trờng đại học s phạm Hà Nội
Khoa lịch sử
&
Nguyễn Văn Biểu
chuyên ngành: lịch sử việt nam
Đề tài:
BC U TèM HIU VN HONG SA
TRONG QUAN H VIT NAM TRUNG QU C
Hà Nội - 2009
1
Chương 1
kh¸I qu¸t vÒ hoµng sa
1.1. Địa lý tự nhiên
1.1.1. vị trí
Vị trí địa lí của Hoàng Sa nằm vào khoảng giữa chiều Bắc Nam của Việt
Nam, nó có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đất nước ta, nó như một phần cơ thể
không thể thiếu trong một con người. Tầm quan trọng của nó cả trong quả khứ lịch
sử, hiện tại và trong tương lai. Với tầm quan trong như vậy vấn đề đảm bảo an ninh,
đặc biệt là quân đội để mà giữ gìn từng tấc đất của tổ quốc được nước Công Hòa Xã
Hội Việt Nam đặc biệt ưu tiên. Đó là việc trích hàng năm cho ngân sách Quốc Phòng
“Khoảng 1,8%”(tương đương với khoảng 27.000 tỷ đồng)
1
, với vị trí địa lý chiến
lược như vậy nên việc bảo vệ các đảo, quần đảo được ngày một nâng cấp.
Mới đây, đầu tháng 12-2009 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong chuyến
thăm nước Nga đã mua Tàu ngầm hiện đại và máy bay để trang bị cho quốc phòng
Việt Nam. Các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát
biểu “ta có đủ khả năng để bảo vệ đất nước”…Trong số các đảo, quần đảo trên
Biển Đông có hệ thống quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lớn nhất nhưng lại
nằm rải rác. Có những chỗ quy tụ lại những nhóm đảo nhỏ.
lớn của đất nước ta để từ đó ta có thể thu từ đây rất nhiều nguồn lợi: Dầu mỏ,
khoáng sản, đánh bắt cá, hàng hải…mà nhiều nước khác không có được, hoặc
do không có biển mà không có đặc trưng trên.
Đảng và nhà nước ta rất chú trọng đến tầm quan trọng của biển đảo cả về
mặt kinh tế cũng như chính trị và an ninh quốc gia. Nhưng vấn đề hoạch định phân
giới trên biển như thế nào là một trong những vấn đề rất phức tạp, các nước Đông
Nam Á Hải đảo và cả các nước Đông Á vì món lợi khổng lồ này mà cũng muốn
tranh chấp chia sẻ quyền lợi một cách thiếu hợp pháp thiếu khách quan, do vậy đây
là một vấn đề nóng bỏng việc tranh chấp xung đột vẫn thường xuyên xảy ra làm
cho các nhà lãnh đạo, các cơ quan có chủ quyền không ít đau đâu.
3
Nằm cạnh một nước lớn, với âm mưu và chủ nghĩa bành trướng “Đại
Hán”, Trung Quốc ln có tham vọng mở rộng lãnh thổ xuống phía nam (Đơng
Nam Á), những mấy nghìn năm nay tham vọng đó đã bị dập tắt và chặn đứng tại
Việt Nam. Đó là những chiến cơng oanh liệt mà ơng cha ta đã làm nên một trang
sử sáng ngời về chống: Ngun-Mơng, Chống Minh-Thanh…đã ghi vào lịch sử
nước nhà những trang sử hào hùng nhất. Nghệ thuật qn sự được vun đắp thêm
về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng u nước.
Như vậy, Hồng sa có tầm quan trọng rất to lớn với nước ta, là cửa ngõ
nhìn ra Biển Đơng và Thái Bình Dương là con dường quan trọng thứ ba mà ta
có thể lưu thơng với Thế giới và bên ngồi sau đường bộ và đường hàng khơng.
Nhung nó là con đường thuận lợi và dễ dàng nhất để giao lưu quốc tế.
