Triển vọng xuất khẩu vào EU sau khi Việt Nam gia nhập WTO - Pdf 17

VỤ CHÂU ÂU

TRIỂN VỌNG XUẤT KHẨU VÀO EU
SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO A - Vài nét về Liên minh châu Âu
Đại chiến thứ 2 kết thúc, một số chính khách Âu thấy rằng châu Âu cần được liên
kết chặt chẽ, trước hết là kinh tế và chính trị để có vị trí xứng đáng hơn, tiến tới thành lập
Hợp chủng quốc châu Âu từng bước cạnh tranh với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hùng
mạnh.
Nỗ lực nhất thể hóa châu Âu được hình thành từ những năm 50 thế kỷ 20. Hiệp ước
thành lập Cộng đồng Than Thép ký năm 1952 đã đặt nền móng cho việc hình thành Liên
minh châu Âu rộng lớn ngày nay.
Liên minh châu Âu (EU) là hình thức hội nhập khu vực ở trình độ cao với nhiều
triển vọng tốt đẹp cho các nước thành viên và cho toàn châu Âu, đang phát triển sâu rộng
trên tất cả các lĩnh vực phấn đấu trở thành khu vực phát triển nhất hành tinh, đủ sức đối
phó với các thách thức toàn cầu trong thế kỷ 21, có lợi cho xu thế hoà bình và hợp tác
phát triển toàn cầu
Vị thế chính trị, tiềm lực kinh tế, thương mại, tài chính, khả năng phòng thủ của EU
không ngừng tăng sau mỗi lần mở rộng, đặc biệt mở rộng lần thứ năm thêm 10 thành
viên và lần thứ 6 thêm 2 thành viên mới ở Đông và Nam Âu. Việc này đặt ra cho tất cả
các thành viên EU, châu Âu và thế giới rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu xử lý,
không chỉ kinh tế thương mại.
Hiến pháp mới của EU được soạn thảo theo hướng minh bạch hơn, dân chủ hơn và
hiệu quả hơn đang đứng trước nguy cơ sụp đổ do các bất đồng về quyền lực giữa nước
lớn và nhỏ, giữa chính phủ quốc gia thành viên và bộ máy hành pháp của khối, giữa
thành viên cũ và mới về khoảng cách phát triển, về nhập cư, lao động, an sinh xã hội,
thâm hụt ngân sách, chính sách đối ngoại, an ninh phòng thủ chung
Đồng tiền chung châu Âu (Euro) sau 21 năm chuẩn bị đã được lưu hành tại 12 nước
thành viên từ 1/ 1/ 2002, kết thúc quá trình nhất thể hoá về tiền tệ, một sự kiện quan

Chính sách của EU với Việt Nam nằm trong chính sách với các nước đang phát
triển, hợp tác trong khuôn khổ Việt Nam là thành viên của ASEAN, WTO. Chính sách
này được hình thành rõ nét trong các năm gần đây đang trong quá trình vừa hoàn thiện
vừa khai thác. Mặc dù thiện cảm về chính trị, ủng hộ giúp đỡ nhiều mặt, đặc biệt viện trợ
phát triển, cho đại bộ phận hàng xuất khẩu của Việt Nam được hưởng ưu đãi GSP,
nhưng EU chưa công nhận Việt Nam là nước kinh tế thị trường.
Quan hệ kinh tế thương mại của Việt Nam với các nước thành viên và với thể chế
EU đã hình thành từ lâu, phát triển mạnh vào những năm đầu của thập kỷ 1990 , nhất là
sau khi hai bên ký các Hiệp định về Hợp tác kinh tế, Thương mại, Khoa học kỹ thuật
với các mục tiêu: (1) Đảm bảo các điều kiện cần thiết thúc đẩy phát triển thương mại,
đầu tư trên cơ sở cùng có lợi và dành cho nhau quy chế tối huệ quốc. (2) Trợ giúp phát
triển kinh tế bền vững ở Việt Nam , đặc biệt chú trọng cải thiện đời sống cho các tầng
lớp dân cư nghèo. (3) Trợ giúp các nỗ lực của Việt Nam trong việc cơ cấu lại nền kinh tế
theo cơ chế thị trường. (4) Trợ giúp nhằm bảo vệ môi trường và sử dụng lâu dài nguồn
tài nguyên thiên nhiên theo hướng phát triển bền vững.
Cùng với các Hiệp định về hàng dệt may và giầy dép , Thoả thuận về mở cửa thị
trường trong đó có việc bỏ hạn ngạch dệt may cho Việt Nam từ 01/01/2005 và Thoả
thuận Việt Nam gia nhập WTO ký năm 2004, quan hệ thương mại giữa EU với Việt
Nam đã bước sang thời kỳ phát triển mới, mạnh mẽ và toàn diện hơn.
Buôn bán Việt Nam – EU tăng nhanh trong các năm gần đây, từ 3,6 tỷ USD năm
1999 lên 9,9 tỷ USD năm 2006, trong đó Việt Nam xuất khẩu 6,9 tỉ USD chiếm 17,4%
tổng ngạch xuất khẩu cả nước, chủ yếu giầy dép 1,9 tỷ USD, dệt may 1,2 tỷ USD, cà phê
478,5 triệu USD, chè 10 triệu USD, hạt tiêu 62 triệu USD, xe đạp và phụ tùng 54,8 triệu
USD, sản phẩm nhựa 102,7 triệu USD, cao su 155 triệu USD, thủ công mỹ nghệ 182
triệu USD, hải sản 730,8 triêụ USD, đồ gỗ 488 triệu USD
2
Xuất nhập khẩu của Việt Nam sang các nước E.U
(Đơn vị: Triệu$. Theo thống kê của Tổng Cục Hải quan)
Tên nước 2003 2004 2005 Ước 2006
Xuất Nhập Xuất Nhập Xuất Nhập Xuất tăng Nhập tăng

