Tiểu Luận Quản Trị Kinh Doanh Nhóm 3
Tiểu luận
Đề tài: "Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu
thụ dưa chuột bao tử ở Lục Nam – Bắc
Giang"
1
Tiểu Luận Quản Trị Kinh Doanh Nhóm 3
MỤC LỤC
2
Tiểu Luận Quản Trị Kinh Doanh Nhóm 3
I. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong số các cây thực phẩm thì dưa chuột bao tử là cây trồng ngắn ngày cung cấp
nguyên liệu cho ngành chế biến rau quả xuất khẩu, được nhiều quốc gia ưa thích. Kết quả
nghiên cứu cho thấy dưa chuột bao tử là cây có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả chứa
nhiều vitamin A, B, B6, E…và đặc biệt có nhiều men tiêu hóa có lợi cho quá trình đồng
hóa và hấp thụ thức ăn tốt hơn. Nhận thấy được vai trò của dưa chuột bao tử những năm
gần đây đã có nhiều cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước khảo sát nghiên cứu và
chọn Việt Nam là nơi sản xuất dưa chuột bao tử làm nguyên liệu để chế biến cho xuất
khẩu sang các nước như Nhật, Mỹ, Nga và một số nước Đông Âu.
Xuất khẩu dưa chuột bao tử của Việt Nam trong những năm qua không ngừng
tăng lên. Sản xuất và xuất khẩu dưa chuột bao tử của Việt Nam đã có những bước tiến
đáng kể. Nhu cầu tiêu dùng dưa chuột và các sản phẩm chế biến từ dưa chuột tăng mạnh
từ cuối năm 2008 đến nay. Theo số liệu thống kê của tổng cục hải quan, kim ngạch xuất
khẩu dưa chuột và các chế phẩm từ dưa chuột 5 tháng đầu năm 2009 đạt hơn 22,2 triệu
USD tăng 155% so với cùng kỳ 2008, ước tính trong tháng 6 kim ngạch có thể đạt tới gần
1,9 triệu USD, nâng tổng kim ngạch lên 24,1 triệu USD. Có 33 thị trường nhập khẩu dưa
chuột từ Việt Nam, trong đó Liên Bang Nga là nước có kim ngạch cao nhất với 12,3 triệu
USD, đây cũng là thị trường có kim ngạch cao nhất trong nửa đầu năm 2008.
So với các cây trồng ngắn ngày khác, cây dưa chuột bao tử có nhiều ưu thế như
chi phí cho sản xuất không cao, vòng quay thu hồi vốn nhanh, thời gian thu hoạch ngắn,
Trước kia cây lúa là cây trống chính, tuy nhiên khi điều kiện sống tăng lên thì nhu
cầu về rau quả cũng tăng cao, các sản phẩm được chế biến từ dưa chuột bao tử cũng dần
được ưa chuộng hơn cả trong và ngoài nước.
Hiện nay dưa chuột bao tử được trồng chủ yếu ở Bắc Giang, Hải Dương, Hưng
Yên, Hải Phòng, Hà Nam, Bắc Ninh. Và một số thị trường xuất khẩu chủ yếu như Nhật
Bản, Đài Loan, Singapore…
Diện tích trồng dưa chuột bao tử của Việt Nam đã tăng từ 148,42 nghìn ha năm
2005 lên 448,42 nghìn ha năm 2008. Khu vực sản xuất dưa chuột chủ yếu là vúng Đồng
bằng Sông Hồng chiếm 23,28% về diện tích và 25,46% về sản lượng (năm 2007).
Việc nâng cao năng lực chế biến dưa chuột bao tử đã được chú trọng hơn. Năm
2000 cả nước chỉ có 12 nhà máy và 48 cơ sở chế biến rau quả có dây chuyền và thiết bị
còn lạc hậu, sản phẩm sản xuất ra con chưa phù hợp với thị trường, công suất 150 nghìn
tấn/năm. Nhưng sau 4 năm triển khai đề án phát triển rau quả và hoa cây cảnh giai đoạn
2000 – 2010 đã có thêm 12 nhà máy chế biến công suất cao 290 nghìn tấn/năm với thiết
bị hiện đại, sản phẩm sản xuất đã có mặt ở 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới,
thâm nhập vòa được những thị trường có yêu cầu cao về chất lượng cũng như mẫu mã
sản phẩm như thị trường Mỹ và EU.
