HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
KHOA QUỐC TẾ VÀ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
*********
Bài tập tiểu luận môn Triết Học
Vai trò của cách mạng khoa học kỹ thuật
với sự nghiệp đổi mới hiện nay
Nhóm thực hiện: Nguyễn Trường Giang (Trưởng Nhóm)
Nguyễn Hồng Hạnh
Đỗ Việt Phương
Giảng viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Hồng Vân
Lớp: Truyền dữ liệu và mạng máy tính - M11CQCT01-B
Hà Nội, tháng 12 - 2011
TiÓu luËn triÕt häc
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài 3
!"#
$%&'()*+&' !",
#-./&.01)!23)4.056*
7/8
#9.:;<8
#$-..+ =
$%>'?#
$$%&)/"<*>@
$#%&/6*>A
$@B"&*>A
$A>'8
$C9D*>E5F"&!G7/$$
Chương 3. Khoa học - Công nghệ với sự nghiệp đổi mới hiện nay 26
#B"&.0.H*G>5E!IJJ5K*53.
học công nghệ cũng làm cho quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và
các quốc gia trở nên khốc liệt. Điều này đòi hỏi các nhà quản lý kinh tế phải
có những chính sách phù hợp để phát triển nền sản xuất kinh doanh và thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá phát triển mạnh.
Nhóm sinh viên chúng em đã chọn đề tài: “Vai trò của cách mạng
khoa học công nghệ với sự nghiệp đổi mới hiện nay ở Việt Nam”. Nhưng
do kiến thức và kinh nghiệm còn ít, sự nghiên cứu về đề tài còn nhiều thiếu
sót, kính mong cô giúp đỡ và chỉnh sửa những thiếu sót giúp chúng em để
chúng em có thể hoàn thiện hơn kiến thức của mình.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 2
TiÓu luËn triÕt häc
Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài
Cách đây hơn 100 năm, C.Mác đã dự đoán: “Đến một trình độ phát
triển nào đó thì “tri thức xã hội phổ biến” (khoa học) biến thành “lực lượng
sản xuất trực tiếp” ”. Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ,
luận điểm đó của C.Mác đang dần trở thành hiện thực một cách đầy thuyết
phục.
1.1. Những điều kiện để khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Khoa học và cùng với khoa học là công nghệ là những thành tố cơ bản
của lực lượng sản xuất. Tri thức khoa học được vật hóa thành công cụ sản
xuất (công cụ lao động), như máy móc, trang thiết bị kỹ thuật…, đó là yếu tố
động nhất và có vai trò quyết định đối với phương thức sản xuất. Trong quan
hệ sản xuất, tri thức khoa học có mặt trong khoa học quản lý, tổ chức và phân
phối. Cùng với quá trình phát triển của lịch sử xã hội nói chung, của phương
thức sản xuất nói riêng, vai trò của khoa học và công nghệ cũng ngày càng
được nâng cao, ngày càng thể hiện rõ ràng dưới dạng một thực tiễn xã hội
trực tiếp nhờ vào quá trình không ngừng biến đổi và hoàn thiện dần của
chúng. Từ chỗ là lực lượng sản xuất tiềm năng, ngày nay, khoa học và công
nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Bước chuyển này không
Điều kiện thứ hai thuộc về sự phát triển của bản thân khoa học:
khoa học phải đạt đến một trình độ phát triển cao đến mức đủ sức giải quyết
những vấn đề cấp thiết do thực tiễn xã hội, đặc biệt là những vấn đề do thực
tiễn sản xuất trực tiếp đặt ra.
