức
giá thấp và bán với khối lượng lớn hơn. Việc sử dụng biện pháp giảm giá từng đợt hay
vào những dịp đặc biệt không làm cho cửa hàng trở thàng cửa hàng hạ giá. Cửa hàng
hạ giá đích thực thường xuyên bán hàng với giá thấp hơn, bán phần lớn là những nhãn
hiệu toàn quốc chứ không phải kém phẩm chất. Những cửa hàng hạ giá đầu tiên cắt
giảm chi phí bằng cách sử dụng những cơ sở giống như nhà kho ở những khu vực tiền
thuê nhà rẻ, nhưng đông người qua lại. Họ cắt giảm mạnh giá cả, quảng cáo rộng rãi
và bỏn cỏc chủng loại sản phẩm với bề rộng và bề sâu vừa phải. Những năm gần đây
nhiều người bán lẻ hạ giá đã ăn nên làm ra. Họ đã cải thiện trang trí nội thất, bổ sung
thờm cỏc loại hàng hoá và dịch vụ mới, mở những chi nhánh ở vùng ven đô. Tất cả
những điều đú đó dẫn đến chi phí và giá cả cao hơn, và khi các cửa hàng bỏch hoỏ
tổng hợp cắt giảm giá của mình để cạnh tranh với những người bán hạ giá, thì sự khác
biệt giữa những cửa hàng hạ giá và các cửa hàng bỏch hoỏ tổng hợp đã bị xoá nhoà đi.

thời kì họp khá đều đặn, nhưng dần dần chợ chỉ họp vào những ngày nhất định. Hàng
hoỏ bỏn ở chợ phiên thường là những hàng hoá chất lượng thấp, hàng không cú nhón
mác và hàng đã qua sử dụng. Ngoài ra những thương nhân bán ở chợ phiên thường
được coi là những kẻ lừa gạt, chợ phiên còn gắn với những tật xấu như nạn ăn cắp vặt,
móc túi vì vậy chợ phiên còn đươc coi là “chợ trời”. Ngày nay những chợ phiên vẫn
còn tồn tại và hoạt động ở khắp nơi trên thế giới. Chợ phiên gồm tập hơp cá nhà bán lẻ
độc lập, bán nhiều hàng hoá khác nhau, cả cũ và mới và cũng có thể mặc cả được. Số
lượng chủng loại hàng hoỏ bỏn ở chợ phiên là không giới hạn và người mua có thể
thấy bất kì hàng hoỏ gỡ ở đây. Chợ phiên có thể họp thường xuyên hay chỉ họp vào
những ngày cuối tuần, có thể có những quầy hàng bán trong nhà hoặc bày bán ngoài
trời, những nhà bán lẻ thuê không gian bán hàng và tự lo những gì cần thiết cho việc
bày bán hàng.
Chương 2
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CỦA VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH BÁN LẺ Ở VIỆT NAM
Ngành bán lẻ Việt Nam đã có những bước tiến dài sau hơn 20 năm đổi mới, cả
về chất lượng lẫn số lượng. Cơ cấu ngành bán lẻ đó cú những biến đổi sâu sắc, từ chỗ
chủ yếu do Nhà nước, hợp tác xác chiếm độc quyền và đơn loại hình (cửa hàng bách
hóa và cửa hàng hợp tác xã bán hàng theo phương thức xếp hàng, tem phiếu) đã
chuyển sang ngành bán lẻ đa loại hình với nhiều thành phần kinh tế tham gia.
Biểu đồ 1: Tỷ trọng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 1998
(Nguồn: Số liệu của tổng cục thống kê Việt Nam)
Biểu đồ 2: Tỷ trọng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2008
(Nguồn: Số liệu của tổng cục thống kê Việt Nam)
Các loại hình bán lẻ ngày càng phát triển đa dạng, xuất hiện nhiều phương thức
kinh doanh tiên tiến hiện đại. Nếu như trước đây 100% hàng hóa bán lẻ thông qua các
cơ sở bán lẻ truyền thống, thì hiện nay, theo thống kê của Bộ Thương mại, khoảng
40% hàng hóa đến tay người tiêu dùng qua hệ thống chợ, 44% qua cửa hàng bán lẻ
truyền thống, 10% qua hệ thống phân phối hiện đại như siêu thị, trung tâm thương
mại, và 6% là do nhà sản xuất bán trực tiếp cho người tiêu dùng.