Từ khi có quyết định số 80/2002/QĐ – TTg ngày 24/6/2002 về chính sách khuyến
khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng đến tháng 6/2006 Tổng công ty
Rau quả Việt Nam đã ký 924 hợp đồng tiêu thụ sản phẩm dưa chuột bao tử.
Dưa chuột bao tử khi các hộ trồng ra không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà
còn dùng cho xuất khẩu ra các nước trên thế giới. Năm 2007, tổng công ty rau quả Việt
Nam đã xuất khẩu được 47.423 tấn dưa chuột hộp và 552 tấn dưa chuột đóng lọ thủy tinh.
Năm 2008, tổng diện tích trồng là 1.685,56 ha, sản lượng xuất khẩu là 70.478 tấn
dưa chuột hộp và 1718 tấn dưa chuột đóng lọ thủy tinh. Tổng giá trị xuất khẩu là 7,98
triệu USD.
5
Tiểu Luận Quản Trị Kinh Doanh Nhóm 3
Thị trường xuất khẩu dưa chuột và các dạng chế phẩm từ dưa chuột đã được mở
rộng thêm 10 nước trong đó chủ yếu là các nước trong khối EU như Hà Lan, Bồ Đào Nha
lướn nhất của huyện có thể do đây là xã có các điều kiện phù hợp cho cây dưa chuột phát
triển tốt, bên cạnh đó người dân cũng chăm chỉ tích cực tiếp thu các tiến bộ mới.
Hiện nay diện tích trồng dưa chuột bao tử của cả huyện nói chung và diện tích
trồng dưa trên địa bàn xã Đông Phú nói riêng đều có su hương tăng nên qua các năm.
Bảng 1: Quy mô diện tích trồng dưa chuột bao tử của xã Đông Phú
Thôn
2007 2008 2009
Gắn
1,2 3,15 4,35
Thanh sơn
1,1 2,46 3,56
Phong quang
2,3 3,35 5,65
Đoàn tùng
0,5 1,46 1,96
Cây đa
0,8 0,52 1,32
Tân tiến
2,5 2,03 4,53
Hưởng ban
2,8 1,98 4,78
Va
3,2 2,93 6,13
Trong
5,6 6,90 12,5
Yên bắc
8,5 7,97 16,47
Ngoài
1 1,48 2,98
Tổng
triển mạnh nhất trong huyện đến năm 2015 đó là cây dưa bao tử và dưa chuột Nhật.
Diện tích trồng cây rau màu chế biến năm 2009 là 68ha, tập trung ở các xã đó là
xã Đông Phú, Bảo Sơn, Thanh Lâm, Bảo Đài, Tam Dị, Đông Hưng, bằng cây trồng dưa
chuột bao tử, ớt ngọt, cà chua bi….Diện tích cây màu chế biến năm 2015 đạt 380ha tập
trung chủ yếu ở các xã Đông Phú, Thanh Lâm, Chu Điện, Thị Trấn Đồi Ngô, trong đó
diện tích trồng dưa chuột bao tử lướn nhất đó là xã Đông Phú đây là xã có điều kiện
thuận lợi cho phát triển cây dưa chuột bao tử.
Huyện Lục Nam nói chung, xã Đông Phú nói riêng có thế mạnh sản xuất cây dưa
chuột, bên cạnh đó trên địa bàn tỉnh có 8 doanh nghiệp chế biến nông sản thục phẩm xuất
khẩu. Trên thực tế sản lượng rau phục vụ chế biến của tỉnh mới chỉ đáp ứng được 50,55%
nhu cầu công suất của nhà máy. Điển hình như công ty GOC công suất 14.000 tấn/năm,
công ty TNHH phương đông và công ty TPBG công suất 3000 tấn/năm hàng năm các
doanh nghiệp này đều phải đi thu mua các sản phẩm từ các tỉnh lân cận. Điều này cho
8
Tiểu Luận Quản Trị Kinh Doanh Nhóm 3
thấy việc mở rộng quy mô diện tích của huyện Lục Nam cho đến năm 2015 là hoàn toàn
hợp lý vì khi mở rộng quy mô sản xuất sẽ không phải lo nghĩ đến việc tìm đầu ra cho sản
phẩm do các công ty sãn sàng thu mua các sản phẩm cho các hộ dân từ đó nâng cao thu
nhập cho các hộ dân.