Trong nền khoa học hiện đại, không một vấn đề nào do sản xuất đặt ra
mà tri thức của một ngành khoa học, thậm chí là của vài ngành khoa học cụ
thể, có thể tự thân giải quyết được hoàn toàn. Bởi vậy, ngày nay, sự thống
nhất khoa học, tổng hợp tri thức khoa học là xu hướng phát triển tất yếu của
khoa học và điều này cũng hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của thực tiễn sản
xuất hiện đại. Trong thời đại ngày nay, trong khoa học đang diễn ra quá trình
tương tác mạnh mẽ giữa các khoa học, quá trình liên kết khoa học theo hướng
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 4
TiÓu luËn triÕt häc
tổng hợp tri thức của các khoa học hiện đại nhằm giải quyết những vấn đề
bức xúc do thực tiễn sản xuất và thực tiễn xã hội đặt ra, như vấn đề khai thác
và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
sống, vấn đề phát triển bền vững, vấn đề hội nhập toàn cầu mà trước hết, là
hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là những vấn đề về con người (tăng cường
sức khỏe, phòng, chống bệnh tật, nâng cao tuổi thọ, và sự phát triển toàn diện
cả về thể chất lẫn tinh thần của con người…). Bởi thế, sự phát triển của khoa
học nói riêng, xã hội nói chung đều nhằm mục đích thỏa mãn những nhu cầu
ngày càng cao của con người, phục vụ cho sự phát triển toàn diện của con
người với tư cách một thực thể sinh học - xã hội, một thực thể sống hài hòa
giữa môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Những khám phá mới của
khoa học về con người, như làm rõ nguồn gốc và bản chất của con người, lập
và giải mã bản đồ gien người, nhân bản vô tính người, làm rõ vai trò và chức
năng của tế bào gốc ở người, trí tuệ nhân tạo, những khả năng còn tiềm ẩn ở
con người, v.v. đang chứng tỏ rằng, con người không chỉ là chủ thể sáng tạo
khoa học, chủ thể của quá trình sản xuất xã hội, của lịch sử, mà còn là đối
tượng khai thác của khoa học và công nghệ hiện đại.
chân lý. Thực tiễn sản xuất xã hội kiểm nghiệm tính đúng đắn của tri thức
khoa học. Do vậy, việc khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp là con
đường ngắn nhất, đáng tin cậy nhất để xác định độ chính xác, tính khoa học,
tính chân lý của tri thức khoa học. Sự thống nhất giữa thực tiễn (hoạt động
sản xuất xã hội) và lý luận (tri thức khoa học) là đặc trưng cơ bản của xã hội
hiện đại, được xây dựng trên cơ sở của nền sản xuất hiện đại và nền khoa học
tiên tiến.
Như vậy, cùng với sự phát triển của xã hội, vai trò của khoa học ngày
càng được tăng cường, nhất là trong thời đại ngày nay, khi khoa học đang trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tri thức khoa học vừa là sự biến đổi, là
quyền lực, là sự giàu có, thịnh vượng, vừa là một trong những yếu tố quan
trọng nhất quyết định sự phát triển, sự thịnh suy của một công ty, một dân tộc,
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 6
TiÓu luËn triÕt häc
một đất nước, một khu vực trong cuộc cạnh tranh khốc liệt về kinh tế của thế
giới hiện đại.
1.2. Các hình thức biểu hiện của quá trình khoa học trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp
Quá trình khoa học trở thành lực lượng sản xuất có nhiều biểu hiện
khác nhau, song, ở đây, chúng tôi chỉ có thể nêu lên một số biểu hiện chủ yếu.
Trước hết, tri thức khoa học được vật hóa thành các công cụ sản xuất ngày
càng tinh xảo hơn, càng hoàn thiện hơn và nhanh hơn. Đó là các loại máy
móc, trang thiết bị dùng trong công nghệ thông tin, như máy vi tính, máy siêu
vi tính, mạng Internet; trong công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học,
công nghệ năng lượng mới, công nghệ nguyên tử, công nghệ vật liệu mới,
công nghệ nano, v.v Các thế hệ người máy (robot) ngày càng hoàn thiện, có
thể đảm nhiệm không chỉ các chức năng về trí tuệ, mà cả cảm xúc. Ngày nay,
các máy móc, trang thiết bị được tạo ra từ tri thức của khoa học hiện đại được
sử dụng trong các công nghệ hiện đại không chỉ mang lại hiệu quả và năng
suất lao động cao hơn, chất lượng tốt hơn, mà còn góp phần quan trọng vào
chính là lực lượng sản xuất mạnh mẽ nhất, to lớn nhất, là nguồn lực của mọi
nguồn lực, là động lực to lớn và quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển của xã
hội.
Ngoài việc đào tạo ra nguồn nhân lực mới với đầy đủ những phẩm chất
cần thiết, đáp ứng được nhu cầu của sản xuất hiện đại, khoa học còn trực tiếp
tham gia vào quá trình tổ chức, quản lý, điều hành sản xuất và phân phối sản
phẩm. Với chức năng này, khoa học không chỉ trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp, mà còn là yếu tố không thể thiếu trong quan hệ sản xuất. Ngày nay,
việc tổ chức, quản lý, điều hành sản xuất ở bất kỳ cấp độ nào: trong một dây
chuyền sản xuất, trong một phân xưởng, một xí nghiệp, một liên hợp các xí
nghiệp, v.v. đều rất cần đến tri thức khoa học, nhất là tri thức của khoa học
quản lý. Cùng một thế hệ máy móc như nhau, cùng sản xuất ra một loại sản
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 8
TiÓu luËn triÕt häc
phẩm như nhau, nếu biết tổ chức, quản lý, điều hành công việc một cách hợp
lý, sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.