1.3. Tên gọi theo người Việt Nam
Các tư liệu của Việt Nam cũng như của Phương Tây và ngay cả một
số tư liệu của Trung Quốc cũng thật hết sức rõ ràng, cho biết quá trình chiếm
hữu thật sư,ï hoà bình và thực thi liên tục chủ quyền của Việt Nam trên quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một thực tế, khác hẳn với những tư liệu mà
Trung Quốc đã viện dẫn để cố suy diễn chứng minh chủ quyền của mình .
Phân tích những tư liệu của Việt Nam, đối chiếu với những tư liệu của
Trung Quốc được viện dẫn trong bộ sưu tập "Ngã Quốc Nam Hải Chư Đảo Sử
đồ (Viện Hán Nôm Hà Nội, ký hiệu A2628) của Đỗ Bá Công Đạo, Chính
Hoà năm thứ 7 (1686) (2.7) và Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn năm
1776 .
5
Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ có bản
đồ là tài liệu xưa nhất, đã ghi phần chú thích của bản đồ với nội dung : "Giữa
biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa), dài tới 400 dặm,
rộng 20 dặm Từ cửa Đại Chiêm, đến cửa Sa Kỳ mỗi lần có gíó Tây Nam thì
thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi giạt ở đấy; gió Đông Bắc thì
thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi giạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả.
Hàng hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào cuối mùa Đông đưa 18
chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng
đạn. Từ cửa Đại Chiêm vượt biển đến đấy thì phải một ngày rưỡi. Từ cửa Sa
Kỳ đến đấy thì phải nửa ngày”
Khoảng cách từ cửa Đại Chiêm đến Bãi Cát Vàng (chữ Hán Việt là
Hoàng Sa) một ngày rưỡi đường, cũng như từ cửa Sa Kỳ nửa ngày đường là
ghi lộn, vì tất cả các tài liệu khác đều ghi 3 ngày đêm. Vả lại ngoài khơi cửa
Đại Chiêm cũng như cửa Sa Kỳ không có đảo nào dài và có những đặc điểm
mà tài liệu đã mô tả trên , ngoài Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa tức Paracel.
Còn tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn, năm 1776 là
tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa. Lê Qúi Đôn được Chúa Trònh ở
Đàng Ngoài cử vào Phú Xuân năm 1775 để lo sắp đặt kế hoạch bình đònh hai
trấn Thuận Hoá và Quảng Nam mới được quân Chúa Trònh đánh chiếm của
Chúa Nguyễn từ năm 1774. Đến năm 1776, ông lãnh chức Hiệp Trấn và viết
ra sách Phủ Biên Tạp Lục. Phủ Biên Tạp Lục gồm 6 quyển, trong đó ở
quyển 2 có 2 đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của
Đại Việt tại Hoàng Sa như sau:
Một thực tế quan trọng: Phủ Biên Tạp Lục đã chép rất rõ "Hoàng Sa ở
gần đất Liêm Châu của Trung Quốc". Sự thực cũng đã rành rành khi Phủ Biên
Tạp Lục ghi rất chi tiết, rất rõ những hoạt động của đội Hoàng Sa ở phía Bắc, có
Nghóa từ năm 1602. Sang thời Tây Sơn đổi thành Hoà Nghóa, đến năm 1801
đổi thành trấn. Đến Minh Mạng thứ 10 (1829) đổi thành tỉnh . Minh Mạng
thứ 13 (1832) tỉnh Quảng Nghóa lại có phủ mang tên cũ là Tư Nghóa.
Phan Huy Chú viết về phủ Tư Nghóa thời Lê thay vì Quảng Nghóa và dùng
các đòa danh cũ cũng thời Lê như Nghóa Giang (huyện), Bình Dương (huyện).
