Dân số và sự biến đổi dân số - Pdf 16

DÂN SỐ VÀ SỰ BIẾN ĐỔI DÂN SỐ
2.2.1. Dân số
a. Khái niệm về dân cư
Dân cư là tập hợp người sống trên lãnh thổ, được đặc trưng bởi kết cấu; mối quan hệ qua lại với
nhau về mặt kinh tế; bởi tính chất của việc phân công lao động và cư trú theo lãnh thổ. Dân cư là người trực
tiếp sản xuất ra của cải vật chất trong xã hội, đồng thời lại tiêu thụ ngay chính sản phẩm mà họ làm ra. Như
vậy, về phương diện kinh tế, dân cư vừa là người sản xuất vừa là người tiêu thụ.
b. Số dân và sự gia tăng dân số
Diện tích đất tự nhiên của nước ta xếp thứ 56/200 quốc gia trên thế giới, nhưng dân số lại đứng thứ
13 .
Bảng 2.2. Dân số một số quốc gia trên thế giới năm 2003, 2005 và dự kiến đến 2015.
TT Tên nước
Dân số (Triệu người) Tỉ suất GTDS
1990-1995 (%)
Tổng TSS/1 phụ
nữ (1990-1995)
2003 2005 2015
1 Trung Quốc 1300,0 1303,7 1.441,1 1,1 1,9
2 Ấn Độ 1000,0 1103,6 1.263,7 1,9 3,7
3 Hoa Kỳ 288,0 296,5 309,1 1,0 2,1
4 Inđônêxia 220,0 221,9 252,0 1,6 2,9
5 Braxin 174,0 184,2 210,4 1,7 2,9
6 LB Nga 144,0 143,0 142,0 - 0,1 1,5
7 Pakixitan 144,0 162,4 236,3 2,8 6,2
8 Nhật Bản 130,0 127,7 125,9 0,3 1,5
9 Bănglađét 134,0 144,2 174,8 2,2 4,4
10 Nigiêria 130,0 131,5 190,9 3,0 6,4
11 Mêhicô 102,0 107,0 124,2 2,1 3,2
12 CHLB Đức 83,0 82,5 79,3 0,6 1,3
13 Philipin 81,0 84,8
14 Việt Nam 80,8 83,1 105,5 2,2 3,9

cùng thời điểm đó (đơn vị tính
0
/
00
).
- Các yếu tố tác động đến mức sinh: cơ cấu tuổi và giới tính; tình trạng hôn nhân; những yếu tố về
tâm lý xã hội (phong tục tập quán); điều kiện sống, mức sống và chính sách dân số.
Ở nước ta, tỉ suất sinh thô khá cao (mặc dù đang giảm nhưng còn chậm), có sự phân hoá theo các
vùng. Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ khá cao, hàng năm có ~ 45-50,0 vạn phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ,
cứ ba phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ thì chỉ có một phụ nữ hết tuổi sinh đẻ. Tuổi kết hôn lần đầu của phụ nữ
có ảnh hưởng đến mức sinh, nếu kết hôn sớm thì phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ cũng sớm và con cái của họ
cũng có thể lập gia đình sớm, tuổi kết hôn còn ảnh hưởng đến khoảng thời gian (số năm) mà phụ nữ có khả
năng sinh con. Theo điều tra dân số lần thứ ba (1/4/1999) tuổi kết hôn TB của nam là 25,5 tuổi và nữ 24,0.
So với một số nước trong khu vực Đông Nam Á thì Xingapo (28,0 và 26,0), Thái Lan (26,6 và 23,5).
Đặc biệt ở nhóm tuổi từ 15 - 19 vẫn còn 0,9% nam và 4,3% nữ đã bước vào hôn nhân. Từ sau 1994, tỉ suất
sinh có xu hướng giảm nhanh, yếu tố tác động mạnh là biện pháp tránh thai đã tăng lên. Năm 1989, tỉ suất
sinh toàn quốc là 30,1
0
/
00
, năm 1999 giảm còn 23,6
0
/
00
và năm 2002 là 19,0
0
/
00
. Ba vùng có tỉ suất sinh thấp
là ĐB sông Hồng (17,2