%
Hy Lạp 42,0 1,1 43,1 -
55,08 4,85 63,8
15,83
% 1,8
-62,8%
I-ta-li-a 331,1 372,0 354,1 295,7
469,72 288,1 624,9
33,03
% 320,2
11,14
%
Phần Lan 28,1 33,4 38,6 52,5
57,14 42,65 67,4
17,95
% 83,5
23,88
%
Phỏp 496,1 414,0 529,4 612,3 652,7 447,8 780,9 19,6% 411,2 -8,17%
Tõy Ban Nha 234,1 79,2 298,3 90,0 410,4 76,77 533,4 29,9% 96,6 25,8%
Thụy Điển 90,0 113,6 102,9 112,9 133,6 139,43 169 26,5% 131,4 -5,76%
Balan
82,17 38,9 81,8 47,17 155,9 90,5% 55,8
18,29
%
Estonia 2 1,73 4,24 2,5 8,3 95,7% 2,2 12%
Hungary
21,64 16,4 27,03 18,47 31,8
17,64
% 25,2

0
4.962,
6
2.667,
5
5.519,
9
2.588,
2
6.900,
8
25% 3.001,
2
15,9%
Các nhóm hàng tăng trưỏng xuất khẩu cao trong 2006 và các năm tiếp theo là thuỷ
sản, đồ gỗ, dệt may, sản phẩm cao su, sản phẩm cơ khí, điện dân dụng và sản phẩm công
nghệ thông tin, đồ chơi trẻ em.
Một số mặt hàng xuất khẩu chớnh của Việt Nam sang EU
(Đơn vị: triệu USD)
TT Tờn hàng 2001 2002 2003 2004 2005 Ước 2006 tăng
01 Hải sản 116,7 97,9 153,2 245,3 439,9 730,85 66,14%
3
02 Cà phờ 201,8 170,5 262,3 389 309,1 478,5 54,8%
03 Dệt may 607,7 551,9 537,1 760 882,8 1215,17 37,63%
04 Giày dộp 1.163,0 1.327,9 1602,5 1782,4 1783,4 1916,71 7,45%
05 Đồ gỗ 464,93 488,16 7,17%
06 Điện tử vi tính 196,5 275,15 43,21%
07 Thủ cụng mỹ nghệ 119,2 149,5 172 204 178,3 182,13 3,19%
08 Sản phẩm nhựa 32,32 60,28 102,73 93,63%
09 Cao su 83,55 125 155,45 70,81%

USD.
Các nhà đầu tư EU đó có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng của Việt
Nam nhưng tập trung nhiều nhất vào công nghiệp và xây dựng (280 dự án với tổng vốn
đầu tư là 4,18 tỷ USD, chiếm 54,8 % số dự án và 59,8 % tổng vốn đầu tư), trong đó công
nghiệp nặng có 118 dự án với tổng vốn đầu tư gần 1,97 tỷ USD, tiếp theo là khai thác
dầu khí 6 dự án với 1,32 tỷ USD. Trong lĩnh vực dịch vụ, EU có 181 dự án với tổng vốn
2,43 tỷ USD (chiếm 35,4 % số dự án và 34,6 % tổng vốn đầu tư). Còn lại là nông, lâm
nghiệp - 50 dự ỏn với tổng vốn đầu tư là 457,6 triệu USD.
Nhìn chung, các nhà đầu tư Châu Âu có ưu thế về công nghệ, vì vậy đã góp phần
tích cực trong việc tạo ra một số ngành nghề mới và sản phẩm mới có hàm lượng công
4
nghệ cao. Một số tập đoàn lớn của EU đang hoạt động có hiệu quả tại Việt Nam như BP
(Anh), Shell Group (Hà Lan), Total Elf Fina (Pháp Bỉ), Daimler Chrysler (Đức), Siemen,
Alcatel Comvik (Thuỵ Điển)…. Xu thế đầu tư của EU chủ yếu vẫn tập trung vào các
ngành công nghiệp công nghệ cao, tuy nhiên, gần đây có xu hướng phát triển tập trung
hơn vào các ngành dịch vụ (bưu chính viễn thông, tài chính, văn phũng cho thuờ, bỏn
lẻ).
Tính đến hết tháng 3/2006, Việt Nam đã có 12 dự án đầu tư sang CHLB Đức, CH
Séc, Ba lan, Luxembourg, Bỉ Anh và Pháp với tổng vốn đầu tư 7,26 triệu USD, thực
hiện 192.647 USD.
Tuy nhiên, các kết quả nêu trên còn thấp so với tiềm năng và lợi thế của mỗi bên,
chủ yếu do:
Phía Liên minh châu Âu:
+ Trên thực tế, cho đến 1995 chính sách thương mại đầu tư của EU chủ yếu nhằm vào
các thị trường truyền thống là châu Âu, châu Mỹ, châu Phi và Địa Trung Hải. Với châu
á, trong đó có Việt Nam, chính sách thương mại đầu tư của EU mới được hình thành,
đang trong quá trình vừa khai thác vừa hoàn thiện.
+ Mặc dầu dành cho Việt Nam thiện cảm, nhưng EU chưa thực sự dành mối quan tâm
tới Việt Nam như đối với Trung Quốc và các đối tác khác ở châu á. EU vẫn xếp Việt
Nam vào danh sách những nước có nền kinh tế phi thị trường và thực hiện chế độ quản