Điều này chứng tỏ Phan Huy Chú sử dụng tài liệu đòa dư của Lê Trònh ở Bắc
Hà. Điều đó cũng hợp lý, vì tác giả biên soạn công trình này hồi đầu triều
Nguyễn, trong thời gian Phan Huy Chú còn đang lân đận khoa cử chỉ đậu Tú tài
trong 2 kỳ thi. Đến năm Minh Mạng thứ 2 (1821), Phan Huy Chú mới dâng bộ
sách này cho vua Minh Mạng và cho biết ông đã soạn trong 10 năm. Trong khi
Hoàng Việt Đòa Dư Chí đã cập nhật hoá các đòa danh thời Chúa Nguyễn đặt như
huyện Chương Nghóa (ghi chú là cựu Nghóa Giang) huyện Bình Sơn (cựu Bình
Dương), song lại sử dụng đòa danh Tư Nghóa Phủ.
Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự
như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn cuối thế kỷ XVIII, chỉ khác ở
điểm :“Tiền Vương Lòch Triều trí Hoàng Sa đội ” thay vì “Tiền Nguyễn thò
triù Hoàng Sa đội” - Bởi tác giả viết hai cuốn sách trên sống dưới triều đại
Nguyễn, khác với Lê Qúi Đôn sống dưới triều đại Lê Trònh ở Bắc Hà.
Lòch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú là một công trình
biên khảo bách khoa lòch sử lớn gồm 49 quyển, ghi chép đủ mọi phép tắc của
các triều đại Việt Nam.
8
Chính Dư Đòa Chí quyển 5, ở phần Quảng Nam, có nói đến phủ Tư
Nghóa. Hầu hết nội dung nói về phủ Tư Nghóa là nói đến Hoàng Sa. Chứng tỏ
Hoàng Sa rất quan yếu đối với phủ Tư Nghóa hồi bấy giờ. Qua nội dung ông
viết, thấy rất rõ ông đã sử dụng sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn, đã
tóm gọn bớt nhiều nội dung của Phủ Biên Tạp Lục. Trong Văn Tòch Chí,
Phan Huy Chú cũng đã kế thừa Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn. Ngoài tả
cảnh vật của Hoàng Sa, ông cũng cho biết: “Tiền Vương Lòch Triều (các
chúa Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa 70 tên cũng lấy dân An Vónh luân phiên
đội Hoàng Sa kiêm quản.
Trong “Đại Nam Thực Lục Chính Biên” (in năm 1848) có 11 đoạn viết về
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể
về sự thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Một số đoạn tiêu biểu được nói như sau, như: “Đại Nam Thực Lục” (Chính
Biên): đệ nhất kỷ, quyển 50 (đời vua Gia Long), chép rất rõ ràng:“tháng
giêng năm t Hợi (1815) sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra
đảo Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình ” .
Một đoạn khác trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên, chép: “Năm Bính
Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816), vua Gia Long ra lệnh cho thủy quân
và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình ”.
Tài liệu q giá nhất, cũng thuộc Triều Nguyễn là Châu bản triều
Nguyễn (thế kỷ XIX), ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các
đình thần các bộ như bộ Công, bộ Hộ và các cơ quan khác hay những dụ của
các nhà vua về việc thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng
Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ hoạ đồ Hoàng Sa, cắm
cột mốc Cũng có nội dung bản tấu cho biết những hoạt động hàng năm trên
10
bò hoãn tháng khởi hành như năm Minh Mạng thứ 19 (1838) thay vì hạ tuần
tháng 3 khởi hành, mãi tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành, hoặc năm
Thiệu Trò thứ 5 (1845) có chỉ hỗn việc do thám năm 1846.