● Tổng tỉ suất sinh
Tổng tỉ suất sinh là số con TB của một phụ nữ có thể sinh ra trong suốt cuộc đời mình, nếu như
người phụ nữ đó trải qua tất cả các tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi của năm đó (từ 15 đến 55 tuổi). Giữa tỉ
suất sinh thô và tổng tỉ suất sinh có mối quan hệ chặt và thuận chiều. Nếu tỉ suất sinh thô giảm thì số con TB
của một phụ nữ trong tuổi sinh đẻ cũng giảm theo.
Ở nước ta, tổng tỉ suất sinh thô còn cao và đang có xu hướng giảm: năm 1970 (33,2
0
/
00
), 1989
(30,10
0
/
00
), 1999 (23,60
0
/
00
), 2002 (19,0
0
/
00
), tương tự vậy thì tỉ suất sinh (số con trung bình/phụ nữ) cũng
giảm theo: 1979 (5,9 con), 1989 (3,8 con), 1999 (2,75 con), 2002 (2,23 con)
Bảng 2.6. Tổng tỉ suất sinh theo các vùng từ 1989 - 2002
Các vùng Tổng tỉ suất sinh (con)
1989 1994 1999 2002
Toàn quốc 3,80 3,10 2,75 2,20
Tây Bắc 5,40 4,00 3,34 3,12
Đông Bắc 4,00 3,31 2,95 2,19

0
/
00
), năm 1989
(8,4
0
/
00
), năm 1999 (7,3
0
/
00
) và năm 2002 giảm xuống còn 5,8
0
/
00
. Tuy nhiên, tỉ suất tử vẫn còn cao ở các khu
vực nông thôn, vùng sâu, xa (Cao Bằng, Lai Châu, Sơn La, Gia Lai, Đắc Lắc). So với thế giới, tỉ suất tử thô
của nước ta thuộc loại thấp (năm 2002, Việt Nam là 5,8
0
/
00
, thế giới là 9 - 10
0
/
00
). Nếu so với một số nước
trong khu vực ĐNÁ (Đông Timo 15
0
/

xuống 26,0
0
/
00
), mức chết ở trẻ sơ sinh và trẻ em phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó điều kiện sống và các đặc trưng cơ bản của người mẹ là quan trọng
nhất. Mức tử vong của trẻ em nông thôn cao hơn ở thành thị; mức tử vong ở nhóm các bà mẹ có trình độ
học vấn, có nghề nghiệp ổn định và thu nhập khá thấp hơn so với các nhóm tuổi khác.
Nguyên nhân gây tử vong: cao nhất là các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng, suy dinh dưỡng, thiếu
máu, đến là các bệnh về đường hô hấp, tiêu hóa; ác bệnh thường xảy ra ở các nước phát triển như (ung thư,
tim mạch) cũng đã chiếm tỉ lệ đáng kể ở Việt Nam. Hiện nay, nhiễm HIV-AIDS đã trở thành mối quan tâm
ở Việt Nam (đã có hàng ngàn người mắc và chết vì AIDS).
● Tuổi thọ bình quân. Tuổi thọ BQ của nước ta (2002) là 68,9. Sự phân hoá không lớn giữa các
vùng, song cao nhất vẫn là Đông Nam Bộ (72,6) và Đồng bằng sông Hồng (71,5), thấp nhất là Tây Nguyên
(63,6) và Tây Bắc (64,7). Cứ sau khoảng thời gian 5 năm thì tuổi thọ BQ của nam tăng 1 tuổi và của nữ tăng
1,5 tuổi. Sau thời gian 13 năm từ 1989 - 2002 tuổi thọ trung bình cả nước tăng 3,6 tuổi. Năm 2009, tuổi thọ
trung bình của Việt Nam đã tăng lên 74,3
Bảng 2.7. Tuổi thọ bình quân giữa các vùng từ năm 1989 - 2002 (ĐV: năm)
Vùng 1989 1994 1999 2002
Nam Nữ TB Nam Nữ TB Nam Nữ TB TB
Toàn quốc 63,0 67,5 65,3 65,4 69,0 67,2 65,0 70,5 67,8 68,9
Tây Bắc 61,2 65,0 63,1 62,7 67,0 64,9 64,2 69,0 66,6 64,7
Đông Bắc 63,9 67,7 65,8 64,9 69,2 67,1 65,9 70,7 68,3 68,2
ĐB sông Hồng 68,0 71,6 69,8 68,8 72,8 70,8 69,3 73,8 71,6 71,5
B.Trung Bộ 63,6 66,9 65,3 65,1 68,9 67,0 66,1 70,4 68,3 68,8
N.Trung Bộ 64,3 68,0 66,2 65,3 69,5 67,4 66,3 71,0 68,7 68,2
Tây Nguyên 56,7 60,3 58,5 58,7 62,3 60,5 60,7 64,3 62,5 63,6
Đ.Nam Bộ 67,4 71,0 69,2 68,2 72,2 70,2 69,0 73,4 71,2 72,4
ĐBS Cửu Long 64,6 68,2 66,4 65,6 69,7 67,7 66,6 71,2 68,9 69,5
2.2.2. Gia tăng cơ giới