Không chỉ thế, việc quản lý, điều hành trong sản xuất cũng như trong
các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đã có những biến đổi về chất so
với trước đây, như nhanh nhạy, chính xác, kịp thời nhờ có sự hỗ trợ của công
nghệ thông tin. Xã hội ngày nay là xã hội đang được tin học hóa. Trong xã
hội thông tin, kẻ giàu, kẻ mạnh, kẻ chiến thắng không phải là kẻ trường vốn,
kẻ giàu về vật chất cụ thể, mà chính là kẻ biết nắm bắt một cách nhanh nhạy
các thông tin, đặc biệt là các thông tin khoa học - công nghệ và thông tin về
thị trường. Bởi vì, nhờ nắm bắt được thông tin mà thay đổi công nghệ để có
thể kịp thời sản xuất ra những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu và thị hiếu
của người tiêu dùng, giúp cho việc lưu thông hàng hóa nhanh hơn. Việc nắm
bắt thông tin kịp thời, nhanh chóng, chính xác còn giúp cho người sản xuất,
kinh doanh mở rộng thị trường, dự báo và đón đầu nhu cầu, thị hiếu của
người tiêu dùng và xã hội, nhờ đó, có thể giành được chiến thắng trong cuộc
cạnh tranh gay gắt trên thương trường.
đảm nhiệm. Đồng thời nhờ những khả năng gắn với việc tự động hoá quá
trình sản xuất và với việc chuyển sang cho các máy tính một loạt những thao
tác trí tuệ, con người được giải phóng để tiến hành những hoạt động riêng biệt
của mình như hoạt động sáng tạo, thiết kế và lập đề án. Như vậy, tiến bộ kỹ
thuật là nhân tố cực kỳ quan trọng để tăng năng suất lao động, để phát triển
lực lượng sản xuất của xã hội và qua đó làm biến đổi cả bản thân con người.
Cách mạng khoa học – kỹ thuật làm thay đổi tận gốc các yếu tố của lực
lượng sản xuất. Nó tạo điều kiện tìm ra và sử dụng những nguồn năng lượng
mới, chế tạo ra hàng loạt những vật liệu nhân tạo với những thuộc tính hoàn
toàn mới, thực hiện tự động hoá từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất,
đổi mới nhanh chóng công nghệ, tự động hoá cả các quá trình quản lý. Cách
mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại là sự cải tổ căn bản trong sự phát triển của
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 10
TiÓu luËn triÕt häc
lực lượng sản xuất mà những nét chủ yếu của nó là biến khoa học thành lực
lượng chủ đạo của sản xuất, áp dụng quản lý tự động hoá, sử dụng các
phương pháp công nghệ của sản xuất và những hình thức tổ chức sản xuất.
Như vậy, bước sang thế kỷ XXI, khoa học đã phát triển cực kỳ mạnh
mẽ và nhanh chóng, vai trò của khoa học đối với đời sống cũng như mối quan
hệ giữa khoa học và thực tiễn, sản xuất biến đổi to lớn, khoa học đã thâm
nhập vào mọi lĩnh vực, mọi quá trình và mọi mặt của đời sống xã hội và đã
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
1.3.2. Kiểm nghiệm qua thực tiễn
Ngày nay toàn cầu hoá mà cốt lõi là toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành
một xu thế khách quan của thế giới đương đại. Xu thế toàn cầu hoá kinh tế bắt
nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ tính chất xã hội hoá của lực
lượng sản xuất trên phạm vi quốc gia và quốc tế, từ nền kinh tế thị trường thế
giới. Sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với
quá trình biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sự phát triển của
các công nghệ cao (công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 12
TiÓu luËn triÕt häc
Chương 2. Những lý luận chung về công nghệ
2.1. Công nghệ là gì ?
Công nghệ luôn được hiểu theo một nghĩa rộng là sự ứng dụng các tri
thức khoa học vào giải quyết một nhiệm vụ thực tiễn. Như vậy công nghệ là
một sản phẩm do con người tạo ra, làm công cụ để sản xuất ra của cải vật
chất. Cho tới này định nghĩa về công nghệ chưa toàn diện thống nhất, điều
này được lý giải là do số lượng các công nghệ có nhiều đến mức không thể
thống kê được. Người sử dụng công nghệ trong những điều kiện và hoàn cảnh
khác nhau dẫn đến sự hiểu biết về công nghệ cũng khác nhau.