2.2.2 Tình hình chế biến dưa chuột bao tử tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Song song với việc không ngừng mở rộng diện tích trồng cây dưa chuột xuất khẩu
trên địa bàn tỉnh, các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất chế biến dưa chuột xuất
khẩu cũng gia tăng nhanh chóng, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và hoạt động
chế biến nông sản trên địa bàn.
Đến nay, số doanh nghiệp và cơ sở sản xuất chế biến trong lĩnh vực này không
ngừng phát triển về số lượng và ngày càng chú trọng về chất lượng. Các đơn vị thu mua,
công ty chế biến nông sản được thành lập và hoạt động hiệu quả đã dần hình thành mối
liên kết chặt chẽ, tạo nên vòng khép kín giữa vùng nguyên liệu và cơ sở chế biến. Hiện
nay trên toàn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang có 3 doanh nghiệp lớn chế biến dưa chuột
bao tử đó là công ty CPCBTPXK Bắc Giang, GOC, công ty rau quả Xuất Khẩu Hải
doanh, nhất là chưa có chiến lược đầu tư cho vùng nguyên liệu và chiến lược thị trường
trong và ngoài nước. Thông tin dự báo về thị trường nói chung là ít ỏi và thiếu chính xác,
khi thị trường có biến động về nhu cầu tiêu thụ, về giá làm cho các doanh nghiệp và
người dân chịu nhiều thiệt hại. Chính vì vậy sản phẩm làm ra của doanh nghiệp có khả
năng cạnh tranh thấp, không thâm nhập vào được các thị trường lớn, tiềm năng nhưng có
những quy định, đòi hỏi khắt khe, nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm.
Việc mở rộng sản xuất cây vụ đông nói chung và cây dưa chuột nói riêng phục vụ
chế biến, xuất khẩu gặp không ít khó khăn. Hợp đồng ký kết giữa một số doanh nghiệp
với nông dân chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng phá vỡ hợp đồng. Khi giá thị trường lên
cao, nông dân bán sản phẩm ra ngoài, ngược lại khi giá xuống thấp lại “ép” doanh nghiệp
phải thu mua. Phần lớn sản phẩm tiêu thụ qua nhiều khâu trung gian nên giá thu mua
thấp. Trong khi đó chất lượng vệ sinh an toàn chưa bảo đảm. Nhiều hộ nông dân sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thuốc kích thích sinh trưởng tùy tiện nên sản phẩm
không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, chế biến.
10
Tiểu Luận Quản Trị Kinh Doanh Nhóm 3
Một khó khăn khác là cây trồng chưa được quy hoạch thành vùng nguyên liệu tập
trung, áp dụng tiến bộ kỹ thuật còn hạn chế nên năng suất, chất lượng chưa đáp ứng được
yêu cầu. Hầu hết các nhà máy, cơ sở chế biến trên địa bàn tỉnh chưa phát huy tối đa công
suất. Cũng vì các doanh nghiệp chế biến nông sản của tỉnh sản xuất không ổn định, mặt
hàng dưa chuột dầm dấm là chủ lực, lại sản xuất theo mùa vụ, phụ thuộc phần lớn vào
đơn hàng gia công nên bình quân các doanh nghiệp chỉ hoạt động từ 40-45% công suất,
vào vụ đông là thời điểm nhiều nguyên liệu chế biến nhất, công suất cũng chỉ đạt 60-
65%.