Bình, Hưng Yên, Thanh Hóa, Nghệ An) tới các đồn điền Đ.Nam Bộ. Ở Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ ,
nông dân lên các đồn điền ở Tây Nguyên.
Di dân gắn với mộ phu đi mỏ, làm các công trình công cộng, mở đường sắt, xây dựng bến cảng, mộ
công nhân vào các nhà máy, công xưởng qua các thời kỳ. Cuối thế kỷ XIX (1881) Pháp mở tuyến đường sắt
Sài Gòn - Mỹ Tho. Năm 1890 mở tiếp tuyến Phủ Lạng Thương - Lạng Sơn và Phủ Lạng Thương - Hà Nội
và 1892 - 1893 mở tuyến Hà Nội - Hải Phòng. Đầu thập kỷ 20 của thế kỷ XX, Pháp mở tuyến đường sắt
xuyên Việt. Cũng trong thời kỳ này, hàng loạt các mỏ được khai thác như khai thác than, thiếc, crôm, apatit,
kẽm (đặc biệt là khai thác than ở Đông Bắc).
Từ năm 1930 trở đi, nước ta bắt đầu hình thành các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Đà
Nẵng, Sài Gòn, xuất hiện kiểu di dân gắn với công nghiệp và hình thành các đô thị.
- Di dân quốc tế: đó là hình thức là người "culi" được mộ đi lao động ở Pháp và các thuộc địa của
Pháp; Nghĩa quân sau thất bại của phong trào Cần Vương cùng con cháu của họ phải lánh nạn sang các
nước láng giềng (Thái Lan) để tránh khủng bố.
▪ Trong chiến tranh chống Pháp - Mỹ
- Di dân nội địa: Trong kháng chiến chống Pháp, có các cuộc di dân từ vùng tạm chiếm ra vùng tự
do. Hòa bình lập lại (1954) cán bộ, bộ đội, công nhân viên chức, nhân dân từ vùng tự do trở về các thành
phố, thị xã và làng xóm của mình; Hàng chục vạn cán bộ, chiến sỹ, đồng bào thuộc gia đình cáh mạng tập
kết ra bắc; Hàng chục vạn người thuộc bộ máy chính quyền Pháp và một số giáo dân di cư vào Nam, (đây là
cuộc di dân lớn trong lịch sử). Trong chiến tranh leo thang đánh phá của Mỹ ở miền Bắc (1964 - 1972), các
cơ quan xí nghiệp, trường học, dân thị xã, thành phố đi "sơ tán" về nông thôn; Ở miền Nam, nông dân đổ xô
ra thành thị; Chính quyền Sài Gòn gom dân, lập ấp chiến lược. Sau 1975, ở miền Nam: hồi hương của nhân
dân từ đô thị về nông thôn; Ở miền Bắc, hàng chục vạn cán bộ, công nhân viên tình nguyện vào công tác
tại miền nam (trong đó có cả con em của các gia đình miền nam tập kết trước đây trở về quê cũ).
- Di dân quốc tế: Sau giải phóng miền Nam (1975) có cuộc di cư quốc tế lớn nhất, đó là cuộc di tản
ngay sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ; sau đó là những làn sóng thuyền nhân. Cuối thập kỷ 70 đầu thập
kỷ 80 còn liên quan đến "sự kiện người Hoa" với sự ra đi ồ ạt của hàng chục vạn người gốc Hoa bằng đường
bộ và đường biển. Từ những năm 1990, cuộc tái hồi hương theo các chương trình của Nhà nước, hàng chục
vạn người từ Hồng Công, Thái Lan, Inđônêxia lần lượt trở về nước.
▪ Di dân có tổ chức theo kế hoạch của Nhà nước
- Nhìn chung, các luồng di dân thường gắn liền với quá trình phân bố lại lực lượng sản xuất trong