Theo UNIDO (United Nation’s Industrial Development organization)
tổ chức phát triển công nghệ của liên hợp quốc thì : công nghệ là việc áp
dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên
cứu và sử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp.
Theo ESCAP (Economic and Social Commission for asia and the Pacific)
uỷ ban kinh tế và xã hội châu á Thái Bình Dương thì : công nghệ là một
hệ thống kiến thức về quy trình kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và
thông tin. Sau đó ESCAP mở rộng định nghĩa của mình: Nó bao gồm tất
cả các kỹ năng kiến thức thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất
chế tạo, dịch vụ, quản lý, thông tin.
Định nghĩa này được coi là bước ngặt trong lịch sử quan niệm về công
nghệ. Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản
xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể mà mở rộng khái niệm ra các lĩnh vực
mới như dịch vụ và quản lý.
Cuối cùng một định nghĩa được coi là khái quát nhất về công nghệ : công
nghệ là tất cả những cái gì dùng để biến đổi đầu vào thành đầu ra.
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 13
TiÓu luËn triÕt häc
2.2. Các bộ phận cấu thành của công nghệ
nguồn lực cho sản xuất và kinh doanh, hay nói một cách khác công nghệ được
phân thành :
Phần cứng là sản phẩm tồn tại ở dạng vật chất.
Phần mềm là sản phẩm của trí tuệ, các bí quyết thông số, phương pháp…
2.3. Các thuộc tính của công nghệ
Công nghệ là một loại hàng hoá đặc biệt, tuy nhiên với tư cách là một hệ
thống công cụ chế biến vật chất và chế biến thông tin, hàng hoá công nghệ có
những thuộc tính riêng. Các thuộc tính này quy định và ảnh hưởng trực tiếp
đến việc mua bán định giá, trao đổi, sử dụng công nghệ. Công nghệ bao gồm
4 thuộc tính cơ bản :
Tính hệ thống
Tính sinh thể
Tính đặc thù
Và tính thông tin
Cũng như 4 bộ phận cấu thành một công nghệ, 4 thuộc tính cơ bản này
cũng có thể được xem là 4 tiêu thức cơ bản để mọi người có thể nhìn nhận
một công nghệ.
2.4. Sự phát triển chung của công nghệ
Con người là chủ thể của sản xuất và là yếu tố quyết định. Song sự phát
triển của con người về tri thức và kỹ năng sản xuất thì lại biểu hiện hay kết
tinh ở tư liệu lao động. Việc sử dụng và sáng tạo ra những tư liệu lao động tuy
đã có mầm mống ở một vài loài động vật nào đó. Nhưng vẫn là một nét đặc
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 15
TiÓu luËn triÕt häc
trưng riêng của quá trình lao động của con người. Đối với việc đánh giá
những hình thái kinh tế xã hội cũng nhưđánh giá sự phát triển của tiến bộ
khoa học loài người thì chúng ta nên đánh giá từ những mốc lịch sử khám phá
sơ khai của loài người.
Những thời đại Kinh tế khác nhau ở chỗ không phải là chúng sản xuất ra
cái gì mà là chúng sản xuất bằng cách nào. Với những tư liệu lao động gì và
kính viễn vọng quan sát mặt trời, mặt trăng và các hành tinh. Ông nổi tiếng
về công lao chứng minh thuyết vũ trụ của Copernic, phát minh ra luật quán
tính, luật rơi tự do…
Newton (1642- 1727) nhà khoa học người Anh, ông là nhà toán học, vật lý
học, thiên văn học, cơ học, phát minh ra định luật vạn vật hấp dẫn. Các
quy luật của cơ học cổ điển … kể từ đây, mở ra thời kỳ mới- thời đại cơ
giới hoá.
Leonard de Vinci- danh hoạ vĩ đại. Ông đã vẽ các kiểu máy tiện, máy
bơm, vũ khí, máy bay, nghiên cứu địa chất.
Copernic (1473-1543)-người Ba Lan, phát hiện ra mặt trời là trung tâm vũ
trụ.