Kể từ vụ dưa đông 2009( tháng 11-tháng 1) và vụ dưa xuân năm 2010( tháng 4
đến tháng 6), do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới và nhu cầu tiêu thụ sản
phẩm của thị trường, nhất là thị trường Nga giảm mạnh, sản lượng dưa chuột xuất khẩu
trên địa bàn tỉnh sụt giảm nghiêm trọng, lượng hàng tiêu thụ đạt 50% so với các vụ trước
và vụ xuân 2010 chỉ đạt khoảng 30% . Tính đến tháng 8 năm 2010, lượng sản phẩm tồn
kho của các doanh nghiệp là khá lớn, chủ yếu sản xuất vụ đông 2009, ảnh hưởng phần
thức thu gom dưa chuột bao tử đó là hình thức thu gom trực tiếp từ các hộ nông dân và
hình thưucs thứ hai đó là thu gom từ các đại lý
+ Đối với việc thu gom từ các hộ nông dân: Thì các công ty thu gom thông qua
một cơ quan ở địa phương để thu gom đó là Hợp Tác Xã, các hợp tác xã ngay từ đầu vụ
đã tổ chức bàn bạc và thống nhất với các doanh nghiệp tiêu thụ dưa chuột bao tử cho các
hộ dân, thống nhất giá, chất lượng, thời gian giao hàng và phương thức thanh toán. Các
công ty sẽ làm hợp đồng với các hộ nông dân để có nguồn cung hàng ổn định, các công
ty sẽ thông qua các hợp tác xã để thu mua sản phẩm cho mình. Một số tiêu chuẩn khi thu
mua sản phẩm của các hộ nông dân như:
Ví dụ:
Dưa loại 1: đường kính không quá 1,5cm, dài 3,5 – 5cm , giá 6000 đ/kg.
Dưa loại 2: đường kính không quá 2cm, dài 5 – 6cm, giá 3000 đ/kg.
Sơ đồ:
Hộ nông dân Hợp tác xã thu gom Công ty thu mua, chế biến
Đầu tư
12
Tiểu Luận Quản Trị Kinh Doanh Nhóm 3
Trên đây là sơ đồ về hình thức thu muẩn phẩm trực tiếp từ các hộ nông dân, ở hình
thức thu mua này có ưu điểm là các các công ty sẽ gắn kết hơn với các hộ nông dân, họ
hiểu được tâm tư nguyện vọng của người nông dân, các công ty thu mua sẽ quay lại đầu
tư lại cho các hộ nông dân như giống và phân bón. Tuy nhiên hình thức này có hạn chế là
hình thức thu mua qua các hợp tác xã nhiều khi chất lượng quả không đều nhau do các
hợp tác xã không có các dụng cụ để tiến hành. Hiện nay với hình thức thu mua trực tiếp
từ các hộ nông dân thông qua các hợp đồng đảm bảo đầu ra ổn định nên số hộ tham gia
vào liên kết với các công ty đã tăng nên rất nhiều. Điển hình như ở xã Đông Phú công ty
cổ phần thực phẩm Bắc Giang đã tăng diện tích làm hợp đồng với công ty.
Bảng 3: kết quả vùng nguyên liệu của công ty CPTPXKBG tại xã Đông Phú
Mục ĐVT 2007 2008 2009
Diện tích Ha 29,5 34,24 63,74
Sản lượng Tấn 542 647 1232
Yên bắc
2 96.056
Ngoài
1 9.119
(Nguồn: báo cáo tốt nghiệp vai trò liên kết 4 nhà trong sản xuất dưa chuột bao tử tại xã
đông phú huyện lục nam tỉnh bắc giang,năm 2009)
+ Thu gom qua đại lý thu mua: Các đại lý trên địa bàn huyện sẽ đứng nên thu mua
sản phẩm của các hộ nông dân , chủ yếu là các hộ không tham gia vào hình thức liên kết
hợp đồng với các công ty hay các nông dân có liên kết nhưngn vẫn lén bán hàng cho các
đại lý do giá bán cao hơn. Hàng sau khi được thu gom sẽ được vận chuyển tới cổng nhà
máy chế biến. Hình thức này có ưu điểm là các đại lý sẽ lựa chọn những sản phẩm đủ tiêu
chuẩn cho chế biến rồi bán cho các công ty, bên cạnh đó công ty sẽ không phải mất chi
phí để cung cấp đầu vào cho các hộ nông dân. Tuy nhiên hình thức này có nhược điểm là
các doanh nghiệp sẽ không hình thành được mối liên kết với các hộ nên lượng cung sẽ
không ổn định, bên cạnh đó thì do các công ty thu mua sản phẩm thông qua trung gian
nên giá mua sản phẩm sẽ cao hơn nên ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty.