BQ/năm (1.000 người) 73,3 300,0 250,0 230,0 160,0 162,2
(Nguồn: Cục di dân và phát triển vùng kinh tế mới)
- Công tác di dân có tổ chức trong thời gian qua đã đạt được những hiệu quả đáng kể; làm giảm bớt
sức ép về dân số và giải quyết việc làm; đáp ứng nhu cầu cơ bản về nhân lực cho các vùng nhập cư và cho
các ngành kinh tế mũi nhọn trong nông nghiệp; diện tích đất canh tác được mở rộng, tổng sản lượng nông
phẩm tăng lên trong từng vùng và trong phạm vi cả nước; hình thành hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu, các
công trình phúc lợi cơ bản; góp phần bảo vệ an ninh – quốc phòng tại một số vùng xung yếu.
- Tuy nhiên, do chính sách di dân còn mang tính phong trào, chưa tôn trọng các qui luật khách quan
trong quá trình di dân; do sự hạn chế về vốn đầu tư và trình độ quản lý, về kiến thức khoa học – kĩ thuật
trong khai thác và phát triển trên các vùng đất mới; do việc điều tra, qui hoạch, chuẩn bị địa bàn còn thiếu
căn cứ, nên đời sống nhân dân ở các vùng kinh tế mới còn hết sức khó khăn, tỉ lệ trụ lại không cao.
▪ Di dân tự do (đặc biệt là từ sau Đổi mới)
- Di dân tự do bao gồm di dân: nông thôn - nông thôn và nông thôn - thành thị (nhất là di dân nông
thôn - thành thị có xu hướng tăng). Nguyên nhân chính:
+ Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế và thu nhập giữa các vùng, trong từng vùng và giữa
thành thị và nông thôn. Theo số liệu của Tổng cục Thông kê 1996, TNBQ/người ở khu vực thành thị gấp
1,85 lần khu vực nông thôn. Vùng có mức thu nhập cao nhất là Đông Nam Bộ gấp 2,17 lần Miền núi – trung
du phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Giữa các nhóm hộ có thu nhập cao nhất và thấp nhất gấp 7,3 lần (riêng Tây
Nguyên chênh lệch 12,8 lần, Đông Nam Bộ là 7,9 lần )
+ Thừa lao động, thiếu việc làm ở nông thôn. Nước ta (Hội nghị chính sách di dân tự phát 7/1998):
lao động trong nông nghiệp là khoảng 25,6 triệu (69% tổng lao động cả nước), canh tác trên diện tích chỉ
khoảng > 7,0 triệu ha; Như vậy chỉ cần khoảng 19,0 triệu lao động là đủ, số lao động thiếu việc làm lên tới
trên 6,5 triệu (30%).
+ Đất nông nghiệp, điều kiện sản xuất không đảm bảo: Quĩ đất nông nghiệp - yếu tố quan trọng để
phát triển sản xuất lại có sự chênh lệch lớn. Theo điều tra: BQ đất nông nghiệp/1 hộ ở Đồng bằng sông Cửu
Long gấp từ 2,3 - 4,4 lần ở Đồng bằng sông Hồng và gấp từ 1,9 - 2,8 lần ở Bắc Trung Bộ. Ở Đông Nam Bộ,
Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều hộ canh tác từ 1,0 - 2,0 ha (có hộ lên đến 5,0 - 10,0 ha).
Nhiều tỉnh thuần nông thì cả công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển.
+ Chênh lệch lớn về cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội: Khoảng cách về điều kiện giao thông, cung
cấp điện, nước sạch, y tế, giáo dục giữa nông thôn và thành thị có chiều hướng gia tăng. Tỉ lệ hộ đói nghèo