Lavoisier (1743-1794) nhà khoa học người Pháp phát hiện thành phần hoá
học của nước và cấu tạo nguyên tố hoá chất.
Cuộc cách mạng khoa học đã mở đường cho một cuộc cách mạng kỹ
thuật công nghệ lớn nhất trong lịch sử loài người vào cuối thế kỷ 18 mà nội
dung là chế tạo ra máy móc, cơ khí hoá nền sản xuất xã hội chuyển từ lao
động thủ công sang lao động bằng máy móc. Cuộc cách mạng kỹ thuật – công
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 17
TiÓu luËn triÕt häc
nghệ được gọi là cuộc cách mạng công nghiệp lớn nhất của nhân loại. Bởi nó
đưa máy móc vào công nghiệp thay thế thủ công bằng cơ khí hoá và dùng
máy móc để sản xuất ra máy móc như một quy luật quan trọng – như Mác đã
phát hiện ra - của sản xuất đại công nghiệp nhằm cơ khí hoá tiếp các ngành
sản xuất khác như vận tải, nông nghiệp…
Cuộc cách mạng công nghệ diễn ra đầu tiên ở Anh (trong khoảng thời
gian 1750-1830) rồi sau đó lan rộng sang Pháp, Đức và một số nước Châu Âu
cụ thể là:
- Máy kéo Sợi (1735) và tiếp sau là máy dệt.
- Máy hơi nước (1784) và tiếp sau đó làôtô chạy bằng hơi nước (1789).
- Đầu tàu hoả chạy bằng hơi nước (1803)
2.5. Những công nghệ điển hình
Công nghệ vật liệu mới
Trong vòng 40 năm trở lại đây, khoa học và công nghệ đã tạo ra được
các loại vật liệu đáp ứng được tất cả các yêu cầu trong mọi lĩnh vực hoạt động
của con người. Trong nhiều trường hợp phát minh vật liệu mới, làm nảy sinh
ngành công nghiệp mới (bán dẫn-vi mạch, máy tính điện tử, tin học, thông
tin…) một vài thành tựu nổi bật về công nghệ vật liệu mới là:
- Vật liệu siêu dẫn
- Vật liệu composit ( vật liệu tổ hợp hay phức hợp)
- Gốm kim loại.
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 19
TiÓu luËn triÕt häc
Vật liệu mới là đặc trưng quan trọng đánh dấu sự phát triển của công
nghệ (kỷ nguyên phát triển nhân loại đánh dấu bằng đồ đá, đồ đông, thép tổng
hợp, phức hợp)
Một công nghệ mới, cao cấp cần có các thiết bị làm bằng các vật liệu đặc
biệt (nhẹ, cách âm, cách nhiệt…) ngược lại muốn có các vật liệu đăc biệt lại
đòi hỏi công nghệ cao cấp về cơ khí chính xác, chân không siêu sạch…
Công nghệ Điện tử và vi điện tử
Trong rất nhiều lĩnh vực khoa học-kinh tế, người ta phải dùng đến các
thiết bị điện tử để thực hiện các chức năng như khuyếch đại, phát tín hiệu
điện, biến đổi tín hiệu điện.
-Tạo hình, tạo âm thanh… lúc đầu, linh kiện chính trong các thiết bị đó
là đèn điện tử, được phát minh vào năm 1906, năm 1947 xuất hiện các linh
kiện bán dẫn, năm 1961 xuất hiện mạnh tích hợp IC và năm 1971 là các mạch
vi xử lý thường phát minh các dụng cụ điển tử mở ra kỷ nguyên của máy tính
điện tử.
Công nghệ thông tin
Thành quả của công nghệ Điện tử-Vi điện tử tạo ra máy tính điện tử
cùng với phần mềm là các chương trình ứng dụng, tạo ra một công nghệ mới
Trong lĩnh vực sản xuất, các thành tựu của tự động hoá bao trùm lên tất
cả các ngành sản xuất, là cơ sở của các thành tựu trong lĩnh vực kỹ thuật cao:
Du hành vũ trụ thông tin, năng lượng mới, kỹ thuật hai dương, công nghệ sinh
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 21
TiÓu luËn triÕt häc
học… thiết bị chủ yếu trong tự động hoá là Người máy các loại, có thể hoạt
động theo một chương trình cứng, hay thao tác theo sự điều khiển trực tiếp
của con người hoặc hoạt động nhờ trí năng nhân tạo.