và chiếm 42,7 nhập khẩu dịch vụ thế giới. Đầu tư ra nước ngoài chiếm 47% FDI toàn
cầu và nhận 20% đàu tư từ bên ngoài.
Dự báo xuất khẩu vào EU năm 2007 đạt 8,3 tỷ USD, tăng 22% so với 2006 trong
đó, các mặt hàng dệt may, thuỷ sản, cao su tự nhiên, đồ gỗ, cà phê, túi xách, thủ công mỹ
nghệ, điện tử vi tính, sản phẩm nhựa sẽ tăng khá cao.
Xuất khẩu dệt may có khả năng tiếp tục tăng trưởng nhưng khó duy trì được mức
37% như năm 2006 do từ 11/ 1/ 2007, dệt may Việt Nam xuất khẩu vào thị trường 149
nước Thành viên WTO không phải chịu hạn ngạch sẽ tạo ra sự điều chỉnh lớn trong
chiến lược và kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp. Hoa Kỳ sẽ là thị trường có sức
hút rất mạnh đối với nhiều doanh nghiệp và nhiều mặt hàng nhất là các doanh nghiệp lớn
và các chủng loại mặt hàng được giảm thuế nhập khẩu và/hoặc được bãi bỏ hạn ngạch.
Thủy sản tiếp tục sẽ là mặt hàng xuất khẩu chủ lực có mức tăng trưởng cao, dự
kiến kim ngạch đạt ngưỡng 1,5 tỷ USD tăng 49%. Sẽ không có tỡnh trạng hỳt hàng của
thị trường Mỹ như đối với hàng dệt may do tỡnh hỡnh xuất khẩu thủy sản vào Hoa Kỳ
cũn bị nhiều hạn chế bởi thuế chống bán phá giá. Tuy nhiên, khó có tăng trưởng đột biến
vỡ EC kiểm tra chất lượng thủy sản nhập khẩu rất nghiêm ngặt. Nhiều năm qua EC đó
cử thanh tra thỳ y vào Việt Nam kiểm tra cỏc cơ sở nuôi và chế biến tôm xuất khẩu của
Việt Nam. Vấn đề dư lượng hoá chất và nguy cơ nhiễm khuẩn thuỷ sản nếu không được
giải quyết một cách triệt để sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc xuất khẩu mặt hàng này.
Trong thị trường thuỷ sản EU, Tây Ban Nha dường như có nhiều khó khăn hơn cả. Tây
Ban Nha theo dừi thủy sản nhập khẩu rất chặt và hay ban hành cỏc lệnh cảnh báo thú y
thậm chí trong cả các trường hợp EC chỉ ra thông báo.
Đồ gỗ và Thủ cụng mỹ nghệ dự kiến tăng trưởng 6% với kim ngạch tương ứng
509 và 192 triệu USD.
Cà phê tăng 30% đạt 621,4 triệu USD.
Sản phẩm nhựa và cao su tăng 59 và 50%, kim ngạch 164,3 triệu và 233,2 triệu
USD.
Các sản phẩm điện tử - vi tính tiếp tục tăng trưởng mạnh, có thể đạt mức 40% với
kim ngạch 385,2 triệu USD.
Dự kiến xuất khẩu một số mặt hàng vào EU

chung, các giải pháp có thể là :
- Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách theo hướng khuyến khích nước ngoài đầu tư
vào sản xuất hàng xuất khẩu, góp phần giải quyết khâu yếu nhất hiện nay là không có
nhiều hàng để xuất khẩu, không đáp ứng yêu cầu đa dạng của thị trưòng.
- Ổn định chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt ổn định giá đất, điện, nước, cước vận
tải và các yếu tố khác liên quan đến giảm giá thành sản xuất để nâng cao năng lực cạnh
tranh hàng xuất khẩu. Tiếp tục cấp tín dụng xuất khẩu.
- Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về thị trường ngoài nước. Xử lý tốt các rào cản
thương mai. Mở rộng liên doanh hợp tác với các tập đoàn đa quốc gia để mở rộng thị
trưòng xuất khẩu. Mạnh dạn mở của thị trường dịch vụ để giảm chi phí giao dịch.
- Triệt để cải cách thủ tục hành chính theo hướng thuận lợi cho xuất khẩu
- Đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại theo hướng nâng cao hiệu quả. Tập trung
vào các thị trường và mặt hàng trọng điểm, thị trường và mặt hàng mới.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cần hiểu rõ chính sách thương mại, các định chế, quy
định và các yêu cầu sau đây của thị trường EU :
1 -Chính sách thương mại:
Liên minh châu Âu đang cải cách sâu rộng và toàn diện thể chế và luật pháp cho phù
hợp với tình hình mới. Nét đặc trưng trong chính sách thương mại của EU là bảo hộ
nông nghiệp, bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng. EU trợ cấp sản
xuất nông nghiệp trong khối đồng thời đánh thuế cao và áp dụng hạn ngạch đối với một
số nông sản nhập khẩu như gạo, đường, chuối, sắn lát Các yêu cầu về xuất xứ, tiêu
chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm v.v luôn được thực hiện nghiêm ngặt.
7
Bên cạnh cam kết với các nước thành viên WTO, EU ký nhiều hiệp định thương
mại và các hiệp định ưu đãi khu vực và song phương và dành chế độ MFN toàn phần
dành cho sản phẩm nhập khẩu từ úc, Canada, Đài-loan, Hồng-kong, Trung-quốc, Nhật-
bản, Hàn-quốc, Tân-tây-lan, Sing-ga-po và Hoa-kỳ và các hiệp định ngành hàng song
phương khác.
Bên cạnh các cam kết mở cửa thị trường trong khuôn khổ WTO về nông nghiệp,
EU duy trì hạn ngạch áp dụng thuế quan đối với một số sản phẩm, giảm dần trị giá và số

Cho phép hàng bán thành phẩm hoặc nguyên liệu thô được nhập vào EU để gia
công và được các nhà sản xuất của EU tái xuất khẩu trong EU mà các nhà sản xuất
không cần phải nộp thuế hải quan và VAT đối với hàng hoá đó được sử dụng. Có 2 cách
để liên quan đến thuế là miễn thuế hoặc đóng thuế trước và được hoàn thuế.
8
Gia công dưới sự quản lý của hải quan: Nghĩa là hàng hoá được gia công phải chịu
mức thuế thấp hơn trước khi đưa vào tự do lưu thụng (vớ dụ cỏc vật liệu nhựa PVC chịu
mức thuế 8,3% cú thể gia cụng thành màn phim với mức thuế chỉ 2,7%). Mức thuế nhập
khẩu chờnh lệch sẽ dành cho việc bảo tồn hoặc thêm mới các hoạt động gia công tại
Cộng đồng.
Kho Hải quan : Kho hải quan cho phép doanh nghiệp giữ hàng nhập khẩu tại Cộng
đồng và lựa chọn thời gian đóng thuế hoặc tái xuất hàng hoá.
Khối lượng công việc và gia công cho phép đối với hàng hoá lưu kho hải quan được
không chế trong phạm vi bảo quản hàng hoá. Tuy nhiờn cũng cú thể tiến hành gia công
để bán vào Cộng đồng hoặc gia công dưới sự kiểm soát của hải quan tại kho hải quan.
Khu vực tự do
Khu vực tự do là khu vực đặc biệt trên lónh thổ hải quan EU. Hàng hoá trong khu
vực này được miễn thuế nhập khẩu, thuế VAT và cỏc loại thuế nhập khẩu khỏc. Hàng
hoá nhập khẩu được lưu tại khu vực này được coi là chưa nhập khẩu vào Cộng đồng,
hàng hoá của Cộng đồng lưu tại đây được coi là đó xuất khẩu.
Đối với hàng nhập khẩu, khu vực tự do được dùng như là nơi lưu kho đối với hàng
hoá không có nguồn gốc Cộng đồng cho đến khi hàng hoá này được đưa vào tự do lưu
thông.
Tạm nhập
Tạm nhập là hàng hoá có thể được sử dụng tại Cộng đồng mà không phải nộp thuế
nhập khẩu và thuế VAT theo một số điều kiện nhất định và phải tái xuất theo đúng tỡnh
trạng mà hàng hoỏ được nhập vào.
Đối với loại này, EU cho phép sử dụng kê khai bằng lời (nghĩa là trả lời hải quan như
trường hợp đối với hành lý xỏch tay). Tuy nhiờn, hải quan có thể yêu cầu liệt kê danh
sách hàng hoá để bổ sung cho việc khai bằng lời.