những điển hình của loại di cư tự do này. Tại Hà Nội, chỉ tính riêng thời kỳ 1986 - 1992, BQ mỗi năm dân
số Hà Nội tăng thêm ~ 55.000 người, thì số di cư tự do chiếm 40%, số dân đến gấp 5,0 lần số đi khỏi Hà
Nội. Ngoài ra, trên địa bàn Thành phố thường xuyên có mặt đội quân di dân thời vụ (35,0 – 40,0 vạn người).
Qua khảo sát điều tra di dân tự do vào Hà Nội cho thấy, cứ 24% số hộ thì có ít nhất là 1 người nhập cư. Tại
Thành phố Hồ Chí Minh, di cư loại này còn cao hơn: Từ 1976 - 1996, số dân của Thành phố tăng thêm 1,4
triệu người, thì ~ 50% là người nhập cư (cứ 8 ng tăng thêm/ có 4 ng nhập cư).
+ Mặt tích cực: góp phần cung cấp lực lượng lao động cho các khu vực đô thị, nhằm đáp ứng nhu
cầu lao động trong những ngành nặng nhọc, hoặc nhu cầu dịch vụ mới mà lao động thành phố không đủ
(hoặc không muốn làm); góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nông thôn, tạo cơ
hội để xóa đói giảm nghèo, chuyển giao kỹ năng, kinh nghiệm làm ăn từ thành thị về nông thôn
+ Hạn chế: số lượng di cư tự do quá lớn tạo áp lực đến hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ và sinh hoạt;
đến tình hình giải quyết việc làm vốn đã căng thẳng ở các đô thị; gia tăng tệ nạn xã hôi; gây mất mỹ quan đô
thị, tạo những điểm cư trú, lấn chiếm bất hợp pháp
2.2.3. Người Việt ở nước ngoài
Đây là một bộ phận quan trọng của dân tộc Việt Nam. Theo các kết quả nghiên cứu gần đây, thì vào
những năm 1990 có khoảng 2,6 triệu Việt kiều cư trú ở 100 nước, (đông nhất ở Nga, các nước Đông Âu,
Pháp, Canađa, Hoa Kỳ, Ôtxtrâylia). Việt kiều đã đóng góp một phần quan trọng trong xây dựng tổ quốc.
2.2.4. Dự kiến dân số Việt Nam trong tương lai
a. Về qui mô dân số và tốc độ phát triển
Theo Tổng điều tra dân số năm 1989, dân số nước ta là 64,4 triệu người, năm 1999 tăng lên 76,3
triệu người và năm 2008 tăng lên 86,20 triệu người, mặc dù mức gia tăng dân số tự nhiên đã giảm từ 2,1%
xuống 1,7% và 1,2%. Như vậy qui mô số dân nước ta vẫn ngày càng lớn.
Được sự hỗ trợ kỹ thuật của Quĩ dân số LHQ (UNFPA), Tổng cục Thông kê đã đưa ra dự báo dân số
của các vùng lãnh thổ đến 2024 theo 3 phương án (cao, trung bình và thấp). Nếu lấy phương án trung bình,
thì đến 2024 dân số nước ta sẽ là 100 triệu người, tỉ suất GTDSTN hàng năm sẽ giảm từ 1,3% (giai đoạn
đầu), đến 2019 - 2024 sẽ còn 0,77%. Riêng đối với 2 đồng bằng đông dân nhất (ĐB sông Hồng và ĐB sông
Cửu Long) mức gia tăng dân số tự nhiên sẽ giảm còn (0,52% và 0,82%), các vùng khác cũng sẽ giảm để vào
năm 2024 dân số nước ta sẽ ổn định.
Bảng 2.9. Dự báo dân số toàn quốc thời kỳ 2005 - 2020 (triệu người).
Phương án 2005 2010 2015 2020

3,4% xuống còn 2,5%. Từ sau 1976: tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên là 2,16% giảm xuống còn 2,10% (1979-
1994), giảm xuống 1,7% (1995-1999) và 1,3% (1999-2003). Về tổng tỉ suất sinh, thời kỳ (1960-1964) là
6,39 con/phụ nữ, (1985-1989) là 3,98 con; (1990-1994) giảm còn 3,1con và (1999-2003) là 2,3 con. Tuy
nhiên, kết quả đạt được vẫn còn thấp so với yêu cầu và không đồng đều giữa các vùng lãnh thổ.
(Theo ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM- Nguyễn Duy Hòa)


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status