khu vực phía Nam, và cứ 42,13 km
2
có một chợ, hay bán kính phục vụ trung bình của
một chợ là 3,66 km.
Cũng theo thống kê của Bộ Thương mại, hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủ
yếu qua hệ thống chợ (khoảng 40%), cửa hàng bán lẻ truyền thống (44%), hệ thống
phân phối hiện đại chỉ mới chiếm khoảng 10%, 6% là do nhà sản xuất bán trực tiếp.
Khảo sát của Nestlộ Việt Nam cũng cho thấy, 90% các bà nội trợ Việt Nam vẫn mua
đồ ở các chợ truyền thống.
Trong Đề án phát triển thương mại đến 2010 và định hướng đến 2020 vừa được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các loại hình chợ như chợ ở nông thôn, vựng sõu,
vựng xa, vùng biên giới, hải đảo và chợ trung tâm, chợ chuyên doanh, chợ đầu mối ở
cỏc vựng sản xuất nông sản tập trung, các thị trường tiêu thụ lớn cũng được đẩy
mạnh phát triển.
1.2 Hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại
Song song với hệ thống chợ ngày càng phát triển thì loại hình bán lẻ hiện đại
(siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi ) cũng được Nhà nước chủ trương
mở rộng. Đến cuối năm 2008, cả nước có 386 siêu thị, trung tâm thương mại. Các siêu
thị có quy mô lớn vẫn tập trung chủ yếu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (chiếm
khoảng 43,26%), con số này ở Đà Nẵng là khoảng 5,18%. Chỉ tớnh riờng ở Hà Nội,
hiện nay đó cú 9 trung tâm thương mại vừa và lớn, 53 siêu thị và cửa hàng tự chọn,
gần 30 cửa hàng bách hóa, khoảng 10.000 cửa hàng bán lẻ.
Các siêu thị, ngoài việc bán đa dạng các mặt hàng, có những đầu tư sâu cho các
phân khúc khác nhau. Chẳng hạn, Metro nhắm vào kênh doanh nghiệp, khách sạn, nhà
hàng, tiệm cà phờ…. Vinatexmart chuyên doanh hàng may mặc của doanh nghiệp Việt
Nam. Medicare chuyên sản phẩm chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên, xét theo tính chất của
hoạt đông kinh doanh, có thể chia các siêu thị ở Việt Nam hiện nay làm hai loại chính:
- Siêu thị tổng hợp như Big C, Metro, Intimex, … với số lượng mặt hàng đa
dạng về cả chủng loại và nhãn hiệu
- Siêu thị chuyên doanh như siêu thị điện máy (Pico Plaza, An Dương home

thương mại, hệ thống tổng. Từ 2008-2011 sẽ đầu tư tiếp 3.000-6.000 tỉ đồng xây dựng
các đại siêu thị, trung tâm phân phối bán buôn, mua bán để tạo thành tập đoàn phân
phối số 1 Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài. Ngoài ra, Satra đã cùng với Saigon Co.op
liên kết để xây dựng các siêu thị với tổng vốn đầu tư khoảng từ 45-55 tỷ đồng/dự án.
Trước mắt, Satra - Co.opMart sẽ triển khai xây dựng 2 siêu thị tại Đà Nẵng và Long
Xuyên. Bên cạnh đó, mỗi đơn vị cũng đang tiếp tục triển khai các dự án liên kết với
các tỉnh để nhanh chóng phủ kín siêu thị, trung tâm thương mại tại nhiều tỉnh thành
khác như Quảng Ngãi, Bình Định, Tõy Nguyờn, Đồng Nai…
Tuy nhiên, hầu hết các siêu thị có quy mô lớn đều do các nhà doanh nghiệp bán
lẻ quốc tế đầu tư, như Metro, Big C…Hiện nay, tại thị trường Việt Nam, Metro Cash
& Carry (Đức) đã mở siêu thị thứ 9 ở Cần Thơ; Big C đã mở siêu thị thứ 8 tại Huế và
đang xúc tiến xây dựng thêm 2 đại siêu thị tại Đồng Nai và An Giang trong năm 2009,
Parkson (Malaysia) cũng đang có 5 siêu thị hoạt động Các hệ thống siêu thị do các
nhà đầu tư nước ngoài thiết lập đều rất bài bản, văn minh và hoạt động hiệu quả.
