một số kinh nghiệm ra đề thi trắc nghiệm môn ngữ văn ở trường thpt - Pdf 17

A. Đặt vấn đề
I. Lời Mở đầu.
1. Căn cứ theo văn bản số 04/ KT & KĐ - Bộ giáo dục và đào tạo, Cục khảo thí và
kiểm định chất lợng giáo dục - ra ngày 04 tháng 01 năm 2005, hớng dẫn về thi trắc
nghiệm .
Tôi nhận thấy xu hớng phát triển của hình thức thi trắc nghiệm rất khả quan,
có thể áp dụng nó cho tất cả các môn học. Vì thế, muốn tiến hành đợc hình thức thi
trắc nghiệm, giáo viên phải cho học sinh làm quen với hình thức này thờng xuyên
trong các giờ kiểm tra trên lớp.
2. Việc nghiên cứu kiểm tra trắc nghiệm môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt quan trọng
trong quá trình đa hình thức kiểm tra mới mẻ này vào môn học có nhiều đặc thù
này.
Vì thế, đây là vấn đề có ý nghĩa thiết thực trong việc dạy và học môn Ngữ
văn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội và ngành giáo dục.
3. Đứng trớc xu hớng đổi mới hình thức thi của Bộ giáo dục và đào tạo, tôi mạnh
dạn áp dụng hình thức kiểm tra trắc nghiệm đối với môn Ngữ văn ở trờng THPT
Ngọc Lặc. Mục đích nhằm tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn, từ đó tìm hớng
khắc phục để có thể nâng cao chất lợng dạy và học môn Ngữ văn ở trờng THPT
Ngọc Lặc.
ở sáng kiến này tôi hy vọng sẽ áp dụng đợc hình thức kiểm tra trắc nghiệm
vào môn Ngữ văn 11, để có thể phát huy đầy đủ nhất những u điểm của nó nh:
- Giảm bớt quỹ thời gian và công sức dành cho việc chấm bài của giáo viên
dạy văn.
- Đảm bảo đợc yếu tố công bằng trong việc chấm bài - bởi đây là vấn đề còn
gây nhiều tranh cãi mỗi khi chấm bài chung.
- Đánh giá chính xác năng lực tiếp thu bài, hạn chế tối đa nạn học tủ, học
vẹt, gian lận trong khi làm bài của học sinh.
- Trên cơ sở đó nâng cao chất lợng dạy và học môn Ngữ văn.
Trong sáng kiến này tôi muốn trao đổi với các bạn đồng nghiệp cũng nh học
sinh một số kinh nghiệm ra đề thi trắc nghiệm môn Ngữ văn ở trờng THPT.
1

Một ngời đàn ông về thăm thôn Vĩ chắc không phải để ngắm khuôn mặt đàn ông!
Còn ngời trở về thôn Vĩ thì ngời ấy chính là Hàn (chính xác hơn là hình tợng
của chính cái tôi thi sĩ). Tìm trong thơ Hàn sẽ thấy đây là một lối tạo hình khá phổ
biến và cái nhân vật nép mình khi thì sau cành lá, khóm lau, khi thì sau rào tha
thờng là hình bóng tự họa của nhà thơ. Có lẽ đó là mặc cảm của chia lìa. Mặc cảm
2
này khiến nhà thơ vẽ mình trong thơ nh một kẻ đứng ngoài, kẻ đi ngang qua cuộc
đời, đứng ngoài mọi cuộc vui, là vị khách xa mọi vẻ đẹp trần thế. Kẻ ấy thờng
làm những chuyến trở về với cuộc đời Ngoài kia một cách thầm lén, vụng trộm.
Theo mạch cảm xúc này có thể hiểu câu thơ là một sự hình dung của Hàn Mặc Tử
trở về thôn Vĩ (hay tái hiện cái lần mình trở về mà không vào, chỉ nép ngoài rào
trúc, thì cũng thế). Vin vào một cành trúc, che ngang khuôn mặt mình để mà nhìn
vào, say ngắm vẻ đẹp thần tiên của khu vờn. Hiểu nh thế để thấy đây là sản phẩm
nhất quán của một tình yêu mãnh liệt và tâm hồn đầy mặc cảm về thân phận mình.
Trong đó đang ẩn dấu một niềm uẩn khúc đáng trân trọng và cũng đáng thơng.
Đó là thơ tiếng Việt, còn thơ Hán khi giải nghĩa để phân tích nó giáo viên
gặp phải nhiều cách hiểu, mỗi ngời sẽ chọn cho mình một cách phù hợp với quan
niệm và gu thẩm mĩ của chính mình.
Ví dụ: Hai câu thơ trong Chiều tối - Hồ Chí Minh:

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Dịch thơ
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Hai câu thơ đầu Bác đã khắc họa thành công cảnh thiên nhiên chiều tối vừa
cổ điển vừa hiện đại. Nhng ẩn sau bức thi họa của chiều tối là một bức tranh tâm
cảnh có biết bao nỗi niềm đợc Bác gửi gắm vào lời thơ của mình. Tuy nhiên do sự
hàm súc của những lời thơ đậm chất Đờng thi nên đã có nhiều cách hiểu khác nhau
về nỗi niềm đợc Bác gửi gắm :

viên và học sinh. Giải một bài tập trắc nghiệm không khó nhng để giải một cách
nhanh chóng, hiệu quả không phải học sinh nào cũng thực hiện đợc.
- Đối với các em để làm một bài tập trắc nghiệm đạt hiệu quả chính xác
ngoài việc đòi hỏi học sinh có một hệ thống kiến thức và kĩ năng còn cần phải có
kinh nghiệm làm bài: Thí sinh không nên tập trung dành nhiều thời gian cho một
câu nào đó. Nếu cha giải quyết đợc ngay thì nên chuyển sang câu khác lần lợt đến
hết, sau đó quay lại nếu còn thời gian. Đừng nên dừng lại ở một câu nào đó mà bỏ
qua cơ hội giành điểm ở những câu hỏi khác trong khả năng của mình ở phía sau.
- Đối với giáo viên phải biết đa ra hệ thống bài tập trắc nghiệm sao cho học
sinh có thể loại trừ nhanh nhất khả năng đáp án sai; mặt khác giáo viên phải lờng tr-
ớc đợc những sai lầm của học sinh để đa ra những phơng án có độ nhiễu cao. Các
thầy cô giáo cũng cần phải hớng dẫn học sinh khả năng nhận biết mức độ khó dễ
của các câu hỏi. Ví dụ ở những câu hỏi ở dạng nhận biết cần lọc ra nhanh nhất để sử
dụng thời gian làm bài loại câu nầy ít nhất. Với những câu hởi yêu cầu ở mức độ
nhận thức cao hơn nhận biết , nếu cha tìm thấy phơng án đúng thì nên loại các ph-
ơng án nhiễu dễ nhận đợc nhất. Đối với những câu hỏi có phần trả lời là những kết
quả phải thông qua các bớc tính toán học sinh cần phải linh hoạt và tỉnh táo . Cần
4
suy luận để loại trừ những phơng án nhiễu và rất có thể không nhất thiết phải tính
toán vẫn chỉ ra đợc phơng án đúng. Do vậy việc rèn luyện khả năng phán đoán suy
luận nhanh trên cơ sở nắm vững kiến thức đã chuẩn bị đầy đủ là rất quan trọng và
cần thiết cho học sinh thi theo hình thức trắc nghiệm đạt kết quả cao.
Trong hai năm thực hiện chơng trình đổi mới tôi đã áp dụng hình thức này
trong quá trình kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn và tôi thấy học sinh hứng thú học
tập hơn, chất lợng vì thế cũng có chuyển biến hơn.
5
B. Giải quyết vấn đề
I. Giải pháp.
1. Trắc nghiệm là hình thức kiểm tra mới, vậy nó có những tơng đồng và khác biệt
gì so với tự luận (hình thức kiểm tra quen thuộc)?

trái rõ ràng sẽ hạn chế rất nhiều khả năng diễn đạt của ngời học . Trong khi đó
6
chúng ta yêu cầu rèn luyện cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết; đối với phân môn tiếng
việt thì rõ ràng trắc nghiệm khách quan chỉ kiểm tra đợc kĩ năng đọc văn bản chính
mà thôi.
Với những đặc trng cơ bản trên, việc ứng dụng hình thức kiểm tra trắc
nghiệm vào môn Ngữ văn gặp phải một số khó khăn . Có rất nhiều ngời đã không
đồng tình với hình thức kiểm tra này. Họ cho rằng không thể kiểm tra trắc nghiệm
vào môn Ngữ văn đợc . Nhng theo tôi ta có thể áp dụng hình thức kiểm tra này để
có thể đánh giá đúng, nhanh và khách quan hơn kết quả học tập của học sinh.
II. Hớng giải quyết thực trạng nêu trên:
- Thứ nhất, trớc những khó khăn đã kể trên, tổ chuyên môn phải có kế hoạch
trao đổi chuyên môn đều đặn cho các tổ viên dạy cùng một khối lớp, nhằm đa ra
một đáp án chuẩn duy nhất và bắt buộc phải dùng nó để giảng dạy cho học sinh.
Điều đó sẽ đảm bảo các lớp trong một khối tiếp thu đợc một khối lợng kiến thức nh
nhau và sẽ có cái nhìn giống nhau về cùng một vấn đề, tạo điều kiện thuận lợi cho
hình thức kiểm tra trắc nghiệm ở cả một khối lớp và nâng cao chất lợng dạy học
Ngữ văn ở trờng THPT Ngọc Lặc.
- Mặt khác, trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải đa ra những bài tập
dạng trắc nghiệm để học sinh làm quen với dạng bài tập này và rèn luyện khả năng
phản ứng nhanh trớc các vấn đề đặt ra.
Ví dụ: Sau khi học xong tác phẩm Đây thôn Vĩ dạ của Hàn Mặc Tử, SGK 11
tập 2 ta có thể hỏi học sinh :
1- Đặc điểm thơ của Hàn Mặc Tử có điểm gì đáng chú ý?
2- Hoàn cảnh sáng tác và nội dung của bài thơ gợi cho em cảm nghĩ gì?
3- Nét đẹp của khu vờn thôn Vĩ hiện ra nh thế nào trong bài thơ Đây thôn Vĩ
dạ?
4- Em có nhận xét gì về cảnh vật và con ngời đợc miêu tả trong bài thơ?
5- Hãy tìm hiểu bài thơ để thấy đợc tiếng lòng của một con ngời thiết tha yêu
đời, yêu cuộc sống.