Trong châu bản triều Nguyễn thế kỷ XIX, có những đoạn nói về chủ
quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa sau nay, “Dụ ngày 18 tháng 7
năm Minh Mạng thứ 16 (1835) thưởng phạt những người công tác tại Hoàng
Sa. Trong Châu bản tập Minh Mạng số 54, trang 92 có đoạn viết vua Minh
Mạng ra chỉ dụ giao cho Bộ Công phạt cai đội Hoàng Sa Phạm Văn Nguyên
80 trượng vì tội trì hoãn thời gian công tác hay phạt 80 trượng giám thành
Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiệm, Nguyễn Văn Hoằng chưa chu tất việc vẽ
bản đồ Hoàng Sa. Trong khi đó lại thưởng dân binh đội Hoàng Sa Võ Văn
Hùng, Phạm Văn Sanh, mỗi người một quan tiền vì đã có công hướng dẫn hải
này. Trước miếu có xây bình phong". (quyển 3, tờ 97b-98a)…
Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX
đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực
của Việt Nam. Chẳng hạn bản đồ trong Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ
Thư (có tác giả gọi là tồn tập) của Đỗ Bá Công Đạo hay bản đồ Đường Qua
Quảng Nam đời Lê do M.G Dumontier. Bản đồ Đại Nam Nhất Thống Toàn
Đồ trong Nam Bắc Kỳ Hội Đồ. Rất tiếc những bản đồ chi tiết cũng như tổng
quát vẽ các đảo Hoàng Sa thời nhà Nguyễn nhất là thời Vua Minh Mạng do
thời tiết khắc nghiệt cũng như chiến tranh tàn phá đã không còn lưu giữ.
3
Dẫn theo Phan Ngọc Hồ, Nguyễn Đình Hòe: “những ngun nhân gây biến động lãnh thổ
các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Tạp chí KHXH. DDHQGHN. 1998.
12
Những tư liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền của Việt Nam tại
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trong thời gian chưa có sự tranh chấp chủ
quyền, tức trước năm 1909, rất nhiều tài liệu của Trung Quốc cũng như
Phương Tây đều gián tiếp hay trực tiếp xác nhận chủ quyền của Việt Nam
tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trước tiên là Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc)
năm 1696.
Trong quyển 3 của Hải Ngoại Kỷ Sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa tức
Hoàng Sa và đã khẳng đònh Chúa Ngãi đã hành sử chủ quyền của mình trên
quần đảo này như sau:
"Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng bờ biển, chạy dài từ Đông Bắc qua
Tây Nam; động cao dựng đứng như vách tường, bãi thấp cũng ngang mặt
nước biển; mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm phải ắt tan tành; bãi cát
rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là
“Vạn Lý Trường Sa” , mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa; nếu thuyền bò trái
gió trái nước tấp vào dầu không tan nát cũng không gạo không nước, trở
thành ma đói mà thôi. Quảng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy
đảo nào mà Trung quốc suy diễn là Tây Sa và Nam Sa có nằm trong các bản
đồ cổ ấy. Tất cả các bản đồ cổ ấy đều xác đònh đảo Hải Nam là cực Nam của
biên giới phía Nam của Trung quốc.
14
Chẳng hạn như "Dư đòa đồ" đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu
nhỏ lại trong sách "Quảng Dư đồ" của La Hồng Tiên quyển 1, thực hiện năm
1561, phần cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam .
Trong Quyển "Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồ" đời Minh trong Đại Minh
Nhất Thống Chí, năm 1461, quyển đầu, đã vẽ cực nam Trung Quốc là đảo
Hải Nam. "Hoàng Minh Đại Thống Nhất Tổng Đồ" đời Minh, trong Hoàng
Minh Chức Phương Đòa Đồ của Trần Tổ Thụ, 1635, quyển thượng đã vẽ phần
cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam.
Trong "Lộ Phủ, Châu Huyện Đồ" đời Nguyên vẽ lại trong Kim Cổ Dư
Đồ của Nguyễn Quốc Phụ đời Minh, năm 1638, quyển hạ đã vẽ phần cực
nam Trung Quốc là đảo Hải Nam.
Một quyển khác “Hoàng Triều Phủ Sảnh, Châu , Huyện Toàn Đồ" đời
Thanh, khuyết danh, năm 1862, vẽ theo "Nội Phủ Đòa Đồ" gồm 26 mảnh
mang tên "Đại Thanh Trực Tỉnh Toàn Đồ" đã vẽ phần cực nam Trung Quốc
là đảo Hải Nam.