từ các đối tác khác trong cùng một khu vực thương mại được tính như là các nguyên liệu
xuất xứ, chẳng hạn như nguyên liệu và thành phẩm đều cùng nguồn gốc từ các nước
trong ACP, hay trong cùng khu vực Hiệp định châu Âu
Thuế quan
Hàng năm Uỷ ban châu Âu sẽ đăng trên Công báo về biểu thuế quan hưởng theo
Tối huệ quốc (MFN) đối với tất cả danh mục hàng hoá nhập khẩu vào Cộng đồng. Danh
mục thuế hải quan của EU gồm 10.399 dũng thuế cú 8 chữ số. Mức thuế trung bỡnh cỏc
mặt hàng ngoài nụng sản (theo định nghĩa của WTO) giảm từ 4,5% năm 1999 xuống cũn
4,1% năm 2002. Đối với nụng sản giảm trung bỡnh từ 17,3% năm 1999 xuống cũn
16,1% năm 2002. Nếu so sỏnh mức tối thiểu và tối đa thỡ mức thuế cao nhất vẫn là thịt,
sản phẩm sữa, ngũ cốc, rau hoa quả chế biến và khụng chế biến. Đối với nông sản, mức
thuế từ 0% đến 470,8% (gạo); đối với hàng phi nông sản mức thuế từ 0% đến 36,6%.
Thuế nhập khẩu được áp dụng đối với tất cả các sản phẩm nhập khẩu vào EU. Thuế
hải quan chung của EU được xây dựng dựa trên Hệ thống Mó mụ tả hàng hoỏ hài hoà
(HS). Biểu thuế quan của EU được xác định theo Quy định EC 2658/87 ngày 23/7/1987
thống nhất áp dụng cho tất cả các thành viên EU. Về cơ bản, biểu thuế quan này được
chia thành ba nhóm nước:
- Nhóm nước có thực hiện Quy chế tối huệ quốc (MFN).
- Nhóm nước đang phát triển được hưởng đơn thuần ưu đói GSP của EU.
- Nhóm một số nước đang phát triển được hưởng ưu đói GSP kốm với những ưu
đói theo hiệp định song phương khác.
Các ngoại lệ áp dụng đối với sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm nhạy cảm, kể từ
khi hạn ngạch chuyển thành thuế quan theo kết quả Vũng đàm phán Urugoay.
Một trong các kết quả đáng chú ý của việc hỡnh thành thị trường chung là các thủ
tục thông quan đồng nhất và thuế nhập khẩu chỉ phải thanh toán tại bất kỳ cảng nào
thuộc bất kỳ nước thành viên nào của Cộng đồng. Khi hàng hoá đó vào EU thỡ khụng
cần làm thờm cỏc thủ tục thụng quan tại biờn giới nội địa. Bởi vậy, hàng hoá có thể được
vận chuyển nhanh và với giá cước rẻ trong phạm vi lónh thổ của Cộng đồng. Với chủ
trương thực hiện chính sách tự do hoá thương mại, EU tích cực thực hiện các chương
trỡnh cắt giảm dần thuế đánh vào hàng xuất nhập khẩu, tiến tới xoá bỏ hạn ngạch, xoá bỏ

phẩm được coi là không nhạy cảm thỡ được miễn thuế hoàn toàn khi nhập khẩu vào EU.
Hệ thống ưu đói thuế quan phổ cập này cũn dành ưu đói hơn đối với một số sản phẩm
xuất xứ từ các nước đang đấu tranh chống sản xuất và buôn bỏn ma tuý. Có quy chế đặc
biệt dành cho những nước nếu có yêu cầu nhằm thực hiện những tiêu chuẩn về lao động
theo Công ước quốc tế hoặc tiêu chuẩn của Tổ chức quốc tế về rừng.
Nhiều nước được hưởng ưu đói GSP đồng thời cũng được hưởng ưu đói theo các
hiệp định và quy chế khác. Tuy nhiên, các nước chậm phát triển nhất được hưởng ưu đói
nhiều nhất theo GSP do sỏng kiến ‘Mọi thứ trừ vũ khớ’ của EU; những nước nào nằm
trong khu vực ACP lại được hưởng thêm ưu đói theo Hiệp định đối tác ACP-EU. Có 65
nước chỉ được hưởng GSP đơn thuần mà không được hưởng thêm các ưu đói nào khỏc là
những nước đang có nền kinh tế chuyển đổi thuộc Liên-xô cũ và các nước đang phát
triển nằm ngoài ACP, thuộc Mỹ La tinh và khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam.
3 - Đỏp ứng cỏc yờu cầu của EU:
Yêu cầu thị trường đóng vai trò rất quan trọng đối với chất lượng sản phẩm, là trách
nhiệm của nhà sản xuất đối với môi trường và xã hội. Pháp luật được lập ra để bảo vệ về
sức khoẻ, an toàn và ràng buộc trách nhiệm pháp lý các nhà xuất khẩu và nhập khẩu, yêu
cầu của thị trường được mô tả như là sự lựa chọn của nhà sản xuất hoặc xuất khẩu có thể
gắn liền cơ bản nhận thức chung và sự tự nguyện trưng bày những sản phẩm của họ, quá
11
trình sản xuất hoặc hệ thống quản lý. Khi nhà xuất khẩu theo đuổi yêu cầu thích đáng
của thị trường, điều đó sẽ mở ra một thị trường mới với 450 triệu khách hàng tiềm năng.
Tiêu chuẩn
Tiêu chuẩn là thuật ngữ áp dụng cho sản xuất hàng hoá, dịch vụ và hệ thống trên toàn
thế giới. Mục tiêu của tiêu chuẩn là bảo đảm sự an toàn và hiệu suất.
Các tiêu chuẩn được cả doanh nghiệp và người tiêu dùng quan tâm. Họ đảm bảo các
bộ phận máy móc, phụ tùng được sản xuất ở các nước khác nhau đều tương thích, bảo
đảm hệ thống tương hỗ và giảm chi phí cho sản xuất và lưu kho. Đây chính là lý do tạo
thành yêu cầu của thị trường.
4 - Khung pháp lý quốc tế về rào cản kỹ thuật đối với thương mại
Các nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển thường phàn nàn về các rào cản kỹ