Trong khi đó, các siêu thị nội địa vẫn ở trong tình trạng diện tích nhỏ, trang thiết
bị thô sơ và sử dụng lao động phổ thông. Từ đầu năm 2009 đến nay, Hapro khai
trương 4 siêu thị đồng giá mang thương hiệu Daiso - do Nhật Bản nhượng quyền.
Tháng 6/2009, Hapro khai trương 2 siêu thị Hapro Mart tại chợ Bưởi và khu chung cư
Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội, nâng tổng số siêu thị, cửa hàng tiện ích của đơn vị lên
30 điểm kinh doanh tại Hà Nội và 4 tỉnh phía Bắc. Hệ thống siêu thị Saigon Corp từ
đầu năm 2009 đến nay, đã mở 2 siêu thị tại Bình Phước và Vũng Tàu, nâng tổng số
điểm bán lẻ lên 37. Tuy nhiên, quy mô siêu thị Hapro và Saigon Corp vẫn ở dạng nhỏ,
nguồn hàng không thật sự phong phú.
1.3 Hệ thống cửa hàng bán lẻ tự chọn
Hiện nay, loại hình cửa hàng bán lẻ tự chọn ngày càng gia tăng về số lương, quy
mô và phương thức hoạt động theo hướng chuyên nghiệp.
Cửa hàng tự chọn là loại mô hình cửa hàng bán lẻ theo phương thức tự phục vụ
nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm thuận tiện của khách hàng, kinh doanh chủ yếu là
thực phẩm, đồ uống, đồ đóng hộp. Diện tích bán hàng từ 30m
2

thường được đưa ra giới thiệu ở những cửa hàng này trước khi tung ra bán rộng rãi
trên thị trường.
Ở những điểm bán lẻ này, hầu hết mặt hàng đều là sản phẩm mang nhãn hiệu của
công ty. Cửa hàng bán lẻ sẽ nhận được những ưu đãi, hỗ trợ nhất định từ phía công ty,
như cung cấp nguồn hàng, bảng hiệu quảng cáo, giá cả ưu đãi, có chiết khấu và thưởng
trên mỗi sản phẩm bán ra, và thưởng nếu đạt được mức doanh thu cao,…
Điển hình là công ty Sony Việt Nam với việc lựa chọn trên 100 nhà kinh doanh
sản phẩm điện tử khắp cả nước, thành lập Hội đại lý bán lẻ Sony Việt Nam. Tiêu
chuẩn để lựa chọn nhà kinh doanh là trưng bày sản phẩm của công ty trong cửa hàng ít
nhất là 50% trên tổng số sản phẩm, tuân thủ các chính sách của công ty về chỉ tiêu
mua hàng, giữ giá thị trường, tránh cạnh tranh không lành mạnh, thực hiện các chiến
dịch bán hàng, quảng cáo, khuyến mói,…Đây là những thành việc quan trọng trong hệ
thống phân phối của Sony, và ngược lại, công ty cũng hỗ trợ những thành viên này
một cách tích cực, như cung cấp bảng hiệu, sản phẩm trưng bày với giá ưu đãi đặc
biệt, đáp ứng yêu cầu về đặt hàng, bồi thường thiệt hại khi giảm giá, hỗ trợ về tài
chính, dành riêng chiết khấu và thưởng cho các cửa hàng, …
1.5 Hệ thống bán hàng trực tuyến
Trong thời đại mà công nghệ thông tin phát triển như vũ bão hiện nay, thì một
hình thức bán hàng nữa đã ra đời và chứng minh được tính tiện lợi, hiệu quả của nó,
đó là hình thức bán hàng trực tuyến, thông qua các website hoặc kênh mua sắm.
Chính bởi tính hiệu quả, lợi nhuận khá cao lại ít tốn kém chi phí, nên ngày càng
xuất hiện nhiều các website bán hàng trực tuyến. Các website này thường là của các
công ty mở ra, kết hợp với bán hàng thông qua cỏc kờnh bán lẻ khác, để tăng doanh
thu, tăng tầm phủ sóng của kênh phân phối. Với loại hình bán hàng trực tuyến này phải
kể tới các doanh nghiệp bỏn cỏc mặt hàng điện tử, điện máy, ví dụ các siêu thị điện
máy, thế giới di động, mobile mart,… Công ty sách vinabook cũng có một website bỏn
sỏch qua internet, hoạt động khá hiệu quả. Một số cửa hàng bán lẻ các mặt hàng thời
trang cũng tự lập ra cá website để bán hàng qua mạng cho những khách hàng ở xa,
không tiện ghé qua cửa hàng, hoặc không có thời gian.