Sơ đồ hình thức thu mua từ các đại lý
Hộ nông dân Đại lý thu mua Công ty chế biến
Tuy nhiên ở huyện Lục Nam các công ty thường thu mua theo hình thức thu mua
từ các hộ nông dân nhiều hơn là việc thu mua từ các đại lý nhằm đảm bảo nguồn cung,
đồng thời nâng cao việc gắn kết giữa công ty với người dân, được thể hiện rõ nhất đó là
việc các công ty thương cung cấp giống cho các hộ dân.
2.2.3.2 Kênh xuất khẩu sản phẩm dưa chuột bao tử thành phẩm
Như chúng ta đã biết sản phẩm dưa chuột làm ra chủ yếu dùng để xuất khẩu hiện
nay có hai kênh xuất khẩu mà các công ty chế biến trên địa bàn huyện cũng như tỉnh
14
Tiểu Luận Quản Trị Kinh Doanh Nhóm 3
thường sử dụng đó là kênh xuất khẩu trực tiếp và kênh xuất khẩu thông qua các công ty
xuất nhập khẩu.
+ Kênh xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp
121.637 106.561 135.516
Công ty XNK
65.610 60.308 66.427
Tiêu thụ nội địa
15.751 13.012 17.612
(Nguồn: báo cáo tốt nghiệp vai trò liên kết 4 nhà trong sản xuất dưa chuột bao tử tại xã
đông phú huyện lục nam tỉnh bắc giang,năm 2009)
Đây là số liệu tiêu thụ các sản phẩm của các công ty chế biến trên địa bàn toàn
tỉnh Bắc Giang. Qua bảng số liệu cho thấy các công ty chế biến đang có xu hướng chuyển
dần từ việc xuất khẩu thông qua các công ty chuyên xuất nhập khẩu sang hình thức xuất
nhập khẩu, một trong những lý do đó là các công ty đã dần có nguồn tài chính nhằm phục
vụ cho việc mở các công ty đại diện, đông thời cũng nhằm mục tiêu lâu dài của công ty
nhằm mở rông thị trường trên thế giới. Đồng thời qua bảng cũng cho thấy việc tiêu thụ
các sản phẩm đóng hộp như dưa chuột dầm dấm hay ngâm muối việc tiêu thụ sản phẩm
đó trong nước còn rất hàn chế, chỉ chiếm có chưa đầy 2% trong tổng lượng dưa chuột tiêu
thụ mặc dù lượng tiêu thụ đó có tăng nên. Nhưng vấn đề đặt ra là với số dân 88 triệu dân
lượng tiêu thụ trong nước còn quá nhỏ cần mở rộng thị trường trong nước nhiều hơn.
2.3 Tình hình liên kết 4 nhà trong trồng dưa chuột bao tử tại huyện Lục Nam
Nhà nước
Nhà nông
16
Tiểu Luận Quản Trị Kinh Doanh Nhóm 3
Nhà khoa học Nhà doanh nghiệp
Sơ đồ liên kết 4 nhà tại xã Đông Phú
Sự liên kết giữa 4 nhà phải đặt nhà nông vào vịt trí tung tâm, ở đây cụ thể là đặt
người trồng dưa chuột bao tử là hạt nhân của trung tâm. Mối liên kết này đạt được hiệu
quả cao và bền vững thì sẽ đảm bảo đầu ra và đầu vào ổn định cho sản phẩm dưa chuột
bao tử.
Trong sơ đồ trên cho thấy mối quan hệ giữa 4 nhà là rất chặt chẽ, có sự tác động
Nhà nông là trung tâm của các mối liên kết, mọi sựu liên kết đều nhằm mục đích
nhằm nâng cao khả năng sản xuất cho các hộ nông dân để từ đó nâng cao thu nhập cho
các hộ dân, các hộ dân chịu trách nhiệm bố trí đất trồng phù hợp, trồng và chăm sóc cây
theo đúng quy trình kỹ thuật để có sản phẩm cho các công ty đến thu mua sản phẩm.