tham khảo.
Sản phẩm công nghiệp
12
Dán mác CE
Mục tiêu của dán mác CE là để áp đặt yêu cầu chung cho các nhà sản xuất chỉ được
đưa những sản phẩm an toàn vào thị trường EU. Dấu CE dùng bắt buộc cho các sản
phẩm trong danh mục của các Chỉ thị Tiếp cận mới và áp dụng trên diện rộng đối với các
sản phẩm công nghiệp như máy móc, trang thiết bị điện áp thấp, đồ chơi, trang bị an toàn
cá nhân, thiết bị y tế, và những thứ khác. Có ba nhóm sản phẩm trong phạm vi của các
Chỉ thị Tiếp cận mới, và những sản phẩm muốn vào thị trường EU phải đóng dấu CE:
- Tất cả các sản phẩm mới dù được sản xuất trong EU hoặc ở các nước thứ ba;
- Các sản phẩm đã qua sử dụng hoặc đồ second-hand nhập khẩu từ các nước thứ
ba;
- Các sản phẩm đã biến đổi về căn bản và được quy định trong các Chỉ thị như
những sản phẩm mới.
Dấu CE không áp dụng đối với đồ gỗ, hàng dệt may, và đồ da và nhiều sản phẩm
khác.
Các Chỉ thị liên quan đến dấu CE
Nhóm sản phẩm/ chất độc hại
Vật liệu xây dựng
Các hệ thống đường dây cáp thiết
kế để chở người
Hiệu suất của các nồi hơi sưởi ấm
trung tâm đốt bằng nhiên liệu lỏng
hoặc khí ga
Hiệu suất năng lượng của các tủ
lạnh dùng điện trong các hộ gia
đình, các máy làm lạnh và những
kết hợp với chúng
Khả năng tương thích điện từ

93/42/EEC & 2000/70/EC
98/79/EC
90/384/EEC
89/686/EEC & 93/68/EEC
& 93/95/EEC
97/23/EC
94/25/EC ( đang điều chỉnh)
1999/5/EC
13
dùng trong ngành viễn thông
Các bình áp lực đơn giản
Đồ chơi
Bao bì và chất thải bao bì
Thiết bị hàng hải
Hệ thống đường ray cao tốc và qui
ước trên cao xuyên Châu Âu.
87/404/EEC &90/488/EEC
88/378/EEC
94/62EC
96/98/EC
69/48/EC & 2001/16/EC

Việc gắn mác CE thể hiện sản phẩm đáp ứng được các qui định liên quan của EU
đối với nhà sản xuất trong các vấn đề an toàn, sức khoẻ, bảo vệ môi trường và bảo vệ
người tiêu dùng. Mác CE gắn vào sản phẩm là một tuyên bố của người có trách nhiệm
rằng sản phẩm đó tuân thủ tất cả các qui định liên quan của EU. Các nước thành viên
không thể từ chối việc thâm nhập thị trường của các sản phẩm được gắn mác CE, trừ phi
họ có bằng chứng để phán quyết rằng sản phẩm đó có yếu tố không phù hợp.
Thủ tục cho việc gắn mác CE có thể khác nhau theo từng Qui định và từng loại sản
phẩm, phụ thuộc chủ yếu vào mức độ rủi ro/nguy cơ về mặt an toàn liên quan đến việc

HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point)
Hệ thống phân tích mối nguy hiểm và xác định điểm kiểm soát trọng yếu là một hệ
thống sản xuất và kiểm tra dựa trên cơ sở khoa học nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm.
Hệ thống HCCP áp dụng đối với toàn bộ ngành công nghiệp chế biến thực phẩm trong
EU, từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Qui định về vệ sinh thực phẩm (93/43/EC)
ghi rõ rằng: ‘các công ty thực phẩm sẽ xác định từng khía cạnh trong các hoạt động của
mình có liên quan đến vấn đề an toàn thực phẩm và đảm bảo rằng các trình tự an toàn đã
được thiết lập, áp dụng, duy trì và tái xét trên cơ sở hệ thống HACCP’.
Các nguyên tắc cơ bản của HACCP
- Phân tích các nguy cơ độc hại: xác định tất cả các nguy cơ độc hại có thể xảy ra đối
với sản phẩm trong suốt vòng đời của sản phẩm;
- Xác định các điểm kiểm soát quan trọng, tức là các điểm trong quá trình sản xuất
thực phẩm – từ lúc còn sống đến lúc tiêu dùng- mà tại đó sự độc hại tiềm tàng có thể
được kiểm soát hoặc được loại trừ.
- Thiết lập các biện pháp phòng ngừa với các giới hạn quan trọng đối với mỗi điểm
kiểm soát;
- Xây dựng các trình tự / thủ tục để theo dõi các điểm kiểm soát quan trọng và lập kế
hoạch hành động cho các trường hợp khi có một giới hạn quan trọng nào đó không được
đảm bảo.
- Ban hành một trình tự/ thủ tục thẩm định, bao gồm cả các kiểm nghiệm và trình tự
bổ sung để kiểm tra tính hiệu quả và hiệu lực của hệ thống HACCP; và
- Văn bản hoá tất cả các trình tự/ thủ tục và các kết quả kiểm nghiệm.
Các công ty trong EU cũng có thể yêu cầu các nhà cung cấp ngoài EU sản xuất theo
một hệ thống HACCP. Các nhà nhập khẩu thực phẩm trong EU sẽ không buôn bán với
các công ty chế biến thực phẩm ở các nước đang phát triển nếu họ không có hệ thống
HACCP. Các công ty có thể kiếm tìm trợ giúp của các tổ chức có uy tín để giúp đỡ họ
triển khai một hệ thống HACCP và để được chứng nhận HACCP.
Trong ngành thuỷ sản, các nhà xuất khẩu buộc phải tuân thủ Qui định 91/493/EEC
và Qui định 91/492/EEC để có thể nhận được sự phê chuẩn cho phép xuất khẩu thủy sản
sang EU. Một viện kiểm nghiệm được Uỷ ban châu Âu uỷ quyền thực hiện việc thanh tra