C. Tâm trạng buồn đau, phẫn uất trớc sự hữu hạn của đời ngời.
D. Sự cuống quýt, vội vàng để tận hởng tuổi thanh xuân.
Câu 3:
Trong nỗi sầu của chủ thể trữ tình ở bài thơ Tràng giang - Huy Cận không có tình
cảm nào?
A Tình yêu thiên nhiên
B. Tình yêu cuộc sống
C. Tình yêu đôi lứa
D. Tình yêu đất nớc thầm kín
Câu 4:
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ- Hàn Mặc Tử - đợc gợi cảm hứng từ đâu?
A. Khung cảnh thơ mộng của thôn Vĩ.
8
B. Mối tình của nhà thơ với cô gái thôn Vĩ Dạ.
C. Tấm bu thiếp của Hoàng thị Kim Cúc gửi tặng nhà thơ.
D. Kí ức của nhà thơ về Huế.
Câu 5:
Câu nào dới đây không nằm trong tứ thơ của bài Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử ?.
A. Cảnh thôn Vĩ trên dòng Hơng giang.
B. Những liên tởng thực - ảo về cảnh vật và tình ngời.
C. Những ảo ảnh về bệnh tật và cái chết.
D. Những phấp phỏng, những mặc cảm vừa đầy uẩn khúc vừa chan chứa hi
vọng và tin yêu.
Câu 6:
Đâu là chủ đề của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử ?
A. Bức tranh phong cảnh đẹp, đồng thời là bức tranh tâm cảnh cô đơn.
B. Nỗi buồn của một mối tình vô vọng.
C. Tấm lòng thiết tha của Hàn Mặc Tử trớc thiên nhiên và con ngời thôn Vĩ.
D. Cả A, B, C.
Câu 7:

Hầu trời, Tràng giang, Vội vàng, Đây thôn Vĩ Dạ, Từ ấy, Chiều tối.
- Đánh giá kĩ năng làm bài nghị luận văn học.
2. Đề bài :
I. Trắc nghiệm (2đ)
Hãy khoanh tròn đáp án đúng trong các câu hỏi sau:
Câu 1:
Dòng nào sau đây không nói đúng về sáng tác của Tản Đà?
A. Thơ văn ông chinh phục độc giả bởi một điệu tâm hồn mới mẻ, với sự hiện
diện của "cái tôi" lãng mạn bay bổng, vừa ngông nghênh phớt đời, vừa cảm thơng, u
ái.
B. Thơ văn ông có thể xem nh một gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân
tộc : trung đại và hiện đại.
C. Thơ ông có lối đi riêng, vừa tìm về với ngọn nguồn thơ ca dân gian và dân
tộc, vừa có những sáng tạo độc đáo, tài hoa.
D. Thơ ông tiêu biểu nhất cho phong trào Thơ mới.
Câu 2:
Dòng nào không phải là sáng tạo mới mẻ, độc đáo của bài thơ Hầu trời của Tản
Đà?
A. Giọng thơ tự sự rất hóm hỉnh, có duyên.
B. Ngôn ngữ thơ ít tính cách điệu, ớc lệ, gần với ngôn ngữ đời thờng.
C. Hình ảnh thơ trang nhã.
D. Biểu hiện cảm xúc phóng túng, tự do, không hề gò ép. Tác giả hiện diện
trong bài thơ với t cách ngời kể chuyện, đồng thời là nhân vật chính.
10
Câu 3:
Dòng nào dới đây nêu không sát nội dung cảm xúc của bài thơ Tràng giang của
Huy Cận đợc gửi gắm qua lời đề từ "Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài"?
A. Nỗi xao xuyến khó tả trớc vẻ đẹp của thế giới tự nhiên.
B. Nỗi cô đơn buồn nhớ mênh mang trớc thời gian, không gian.
C. Cảm giác lạc lõng, bơ vơ giữa không gian.