Ủy ban nhân dân xã, các cơ quan chuyên môn của huyện như phòng nông nghiệp,
khuyến nông, bảo vệ thực vật…phối hợp cùng các nhà khoa học, doanh nghiệp chỉ đạo
công tác quy hoạch vùng sản xuất , giám sát, thu mua, tiêu thụ, giúp đỡ tháo gỡ khó khăn
và vướng mắc trong quá trình sản xuất. Hiện nay phòng Nông nghiệp huyện đã tiến hành
quy hoạch vùng sản xuất dưa chuột bao tử để tránh tình trạng sản xuất dưa chuột nhỏ lẻ,
một số xã đã được quy hoạch vùng sản xuất đó là xã Đông Phú, xã Thanh Lâm, xã Bắc
Lũng….nhưng trong đó xã Đông Phú vẫn là xã trồng dưa chuột với diện tích lớn nhất
trong địa bàn huyện Lục Nam
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa
bàn huyện Lục Nam
2.4.1 Quy mô diện tích
Quy mô diện tích là yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc sản xuất chế biến và tiêu thụ
dưa chuột bao tử tại địa phương. Có thể nhận thấy rằng những hộ có quy mô diện tích lớn
sẽ có sự đầu tư cho chăm sóc và các khâu khác trong quá trình sản xuất đồng bộ hơn,
giảm được chi phí trong nhiều công đoạn sản xuất. Từ đó năng suất sẽ tăng, hộ có các
biện pháp nhằm bảo quản sơ chế. Cùng với đó là hộ sẽ tìm được nguồn đầu ra cho sản
phẩm của mình.
2.4.2 Giống
18
Tiểu Luận Quản Trị Kinh Doanh Nhóm 3
Giống là yếu tố cũng có vai trò rất quan trọng. Giống tốt sẽ cho năng suất cao, chất
lượng đảm bảo.
Hiện nay, trên địa bàn huyện trồng phổ biến giống dưa Mimoza. Giống sinh
trưởng và phát triển nhanh, chống chịu được với những bệnh thường xảy ra đối với dưa
chuột đó là sương mai và đốm vàng lá, từ đó giảm được chi phí sản xuất do phải phun
thuốc bảo vệ thực vật. Thời gian thu hoạch kéo dài, giảm tính thời vụ. Năng suất trung
Hiện nay các công ty chế biến dưa chuột bao tử vẫn sử dụng các trang thiết bị cũ
và lạc hậu, nhiều khâu trong quá trình chế biến vẫn còn sử dụng lao động thủ công như
lựa chọ kích thước quả để đưa vào chế biến…Máy móc của các công ty đang sử dụng vẫn
chưa phát huy hết khả năng nên hạn chế biến dưa chuột bao tử. Nếu các công ty sử dụng
trang thiết bị hiện đại sẽ nâng cao khả năg thu mua dưa chuột nên từ đó mở rộng thêm
diện tích trồng dưa từ đó gián tiếp nâng cao thu nhập cho các hộ dân.
2.4.7 Thị trường và tiêu thụ sản phẩm
Một sản phẩm khi sản xuất, chế biến ra thì khâu tiêu thụ đóng vai trò quan trọng,
nhằm thu được vốn để quay vòng sản xuất. Hiện nay dưa chuột các hộ sản xuất ra và chế
biến thì tiêu thị trong nước rất hạn chế mà chủ yếu dung để cho xuất khẩu vì người Việt
Nam chưa chuộng các sản phẩm chế biến.
Hiện nay thị trường sản phẩm chế biến từ dưa chuột bao tử đang được mở rộng và
đang được hướng ra xuất khẩu tại các thụ trường lớn trên thế giới. Tuy nhiên việc xuất
khẩu sản phẩm dưa chuột bao tử thành phẩm phần lớn đều thông qua các công ty xuất
nhập khẩu, các công ty thu mua trên địa bàn huyện cũng như tỉnh chưa hình thành được
kênh xuất khẩu trực tiếp sang các nước nên lợi nhuận của các công ty bị chia sẻ cho các
trung gian.