Vào cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX có các cuốn sau, có thể kể ra như sau.
"Hoàng Triều Nhất Thống Dư Đòa Tổng Đồ" trong tập Hoàng Triều
Nhất Thống Dư Đòa Tổng Đồ (khuyết danh), năm 1894, đã vẽ phần cực nam
Trung Quốc là đảo Hải Nam.
"Quảng Đông Tỉnh Đồ" trong Quảng Đông Dư Đòa Toàn Đồ, do quan
chức tỉnh Quảng Đông soạn năm 1897, có lời tựa của tổng đốc Trương Nhân
Tuấn đều không thấy bất kỳ quần đảo nào ở biển Nam Trung Hoa.
" Đại Thanh Đế Quốc", trong tập "Đại Thanh Đế Quốc Toàn Đồ" do
Thường Vụ n Thư Quán Thượng Hải, 1905, tái bản lần thứ 4 năm 1910, đã
vẽ phần cực Nam lãnh thổ Trung quốc là đảo Hải Nam.
15
Ấn Độ và Trung Quốc. Bồ Đào Nha đã thiết lập một thương điếm ở Ma Cao
(Trung Quốc) từ năm 1511 và biến Ma Cao thành thuộc đòa từ 1557. Từ đó
các thương thuyền qua lại Biển Đông và có những nhà hàng hải Bồ Đào Nha
thám hiểm vùng Biển Đông trong đó có đảo Hoàng Sa.
Nhà hàng hải Bồ Đào Nha Fernão Mendes Pinto, một giáo só Dòng Tên
đã viết cuốn sách du ký Peragrinacão (dòch ra tiếng Pháp là Pérégrination
nói về chuyến du hành năm 1545, được xuất bản tại Lisbonne năm
1614.trong đó FM., Pinto đã mô tả về quần đảo Hoàng Sa mà ông gọi là Pulo
Pracela (Pracela tiếng Bồ Đào Nha có nghóa là san hô, Pulo có nghóa là đảo,
cù lao). Cũng trong thời gian này, các nhà truyền giáo đi theo các thương
thuyền đã đến truyền đạo vào Đàng Ngoài của Việt Nam vào 1533 (đó là
giáo sĩ I-ni-khu, người đầu tiên đến Việt Nam truyền giáo).
Con đường hàng hải vào đầu thế kỷ XVI từ Malacca đến Macao đã bắt
đầu gặp trở ngại, các thương thuyền bò đụng vào các bãi đá ngầm ở Biển
Đông. Qua những cuộc khảo sát với rất nhiều nhật ký hải trình của các nhà
thám hiểm Bồ Đào Nha trong nửa sau thế kỷ XVI đã nói về một dải cao
tầng bãi đá ngầm Pullo Sissir (Baixos de Pullo Sissir), (vó độ 10) mà người ta
thấy rất nguy hiểm, càng ngày người ta càng thấy rất rộng, bao quát cả một
vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay, tương tự như những hiểu biết
của các nhà đòa lý của Việt Nam cùng thời. Càng ngày người ta càng có
nhiều thông tin song chỉ lờ mờ rằng có rất nhiều những bãi đá ngầm nổi lập
17
lờ trên mặt nước chỉ cao khoảng chừng một đầu người, luôn luôn bò sóng biển
che lấp. Ban đêm, có khi tàu thuyền đi đến sát mũi nó mới nhận ra được. Có
một số đảo phủ cỏ và muối, một số bãi cát. Những hải trình không gặp đá
ngầm thường rất hẹp và nếu người ta đi qua được yên lành thì chỉ nhờ có
Chúa phù hộ cho mà thôi. Các tác giả khuyên các nhà hàng hải chớ bao giờ
rời xa bờ biển Champa.
Cũng giống như các nhật ký hải trình, các tấm hải đồ của các nhà hàng
hải Bồ Đào Nha trong nửa sau thế kỷ XVI phản ánh một quan niệm, hiểu
Sa nằm trên các tuyến đường giao thương quốc tế lúc bấy giờ đã được người
Tây Phương coi là một vò trí chiến lược trọng yếu.