như vậy có thể gây ra nhầm lẫn cho người tiêu dùng;
- Thời hạn sử dụng được thể hiện bằng những từ “Dùng tốt nhất trước ” hoặc “Dùng
tốt nhất trước khi kết thúc ngày .”;
- Những điều kiện cất trữ đặc biệt hoặc những điều kiện sử dụng;
- Hướng dẫn sử dụng;
- Danh mục thành phần, theo thứ tự trọng lượng. Những ngoại lệ quan trọng bao gồm
nước bổ sung trong thức ăn được hoàn nguyên từ chất cô đặc và phomát được điều chỉnh
bởi các quy định đặc biệt;
- Một vài thành phần cần phải có thông báo cụ thể trên nhãn mác (nghĩa là GMO, khí
đóng gói, chất làm ngọt, aspartame, polyol, quinine và caffein);
- Những thành phần khác có thể được thay thế bằng tên của chủng loại chứ không
cần tên cụ thể (tức là chất béo, dầu, cá, phomát, gia vị, thảo mộc, chất gôm gốc, đường,
dextrose, glucose, syrup, protein sữa, bơ ca cao, quả rắc đường kính, rau và rượu vang);
- 2001/101/EC bổ sung chủng loại thịt và định nghĩa thuật ngữ “thịt” cho việc gắn
nhãn mác đối với những sản phẩm từ thịt được đóng gói sẵn;
- Khối lượng những thành phần hoặc chủng loại thành phần (QUID);
- Khối lượng tịnh của thực phẩm trước khi đóng gói được thể hiện dưới dạng các đơn
vị đo lường (lít, xăngtilít, mililít, kg hoặc gram)
- Độ cồn thực của đồ uống chứa trên 1,2% lượng cồn;
- Đánh dấu để xác định lô hay mẻ sản xuất của thực phẩm, được xác định bởi nhà sản
xuất, chế tạo hoặc đóng gói hay người bán hàng đầu tiên ở EU;
- Các công đoạn xử lý đã được thực hiện với những chỉ dẫn cụ thể cho thực phẩm đã
qua chiếu xạ và thực phẩm đông lạnh sâu.
Những thông tin bổ sung đối với sản phẩm đông lạnh
- Chỉ dẫn rõ ràng “làm lạnh nhanh” và “Không làm lạnh lại sau khi làm tan giá”.
- Hạn sử dụng;
- Thời hạn cất trữ tối đa sau khi mua;
16
- Nhiệt độ bảo quản và/hoặc thiết bị bảo quản;
- Thông tin về mẻ/đợt sản xuất.

Trong năm 2000, EU thiết lập một logo đặc biệt cho các sản phẩm sản xuất theo
phương pháp hữu cơ theo đó cho thấy những sản phẩm đó nằm trong cơ chế giám sát của
EU. Mục tiêu của nó là nhằm tăng cường độ tin cậy của các sản phẩm hữu cơ đối với
người tiêu dùng và có sự xác định sản phẩm tốt hơn trên thị trường. Logo này không
phải là bắt buộc và người sản xuất sử dụng nó trên cơ sở tự nguyện khi những sản phẩm
của họ đáp ứng các điều kiện theo yêu cầu.
EU đã uỷ quyền cho một vài tổ chức quốc gia xác nhận các sản phẩm hữu cơ, ví dụ
như Naturland ở Đức và SKAL ở Hà Lan. Nhu cầu ngày càng tăng đối với sản phẩm hữu
cơ ở EU có ý nghĩa quan trọng đối với những nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển
vì các nhà bán lẻ ngày càng dành nhiều vị trí cho những sản phẩm được xác nhận là sản
phẩm hữu cơ.
17
Có những logo thể hiện chất lượng sinh thái được kiểm soát chặt chẽ của các sản
phẩm. Các trang web của các tổ chức này cung cấp thông tin về quy trình, những yêu cầu
và phí xác nhận sản phẩm. Các nhà xuất khẩu nên ghi nhớ rằng những cơ quan xác nhận
quốc gia này có thể đặt ra quy định cho những sản phẩm hữu cơ ngoài những luật lệ hài
hoà của EU. Một nguồn thông tin hữu ích nữa là “Liên đoàn quốc tế các phong trào nông
nghiệp hữu cơ” (IFOAM).
Các sản phẩm hữu cơ xuất khẩu sang EU phần lớn được điều chỉnh bằng Quy định
EU số 2092/91. Quy định này định nghĩa chi tiết các yêu cầu cho sản phẩm nông nghiệp
hoặc thực phẩm bao gồm cả những luật lệ liên quan đến phương thức sản xuất hữu cơ.
Những luật lệ này không chỉ xác định phương thức sản xuất nông nghiệp cho trồng trọt
và chăn nuôi mà còn điều chỉnh vấn đề gắn nhãn mác, chế biến, thanh tra và marketing
các sản phẩm hữu cơ trong EU và việc nhập khẩu các sản phẩm hữu cơ từ các nước
ngoài EU.
6- Thực tiễn Nông nghiệp tốt và EUREGAP
Nhằm giải quyết mối quan ngại ngày càng gia tăng của người tiêu dùng về tác
động của nông nghiệp đối với an toàn thực phẩm và môi trường, nhóm các nhà sản xuất
bán lẻ hàng đầu châu Âu EUREGAP đã phát triển tiêu chuẩn “EUREGAP Rau và Quả”
cho việc xác nhận Thực tiễn Nông nghiệp tốt (GAP) cho rau và quả. EUREGAP bao