2.5 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử
trên địa bàn huyện Lục Nam
Xuất phát từ những yếu tố ảnh hưởng đến việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa
chuột để đề ra các giải pháp cho phù hợp.
Về việc sản xuất dưa chuột trên địa bàn huyện thì các trung tâm chuyển giao hay
các trung tâm khuyến nông huyện cần đưa them các giống dưa mới vào sản xuất, có năng
20
Tiểu Luận Quản Trị Kinh Doanh Nhóm 3
suất cao chất lượng cao để đáp ứng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, bên cạnh đó cần hướng dẫn
người dân sản xuất dưa chuột an toàn nhằm nâng cao giá bán cho các hộ dân, cần phổ
biến các kiến thức chăm sóc nhằm tránh việc trồng dưa theo kinh nghiệm của các hộ dân
mà cần trồng dưa theo các tiêu chuẩn mà các công ty cũng như thị trường yêu cầu.
Cần mở rộng và nâng cao mối quan hệ hơn nữa trong mối liên kết 4 nhà. Các
dưa mới có năng suất chất lượng cao hơn, bên cạnh đó việc chế biến các sản phẩm từ dưa
chuột bao tử cũng đa dạng hơn nhằm đáp ứng nhu cầu tốt hơn cho khách hàng, số doanh
nghiệp tham gia vào chế biến dưa chuột bao tử cũng ngày càng tăng. Về mặt tiêu thụ các
sản phẩm dưa chuột bao tử không chỉ tiêu thụ trong nước qua các năm cũng tăng nên mà
việc xuất khẩu các sản phẩm này ra các nước trên thế giới cũng tăng nên, số nước nhập
khẩu sản phẩm này đã nên con số 33. Về việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao
tử trên địa bàn huyện nói riêng thì qua các năm trở lại đây đều có khởi sắc. Về tình hình
sản xuất của cũng ngày càng tăng nên được thể hirnj thông qua diện tích trồng dưa của
huyện Lục Nam và xã Đông Phú đều tăng nên qua các năm, diện tích dự kiến của huyện
cho đến năm 2015 là 130ha đó là diện tích lớn đối với huyện. Về mặt chế biến sản phẩm
dưa chuột này thì hiện nay có 3 công ty có trụ sở tại tỉnh đang tiến hành thu mua dưa
chuột bao tử của các hộ nông dân với hợp đồng cụ thể nên giá tương đối ổn định cho các
hộ dân, tuy nhiên các công ty đang sử dụng các thiết bị cũ và lạc hậy nên chưa phát huy
hết khả năng chế biến của công ty. Về mặt tiêu thụ sản phẩm thì phần lớn sản phẩm làm
ra đeeuf dùng cho xuất khẩu, một lượng rất nhỏ dùng cho tiêu dùng trong nước. Hiện nay
để có hàng cho chế biến, cũng như xuất khẩu các công ty có hai hình thức thu gom sản
phẩm đó là thu gom trực tiếp từ hộ nông dân và thu từ các đại lý tuy nhiên thu gom trực
tiếp vẫn chiếm ưu thế hơn,về xuất khẩu sản phẩm ra các nước thì các công ty có hai kênh
đó là xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu thông qua các công ty xuất nhập khẩu tuy nhiên
hiện nay các doanh nghiệp đều tăng việc xuất khẩu trực tiếp nhiều hơn. Hiện nay việc
liên kết 4 nhà tại huyện đang có những ưu thế nhất định nên việc nâng cao là rất cần thiết.
22
Tiểu Luận Quản Trị Kinh Doanh Nhóm 3
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vai trò liên kết 4 nhà trong trồng dưa chuột bao tử tại xã Đông Phú huyện Lục Nam,
báo cáo tốt nghiệp, năm 2009
2. Phát triển sản xuất dưa chuột bao tử ở huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang, luận văn
thạc sĩ, năm 2009
3. Vai trò liên kết trong sản xuất, tiêu thụ dưa chuột bao tử tại huyện Lý Nhân tỉnh Hà
Nam, báo cáo tốt nghiệp, năm 2009