Sang thế kỷ XVIII, những cuộc khảo sát Biển Đông của các công ty
Đông n rất kỹ càng. Từ cuộc thám hiểm đo đạc của phái bộ Kergariou -
Locmacria vào những năm 1778 - 1787 ở Biển Đông đã giúp cho người
Phương Tây hiểu biết rõ hơn, trung thực hơn, không còn lờ mờ và sợ hãi như
những huyền thoại trước đây về Biển Đông. Các hải trình tương đối an toàn
hơn, tuy họ không hề phủ nhận sự nguy hiểm và hoạ đắm tàu ở khu vực quần
đảo Paracels.
Người Pháp qua các hoạt động của các giáo só, thương gia nhất là từ khi
giám mục Pigneau de Béhaine giúp Nguyễn Ánh về quân sự, đã bắt đầu
quan tâm đến Việt Nam và kế thừa những hiểu biết của người Bồ Đào Nha,
Hà Lan, đã biết rất rõ về nội tình chính trò Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài
19
thời phân tranh cũng như khi thống nhất. Từ đó, người Phương Tây mới biết
rõ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa.
Như thế, chính người Pháp mới bắt đầu cung cấp những tài liệu xác
thực về sự xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, Sau đây là tên những tài liệu chủ yếu: Nhật Ký trên tàu
Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An
Nam; “Le Mémoire sur la Cochinchine” của Jean Baptiste Chaigneau (1769 -
1825) (hay được gọi với tên là Sê-Nơ), viết vào những năm cuối đời Gia Long
(1816 - 1819) đã khẳng đònh năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền
Việt Nam trên quần đảo Paracels; “Univers, histoire et description de tous
les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes” của giám mục Taberd
xuất bản năm 1833 cho rằng hoàng đế Gia Long chính thức khẳng đònh chủ
quyền trên quần đảo Hoàng Sa năm 1816; An Nam Đại Quốc Họa Đồ của
giám mục Taberd xuất bản năm 1838 khẳng đònh Cát Vàng (Hoàng Sa) là
Paracels và nằm trong lãnh hải Việt Nam; The Journal of the Asiatic Society
of Bengal , Vol VI đã đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long
Hiện thời, Trung Cộng đang cố thành hình chuổi hải đảo Liên Hoàn Chiến
Lược (Hải Nam-Hoàng Sa-Trường Sa). Trường hợp Trung Cộng dùng vũ lực
khống chế hải lộ huyết mạnh.
Chủ quyền của Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa sẽ khiến cho việc ấn
định Khu Vực Kinh Tế Đặc Quyền vốn rất rắc rối càng thêm khó khăn.
Nhiều nhà nghiên cứu những chyên gia đầu ngành, trong đó không thể
thiếu sự đánh giá của các vị lãnh đạo của Đảng về Nhà nước về tầm quan trọng
sát sườn của ta. Trong đó Tiến sĩ Nguyễn nhà trong Luận Án và nhiều tài liệu,
bài báo, tạp chí cũng đưa ra những nhìn nhận đánh giá khách quan nhất.
21
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong Biển Đông mà người
Trung Hoa gọi là Biển Nam Hải, người Phương Tây thường gọi là Biển Nam
Trung hoa, có tầm quan trọng về chiến lược quân sự.
Không có một vùng biển nào trên Thế Giới với diện tích tương đương
3/4 Đòa Trung Hải mà lại có tầm mức quan trọng về phương diện giao thông
như Biển Đông. Muốn từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, tàu thuyền
phải chạy qua Biển Đông. Nếu đi vòng sẽ tốn kém hơn và mất thời gian
nhiều hơn. Biển Đông nằm ngay trên ngã tư đường hàng hải quốc tế, nhất là
lượng hàng hoá quan trọng như dầu hoả, khí đốt đến Nhật đều qua ngả này.