những biện pháp cụ thể cần tiến hành. Mục tiêu chính của chương trình bao gồm việc
đưa những đóng góp của doanh nghiệp và lợi ích người tiêu dùng vào những mô thức
tiêu dùng và sản xuất bền vững hơn.
Có khá nhiều danh mục những sản phẩm chịu sự điều chỉnh của luật pháp về môi
trường bắt nguồn từ chương trình hành động khá nhiều. Những tác động trước mắt từ
quy định này đối với các nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển là những biện pháp
bắt buộc với mục đích làm giảm khối lượng rác thải đóng gói và để tái sử dụng và tái chế
nguyên vật liệu đóng gói. Một biện pháp môi trường quan trọng khác là luật pháp liên
quan đến việc sử dụng những chất nguy hiểm nhất định như chì, thuỷ ngân, penta
BDE…trong các sản phẩm điện tử, bao gồm cả đồ chơi.
Việc áp dụng các yêu cầu thị trường tự nguyện cũng cho thấy một xu hướng ngày
càng tăng về thực hiện quản lý môi trường và triển khai các hệ thống đánh giá, và tầm
quan trọng ngày càng tăng các dấu hiệu phân biệt cho một loạt các sản phẩm cho người
tiêu dùng châu Âu. Hơn nữa, những sản phẩm rất không thân thiện với môi trường sẽ bị
cấm vào thị trường châu Âu.
Hệ thống quản lý môi trường
Cách tốt nhất để chứng tỏ sự quan tâm đến môi trường ở cấp công ty là phải phát
triển và tuân theo hệ thống quản lý môi trường ( EMS). EMS có thể được cấp chứng chỉ
nếu nó tuân theo tiêu chuẩn của hệ thống quản lý môi trường quốc tế EN/ISO 14001-
ISO, Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế, đã phát triển một loạt các tiêu chuẩn tự nguyện và
những hướng dẫn trong lĩnh vực quản lý môi trường, được biết đến như chuỗi EN ISO
14000. Tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000 được dùng như một mô hình cho việc thực hiện
EMS của gần 37.000 tổ chức trên hơn 100 nước.
Các đặc tính của tiêu chuẩn quản lý môi trường ISO 14000:
• Việc xin cấp giấy chứng nhận là tự nguyện;
• Bộ Tiêu chuẩn mô tả tỉ mỉ những điều cần làm;
• Chính sách môi trường cần được xác lập;
• Phải có chương trình đào tạo nhân viên về các vần đề quản lý môi trường;
• Kế hoạch, trách nhiệm và các thủ tục, quy trình cần được làm thành văn bản;
• Các cơ chế cho hoạt động kiểm tra, chấn chỉnh và ngăn ngừa cần được thiết lập;

Medioambiente” (Tây Ban Nha), “Umweltzeichen” (Áo), và “NF environment” của
Pháp.
Tiêu chí đánh giá các tác động môi trường của sản phẩm lên từng phần của vòng
đời của nó bao gồm cả tiêu chí hoạt động, trong số những tiêu chí khác trong vấn đề tiêu
thụ năng lượng, tạo chất thải, quản lý rừng bền vững và vấn đề ô nhiễm nguồn nước,
không khí, tiếng ồn, và ô nhiễm đất. Các nhà sản xuất hay xuất khẩu trong các nước
đang phát triển đựơc giảm 25% phí khi đăng ký áp dụng nhãn sinh thái.
Các nhóm sản phẩm đang áp dụng nhãn sinh thái EU:
EU
giành ưu tiên cao cho quản lý bền vững các nguồn tài nguyên rừng. Quan điểm của EU
là tất cả các loại gỗ, bao gồm gỗ phi nhiệt đới, thậm chí cũng sẽ được quản lý dưới cùng
một chế độ, nhưng điều này vẫn chưa được thực hiện. Bên cạnh đó, trọng tâm của quản
lý rừng bền vững đã được đưa vào hệ thống cấp chứng nhận tự nguyện về gỗ và các sản
phẩm gỗ. Chứng nhận về gỗ đang là sự quan tâm của các nhà sản xuất, các nhà kinh
Dệt may
Quần áo
Khăn trải giường
Quần áo mặc trong nhà
Trồng vườn
Máy cải tạo đất
Bạn tự làm
Phủ sàn cứng
Sơn và vecni
Bóng đèn
Đồ gỗ
Thiết bị điện tử
Máy tính cá nhân
Máy tính xách tay
Vô tuyến
Giày dép