B. Đó là giây phút thiêng liêng nhất trong cuộc đời nhà thơ.
C. Đó là giây phút mãn nguyện nhất trong cuộc đời nhà thơ.
D. Đó là giây phút xúc động nhất trong cuộc đời nhà thơ.
Câu 8:
Sự vận động của cảnh vật và con ngời từ hai câu đầu đến hai câu cuối trong bài
Chiều tối cho thấy đặc điểm gì trong tâm hồn Hồ Chí Minh ?
A. Luôn hớng tới lao động, hoạt động, vận động.
B. Luôn hớng tới niềm vui, lạc quan, yêu đời.
C. Luôn hớng tới sự sống, ánh sáng, tơng lai.
D. Luôn hớng tới con ngời, cảnh vật, lao động.
Phần tự luận: (8đ)
Vì sao nói bài thơ Chiều tối của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang màu sắc cổ
điển vừa đậm tinh thần thời đại ?.
12
3. Đáp án:
Phần trắc nghiệm:
- Trắc nghiệm 15 phút: Mỗi đáp án đúng 1đ.
Câu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Đáp án C D C C C D A A C A
- Trắc nghiệm 45 phút: Mỗi đáp án đúng 0,25đ.
Câu 1 2 3 4 5 6 7 8
Đáp án D C A D C A D C
Phần tự luận:
- Yêu cầu : Sử dụng thao tác lập luận phân tích , chứng minh để viết bài.
- Nội dung : Cần chỉ ra đợc các ý sau :
a. Bài thơ mang vẻ đẹp cổ điển :
+ Thể thơ tứ tuyệt hàm súc
+ Hình ảnh đậm chất ớc lệ, tợng trng
+ Bút pháp gợi tả, chấm phá, cốt ghi lấy linh hồn tạo vật .
b. Tinh thần hiện đại :

Nó phát huy đợc những u điểm của hai hình thức kiểm tra, hạn chế đợc nhợc điểm.
Vì thế, việc kết hợp hai hình thức kiểm tra trong một bài là có thể và rất khả quan.

14
C . Kết luận và kiến nghị .
I. Kết luận.
Vấn đề này mới đợc nghiên cứu và khảo sát ở một khía cạnh nhỏ của môn
Ngữ văn (phần đọc văn), trong một thời gian ngắn, thiếu thốn về tài liệu, nên còn sơ
sài và nhiều thiếu sót.
Tôi hy vọng các đồng nghiệp tham khảo để có thể ủng hộ việc đa hình thức
kiểm tra trắc nghiệm vào môn Ngữ văn nhằm nâng cao chất lợng dạy và học môn
Ngữ văn trong trờng THPT Ngọc Lặc.
II. Kiến nghị.
- Cấp trờng: Đề nghị ban chuyên môn nhà trờng tạo điều kiện về cơ sở vật
chất để giáo viên thuận lợi trong việc đánh máy, in và phô tô đề kiểm tra trắc
nghiệm.
- Mặt khác, cần thiết phải xây dựng một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm cho
môn Ngữ văn ở cả ba khối 10, 11, 12 để giảm thiểu thời gian và công sức cho giáo
viên khi ra đề và tạo điều kiện cho học sinh ôn tập củng cố hệ thống kiến thức sau
khi học xong từng phần của chơng trình môn Ngữ văn.
- Hơn nữa, trên thị trờng hiện nay có bán khá nhiều tài liệu về bài tập trắc
nghiệm nhng bản thân tôi thấy sách chỉ chủ yếu giới thiệu hệ thống bài tập trắc
nghiệm và tự luận, nêu đáp án chứ không nói rõ quá trình t duy dẫn đến đáp án
đúng. Cái điều quan trọng nhất của mỗi giáo viên chúng tôi cần là kinh nghiệm ra
một bài tập trắc nghiệm đạt yêu cầu nhng hầu hết các sách không đề cập đến vấn
đề này hoặc nếu có thì nói rất chung chung, không rõ ràng. Hi vọng rằng thời gian
tới sẽ có nhiều sách trao đổi vấn đề này với thầy trò chúng tôi để thầy trò chúng tôi
đợc học tập .
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các độc giả đã đọc và quan tâm đến vấn
đề này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status