Nếu lấy giữa Biển Đông làm trung tâm nhìn ra thế giới: Trong vòng bán kính
1500 hải lý có các cảng quan trọng như Bangkok, Rangoon, Calcutta,
Singapore, Djakarta, Manila, Taipei, Hongkong, Shangai, Nagasaki.
Trong vòng 2500 hải lý, có các cảng quan trọng như Madras, Colombo,
Bombay, Bali, Darwin, Guam, Tokyo, Yokohama, Seoul, Beijing bao trùm
hầu hết lãnh thổ các nước đông dân nhất thế giới, bao gồm một nửa nhân loại
Đường bay quốc tế cũng thế, từ Singapore, Bangkok, qua Hong Kong,
Manila, Tokyo … đều qua Biển Đông. Chính vì vậy hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa không những là nơi hiểm yếu như các chính quyền phong kiến
của Việt Nam đã khẳng đònh mà còn có giá trò chiến lược đối với Việt Nam
và quốc tế. Vì thế nên trước khi Nhật Bản xâm lăng các nước Đông Nam Á
80, trên toàn thềm lục đòa Việt Nam, chủ yếu ở phía Nam, đã khảo sát trên
100.000 km tuyến đòa vật lý, khoan hàng chục giếng tìm kiếm thăm dò và đã
phát hiện được ba mỏ dầu khí (Bch Hổ, Rồng và Đại Hùng). Từ năm 1986,
mỏ Bạch Hổ bắt đầu được khai thác. Việc thăm dò và khai thác dầu khí ở
23
thềm lục đòa Việt Nam trên khiến người ta thấy tiềm năng vùng Biển Đông
có nhiều triển vọng về dầu khí.
Vấn đề Hồng sa hiện nay, Những năm gần đây vấn đề Hồng sa đang
phức tạp, nó xoay quanh cả vấn đề Trường Sa nữa. Vấn đề đã rõ rang như thế
nhưng ta có những biện pháp đối phó như thế nào cho hợp lý.
1.4.1. Về kinh tế
Trước đây ngư dân và tàu bè Việt Nam vẫn tự do đánh cá và đi lại và
trong vùng biển chung quanh quần đảo Hồng Sa. Nhưng kể từ khi Trung quốc
tấn cơng lực lượng đồn trú của hải qn Việt Nam Cộng Hòa và chiếm quần đảo
này ngày 19 tháng 01 năm 1974, thì mọi hoạt động có tính cách dân sự của họ
trong vùng biển Hồng Sa hồn tồn bị Trung quốc cấm đốn và bị đẩy vào tình
trạng nguy hiểm. Việc này đã dẫn đến những thảm kịch đẫm máu mà trước đây
chưa hề xảy ra khi Việt Nam còn kiểm sốt quần đảo ấy. Điển hình là ngày 18-
20, tháng 12 năm 2004, hải qn Trung quốc dùng tàu tuần dương tơng vào các
tàu đánh cá Việt Nam khiến cho 23 ngư dân Đà Nẵng và Quảng Ngãi bị chết, 6
người bị thương, đồng thời bắt giữ 9 tàu đánh cá và 80 ngư dân khác.
1.4.2. Về qn sự
Nếu chỉ tính theo bờ lục địa, khơng kể hải đảo, thì Việt Nam là nước có bờ
biển dài nhất trong vùng Biển Đơng (3,444 km), ngay cả so với Philippines
(1,851 km) và Trung quốc (2,744 km). Việt Nam đã khơng vận dụng được ưu
thế của mình về chủ quyền trên các quần đảo đó trong những thập niên 60, 70,
để cũng cố và gia tăng vai trò kiểm sốt thủy đạo quan trọng và tấp nập này.
Ngược lại, việc để mất quyền kiểm sốt quần đảo Hồng Sa, mở lối cho Trung
quốc chiếm đóng một số đảo và bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa, khơng
những đã hạ thấp vai trò của Việt Nam trong vùng, mà vơ tình họ còn bị đẩy vào