Chứng chỉ FSC là chứng chỉ nổi tiếng đã được quốc tế và nhiều tổ chức tiêu dùng
và môi trường công nhận. Mới đây, hơn 8 triệu héc ta rừng đã được cấp chứng chỉ FSC
trên thế giới. Chứng chỉ FSC cũng bao trùm lên “dây chuyền giám hộ” gỗ, đảm bảo là
gỗ đã được cấp chứng chỉ FSC không đựơc trộn với gỗ được sản xuất theo cách không
bền vững ở bất kỳ khâu nào trong suốt quá trình vận chuyển hoặc chế biến. Tất cả gỗ có
chứng chỉ FSC có thể được truy tìm lại nguồn gốc nếu cần thiết.
Hầu hết các bên trong ngành lâm nghiệp xem việc cấp chứng chỉ là cách mở đường,
và đây là điều quan trọng đối với các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển để có
thể tiếp cận thị trường. Ngày càng tăng các chủng loại đồ gỗ ngoài vườn trong các cửa
hàng bán dụng cụ, vật liệu tự làm ở Châu Âu. Thị trường Tây Bắc Âu đặc biệt là Anh,
Bỉ, Hà Lan và Đức đang trở nên có nhận thức mạnh mẽ việc cấp chứng chỉ. Các nhà
buôn có khuynh hướng chỉ yêu cầu các chứng chỉ rừng, trong khi các nhà bán lẻ có
khuynh hướng yêu cầu thêm các nhãn khác. Các nhóm doanh nghiệp đã cam kết chỉ mua
những sản phẩm đã được cấp chứng chỉ sau một thời hạn nhất định.
Các chương trình chứng nhận khác trong lâm nghiệp bao gồm The Pan-European
Forest Certification Scheme (PEFC) và một nhãn khác được thiết lập bởi ITTO, Tổ chức
gỗ nhiệt đới quốc tế. ITTO xúc tiến các tiêu chuẩn lâm nghiệp trong các nước thành viên
thông qua một loạt các sáng kiến, gồm Hiệp định gỗ quốc tế, ITTA.
9 - Quy tắc ứng xử
Đạo đức kinh doanh, tính chính trực và trách nhiệm xã hội đã trở thành điều quyết
định quan trọng về chất lượng của một công ty. Các nhóm lợi ích, các chính phủ, các tổ
chức giáo dục, các hiệp hội ngành hàng khuyến khích các công ty và toàn bộ các ngành
thi hành quy tắc ứng xử để cải tiến các điều kiện về lao động của nhà cung cấp ở các
nước đang phát triển, vì vậy các công ty đang thiết lập các nguyên tắc kinh doanh tổng
thể hoặc quy tắc ứng xử của chính họ, theo các hướng dẫn được khẳng định bởi các tổ
chức này. Quy tắc ứng xử là một tuyên bố chính thức những giá trị và tập quán kinh
doanh cuả một công ty, nó phản ánh lập trường của một công ty đối với đạo đức kinh
doanh, các điều kiện về lao động và môi trường, về cách thức công ty đóng góp một
cách tích cực cho các yếu tố này. Bên cạnh đó, công ty phải ban hành các cơ chế bảo
đảm, đã được thiết kế để đánh giá những tác động thực của Quy tắc ứng xử.

cấp chỗ ở tốt một cách thích đáng. Các đồn điền và các nhà máy phải tuân thủ các tiêu
chuẩn tối thiểu về sức khoẻ, an toàn và môi trường, và không có lao động trẻ em hay lao
động cưỡng bức. Nếu các trang trại nhỏ, các đồn điền và các nhà máy tuân thủ các tiêu
chuẩn này, tổ chức thương mại công bằng sẽ dành cho các sản phẩm của họ một giá
“công bằng”. Giá này sẽ giúp họ và gia đình họ có một cuộc sống đầy đủ. Các tổ chức
thương mại công bằng cũng giúp người sản xuất trong việc phát triển sản phẩm, giáo dục
và đào tạo, tiếp thị, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm.
Nhãn hiệu thương mại công bằng (Fair trade Mark)
Các sản phẩm có thể được cấp Các sản phẩm đang trong quá trình
nhãn hiệu thương mại công bằng xem xét, phát triển
cà phê và chè hoa quả nhiệt đới (kể cả hoa quả
khô)
cocoa và chocolate các sản phẩm bông
mật ong và đường gạo, hạt các loại và dầu
nước quả trà dược thảo và trà quả
hoa quả tươi rượu vang
snacks và bánh qui đồ thủ công mỹ nghệ
Trong năm 2003 hơn 360 nhóm các nhà sản xuất ở 40 quốc gia được cấp chứng chỉ
thương mại công bằng đã hưởng lợi từ chương trình này.
12 - Quản lý chất lượng
Các tiêu chuẩn quản lý chất lượng, cũng giống như tiêu chuẩn quản lý môi trường
ISO 14001 và SA 8000, liên quan đến quản lý công ty. Điều này tương phản với các tiêu
chuẩn, nhãn hiệu, ký hiệu khác vốn liên quan đến sản phẩm hay quá trình sản xuất. Tiêu
22
chuẩn quản lý chất lượng không mang tính bắt buộc cho việc thâm nhập thị trường EU,
nhưng là một yêu cầu công nghiệp trong một số ngành/lĩnh vực. Điều này rõ ràng góp
phần xây dựng hình ảnh của công ty trên thị trường.
ISO 9000:2000
Các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quan trọng nhất là các tiêu chuẩn theo ISO
9000:2000. Cùng với ISO 14000 các tiêu chuẩn này được gọi là các tiêu chuẩn “hệ thống

• ISO 9000:2000 (QMS – các qui tắc cơ bản và từ ngữ)
• ISO 9001:2000 (QMS – các yêu cầu)
• ISO 9004:2000 (QMS – Hướng dẫn nâng cao thành tích)
Các tiêu chuẩn ISO có thể là một nguồn thông tin về bí quyết công nghệ quan trọng
đối với các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển, góp phần nâng cao năng lực xuất
khẩu và cạnh tranh của họ trên thị trường thế giới. Do khan hiếm các nguồn lực, các nhà
xuất khẩu ở các nước đang phát triển có thể gặp khó khăn khi tham gia ISO. Để giúp các
nhà xuất khẩu hưởng lợi từ việc tiêu chuẩn hoá quốc tế, ISO sẵn sàng dành cho họ các
mức phí thành viên ưu đãi. ISO còn thành lập một uỷ ban chính sách, DEVCO, quan tâm
23
đặc biệt đến nhu cầu của các nước đang phát triển. Hội viên DEVCO gồm khoảng 100 tổ
chức tiêu chuẩn quốc gia của các nước công nghiệp hoá cũng như của các nước đang
phát triển và phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chuyên trách của Liên hiệp quốc và với
Uỷ ban kỹ thuật điện quốc tế.
Tóm lại, khung pháp lý về thị trường giữa Việt Nam và EU đã được mở hoàn toàn kể
từ 11/ 01/ 2007. Một thời kỳ mới với nhiều cơ hội và thách thức được đặt ra. Quan trọng
và có tính quyết định là hoạt động của các doanh nghiệp.

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status