Ngoài ra cũng có những website chuyên bán hàng trực tuyến, hoạt động giống

và đã có mặt ở hầu khắp cả nước. Tuy nhiên nếu xét về hệ thống bán lẻ hiện đại như
siêu thị, trung tâm thương mại, chuỗi cửa hàng tiện ích mà các doanh nghiệp này thiết
lập thì mới chỉ bảo phủ được khoảng 30 trên 64 tỉnh, thành phố. Trong đó, gần 80%
các siêu thị, trung tâm thương mại tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,…Cỏc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phân phối
trong nước còn nhiều hạn chế về năng lực tài chính, công nghệ, kỹ năng tổ chức quản
lý kinh doanh,… so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong
cùng lĩnh vực này.
2.2 Các tập đoàn phân phối nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Trong những năm qua, các tập đoàn phân phối nước ngoài đã bắt đầu đổ bộ vào
thị trường Việt Nam và nhanh chóng trở thành một chủ thể quan trọng trong quá trình
phân phối hàng hóa. Rất nhiều các tập đoàn phân phối bán lẻ của nước ngoài đã có mặt
tại Việt Nam và hoạt động rất hiệu quả như Metro Cash & Carry, Big C, Parkson,…
Các công ty phân phối của nước ngoài với nguồn vốn đầu tư lớn, công nghệ cao, kỹ
năng quản lý chuyên nghiệp và kinh nghiệm hoạt động lâu năm, đã xây dựng nên
những hệ thống bán lẻ chuyên nghiệp, văn minh và hiện đại, nổi trội hơn hẳn so với
các doanh nghiệp trong nước. Các tập đoàn này thường tập trung vào khâu phân phối
dựa trên sự ký kết hợp đồng thu mua sản phẩm từ nhiều nguồn khác nhau mà không
trực tiếp sản xuất ra sản phẩm để phân phối như một số doanh nghiệp trong nước. Sự
có mặt của các tập đoàn bán lẻ này tại Việt Nam, một mặt tạo nên sự cạnh tranh gay
gắt, làm đa dạng hóa hình thức bán lẻ, phong phú về chủng loại sản phẩm với giá cả
cạnh tranh, tạo cơ hội tốt để hình thành một thị trường nội địa hoạt động lành mạnh,
phát triển đa dạng và tiếp cận được với trình độ hiện đại của thế giới trong hoạt động
bán lẻ hàng hóa. Mặt khác tạo nên sức ép lớp đòi hỏi các nhà bán lẻ trong nước phải
không ngừng cải thiện hệ thống bán lẻ của mình để không bị các tập đoàn bán lẻ quốc
tế bỏ xa và chiếm lĩnh thị trường trong nước.
2.3 Các doanh nghiệp bán lẻ, các hộ kinh doanh
Đây là một trong những thành phần quan trọng tham gia vào thị trường bán lẻ
của Việt Nam và tạo ra việc làm cho khoảng 5 triệu lao động trong cả nước. Tuy
nhiên, hoạt động kinh doanh của nhóm này còn mang nặng tính tự phát, hầu hết đều là

(Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thành
phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng)
Đơn vị: %

3.4Hình thức phục vụ bán hàng
Biểu đồ 6: Hình thức phục vụ bán hàng
(Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thành
phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng)
Đơn vị: %
4. Thị trường bán lẻ của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Từ tháng 1 năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức
thương mại quốc tế WTO. Điều này mở ra vô vàn cơ hội cũng như thách thức mà nền
kinh tế nước ta phải đối mặt, thị trường bán lẻ cũng không phải là ngoại lệ.
Việc gia nhập WTO đã tạo một bước ngoặt lớn cho ngành bán lẻ của Việt Nam.