Sự phát triển của tự động hoá và Công nghệ thông tin hứa hẹn những
thành tựu cho những bước ngoặt trong xã hội loài người ở thế kỷ XXI.
2.6. Vai trò của công nghệ đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
Khoa học công nghệ là một trong bốn nguồn lực quyết định sự phát
triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Ngày nay, khi mà nhân loại bước vào
kỷ nguyên tri thức thì khoa học công nghệ càng khẳng định hơn vai trò quyết
định đến quá trình tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Đặc biệt là đối với
các nước đang phát triển trong quá trình tiến hành CNH- HĐH, nó chính là
động lực lớn thúc đẩy và góp phần tích cực rút ngắn quá trình này.
Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, việc
tìm ra những công nghệ mới, vật liệu mới và những nguồn năng lượng mới đã
xuất hiện một kiểu tăng trưởng mới về chất - tăng trưởng kinh tế theo chiều
sâu trong điều kiện sản xuất phát triển dựa trên cơ sở cuộc cách mạng khoa
học hiện đại. Khoa học công nghệ là điều kiện để có sản phẩm cuối cùng đạt
chất lượng cao, tăng năng suất lao động, đảm bảo an toàn sản xuất, chống ô
nhiễm môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên quốc gia, góp phần thúc đẩy
sản xuất phát triển nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của xã hội.
Kết quả phân tích của Ngân hàng Thế giới ở 38 quốc gia và khu vực cho
thấy, tiến bộ công nghệ đóng góp 50% vào tăng trưởng kinh tế ở các nước
phát triển, hơn 30% ở các nước đang phát triển. Tại Hàn Quốc, đột phá trong
KH&CN giúp kinh tế-xã hội tăng trưởng mạnh, mức thu nhập bình quân đầu
người tăng cao từ 1.040USD (1977) lên 3.360USD sau 10 năm. Đầu tư cho
quân từ 57%-58% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản. Các mặt hàng thuỷ sản
chế biến xuất khẩu của Việt Nam đảm bảo yêu cầu về chất lượng thị trường
Nhật Bản, EU và Mỹ.
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 23
TiÓu luËn triÕt häc
Trong y - dược, Việt Nam đã lần đầu tiên ghép tim thành công trên người,
ghép gan, thận từ người cho chết não; làm chủ được quy trình phân lập, bảo
quản tế bào gốc từ tuỷ xương, máu ngoại vi, vùng rìa giác mạc và bước đầu
ứng dụng thành công trong điều trị các bệnh xương, khớp, ung thư, Nghiên
cứu, sản xuất thành công 10 loại vaccin cho Chương trình Tiêm chủng mở
rộng, vaccin Rota phòng bệnh tiêu chảy đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Trong công nghiệp, KH&CN giúp cải tiến, đổi mới công nghệ của các
ngành, lĩnh vực. Ngành cơ khí chế tạo đã làm chủ thiết kế và công nghệ chế
tạo các thiết bị siêu trường, siêu trọng phục vụ thi công xây dựng nhà máy
thuỷ điện có công suất lớn, đặc biệt là công trình thuỷ điện Sơn La (công trình
phát điện sớm 2 năm so với tiến độ ban đầu, làm lợi cho đất nước 2 triệu
USD); thiết bị cẩu trục chân đế 180 tấn sử dụng cho các nhà máy đóng tàu,
bến cảng, khai khoáng,
Từ kết quả nghiên cứu, chúng ta đã thiết kế, chế tạo thành công máy biến
áp (MBA) 220kV–250 MVA với giá thành thấp hơn giá nhập khẩu (khoảng 2
triệu USD so với giá nhập khẩu 2,4 triệu USD). Năm 2010, Việt Nam chế tạo
thành công MBA 500kV đầu tiên, tạo điều kiện cho ngành điện chủ động mở
rộng, phát triển hệ thống lưới điện truyền tải 500kV quốc gia.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay đã tạo ra thời cơ rất thuận
lợi để các nước đang phát triển nhanh chóng thực hiện Công nghiệp hoá đất
nước. Nhiều nhà kinh tế cũng dự báo rằng, trong giai đoạn tới “tương lai sẽ
phụ thuộc vào các quốc gia có tiềm năng ứng dụng”. Vì vậy, để nhanh chóng
rút ngắn thời gian Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa, các nước đang phát triển
phải quan tâm và khai thác tốt những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học
công nghệ, phát huy được lợi thế là các nước đi sau. Thực tế lịch sử cho thấy,