Theo phân tích của giới kinh doanh và phân phối hàng tiêu dùng, với một thị trường
khoảng 86 triệu dân, tổng mức tiêu dùng những năm gần đây đã đạt mức từ 25-30 tỉ
USD/năm, Việt Nam được đánh giá là thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới (theo
báo cáo về chỉ số phát triển mảng kinh doanh bán lẻ (GRDI) năm 2009 của hãng tư
vấn Mỹ A.T. Kearney). Do đó Việt Nam là điểm đến lý tưởng của các tập đoàn phân
phối đa quốc gia. Đây cũng là điều lý giải vì sao khi đàm phán để Việt Nam gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới, các đối tác luôn đưa ra yêu sách Việt Nam phải mở cửa
lĩnh vực dịch vụ phân phối hàng hoá. Và đúng như cam kết, ngay sau khi trở thành
thành viên của WTO, Việt Nam đã tiến hành mở cửa thị trường bán lẻ, theo đó, các
nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư và hoạt động theo hình thức liên doanh, trong đó
nhà đầu tư nước ngoài chiếm không quá 49% vốn điều lệ doanh nghiệp. Từ 1/1/2008,
không hạn chế tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài (nhưng vẫn phải lập công ty
dưới hình thức góp vốn liên doanh). Và mới đây, từ 1/1/2009, Việt Nam lại tiếp tục
thực hiện bước nữa của lộ trình đã cam kết, đó là các nhà đầu tư nước ngoài được đầu
tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
bán lẻ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều như Metro Cash & Carry

vào bước ngoặt mới của cuộc cạnh tranh.
Trong khi các tập đoàn bán lẻ nước ngoài được biết đến với hình ảnh những đại
siêu thị thì hầu hết cửa hàng truyền thống của Việt Nam đều ở trong tình trạng chung
là có diện tích nhỏ, trang thiết bị thô sơ và chủ yếu sử dụng lao động phổ thông. Các
doanh nghiệp thương mại trong nước phần lớn cũng là doanh nghiệp có quy mô nhỏ
và vừa. Sự chênh lệch khá lớn về trình độ cũng như tài chính này đã đẩy các doanh
nghiệp bán lẻ Việt Nam vào tình thế cạnh tranh khốc liệt, có nguy cơ phá sản nếu như
không tìm ra một hướng đi mới.
Nhận thức rõ mối nguy đú, đó cú những doanh nhân đưa ra phương án phá vỡ
thế bế tắc, mà đi đầu trong việc đối phó với nguy cơ bành trướng của hệ thống phân
phối hàng hoá mà các tập đoàn phân phối đa quốc gia sẽ thâm nhập vào thị trường
Việt Nam, các doanh nhân kinh doanh trong lĩnh vực phân phối hàng hoá hàng đầu
trong nước đã khẩn trương lập ra Cty TNHH thương mại và dịch vụ G7 (G7 Mart) để
xây dựng hệ thống phân phối hàng hoá trên khắp thị trường Việt Nam. G7 Mart được
hình thành trên cơ sở tập hợp các cửa hàng tạp hóa nhỏ lẻ với mục tiêu là trang bị,
nâng cấp, thay đổi phương thức quản lý, cung cách phục vụ để hướng các cửa hàng
này thành chuỗi cửa hàng kinh doanh tiện lợi theo mô hình phân phối hiện đại kinh
doanh 24 giờ của tập đoàn 7-Eleven tại Thái Lan. Các siêu thị G7 lại lựa chọn từ
những cửa hàng bán lẻ bình dân đang hoạt động hiệu quả, theo nhiều tiêu chí đánh giá
của công ty này như doanh thu tháng, quy mô cửa hàng, diện tích, vị trí Với hình
thức hợp tác kinh doanh, nhượng quyền thương hiệu, chủ các cửa hàng bán lẻ sẽ ký
hợp đồng với G7 để trở thành thành viên của chuỗi thương hiệu này. G7 sẽ đầu tư cửa
hàng theo một thiết kế trang trí độc quyền, cung cấp và phân phối hàng tập trung, đồng
thời thiết lập những dịch vụ giá trị gia tăng như phát hành thẻ mua hàng trả trước
khuyến mãi 10% trên giá trị thẻ, thanh toán chi phí các dịch vụ sinh hoạt như điện
nước, điện thoại để phục vụ người tiêu dùng. Với tổng giá trị đầu tư lên tới 395 triệu
USD, theo dự kiến đến năm 2010 G7 Mart sẽ có khoảng 7.000 cửa hàng tiện lợi, 200
trung tâm phân phối, 100 trung tâm phân phối sỉ, 7 trung tâm thương mại và 7 siêu thị
lẻ tại VN khắp 65 tỉnh, thành.
Không chỉ có G7, hiện nay công ty Intimex đang đề ra chiến lược xây dựng một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status