TÀI LIỆU ÔN TẬP VÀ THI VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN
Phâ ̀n thứ nhất
PHẦN VĂN HỌC
I- CÁC TÁC PHẨM TRỌNG TÂM CẦN ÔN TẬP:
A- Văn xuôi :
1- Phong cách Hồ Chí Minh – Lê Anh Trà
2- Đấu tranh cho một thế giới hòa bình – G.G.Mac ket
3- Chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ
4- Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh – Phạm Đình Hổ
5- Hoàng Lê nhất thống chí – Ngô Gia văn phái
5- Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long
6- Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng
7- Bàn về đọc sách – Chu Quang Tiềm
8- Tiếng nói của văn nghệ – Nguyễn Đình Thi
9- Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê
10- Cố Hương – Lỗ Tấn
11- Bố của Xi-mông - Mô-pa-xăng
B- Thơ :
1- Truyện Kiều – Nguyễn Du
Các đoạn trích: Chị em Thúy Kiều, Cảnh ngày xuân, Kiều ở lầu Ngưng Bích, Mã Giám Sinh
mua Kiều, Thúy Kiều báo ân báo oán.
2- Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu
Các đoạn tríc: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga, Lục Vân Tiên gặp nạn.
3- Đồng chí – Chính Hữu
4- Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật
5- Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận
6- Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ – Nguyễn Khoa Điềm
7- Ánh trăng – Nguyễn Duy
8- Con cò – Chế Lan Viên
9- Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải
10- Viếng Lăng Bác – Viễn Phương
Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc khánh chiến chống đế quốc Mĩ qua
các hình tợng ngời lính và cô thanh niên trên tuyến đờng Trờng Sơn. Thơ ông có giọng điệu sôi nổi, trẻ trung,
hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc.
Các tác phẩm chính: Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970); Thơ một chặng đờng (thơ, 1971); ở hai đầu núi (thơ,
1981); Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983); Nhóm lửa (thơ, 1996);
Tác giả đ đã ợc nhận: giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1969 - 1970.
2. Tác phẩm :
Bài thơ về tiểu đội xe không kính là tác phẩm thuộc chùm thơ đợc tăng Giải Nhất cuộc thi thơ của báo Văn
Nghệ năm 1969 - 1970.
trong bài thơ, tác giả đ thể hiện khá đặc sắc hình ảnh "anh bộ đội cụ Hồ" hiên ngang, dũng cảm, trẻ trung vàã
những chiếc xe không kính ngộ nghĩnh giữa tuyến đờng Trờng Sơn lịch sử thời kì kháng chiến chống đế quốc
Mĩ.
"Chỉ một tuần sau bài thơ ra đời, cả mặt trận có vô số tiểu đội xe không kính. Sau này, vào những năm cuối
cuộc kháng chiến, đ có những chiến sĩ lái xe tự lái xe vỡ để mắt thã ờng nhìn trực tiếp mặt đờng chằng chịt hố
bom cho rõ hơn dới ánh sáng lù mù của chiếc đèn gần soi. Thậm chí, có ngời còn tháo cả cánh cửa buồng lái
để tiện cho việc xử lí tình huống khi xe bị máy bay AC130 săn đuổi - loại máy bay bắn roc - ket hay đạn 27 li
vào mục tiêu di động bằng thiết bị dò âm thanh mặt đất và bằng kính nhìn có tia hồng ngoại.
Mạn phép nói thêm cái chất thực của bài thơ để chúng ta hiểu rằng, một bài thơ có nhiều khi vợt qua phạm
trù cái đẹp văn chơng thuần túy, dâng cho cuộc sống những giá trị thực tiễn lớn lao biết nhờng nào. Bài thơ Bài
thơ về tiểu đội xe không kính có cái m nh lực thần kỳ ấy, nó vừa mang tính chiến đấu nóng bỏng, tính thời sựã
tức thời vừa mang tính lịch sử! Tất nhiên một bài thơ nh thếphải là tiếng nói của cuộc sống thực hào hùng. Đó là
tiếng nói chân thành, độc đao của ngời trong cuộc. Nó nh một tuyên ngôn về lẽ sống của một thế hệ ngời Việt
Nam!
Giờ đây mỗi lần có dịp đọc lại hay nghe ai đó đọc lên bài thơ này, không ít ngời nh tôi lại bồi hồi nhớ về một
qu ng đời chiến tranh ở đã ờng 9 - Nam Lào, nhớ về hình ảnh anh Phạm Tiến Duật lần đầu đứng trớc anh em đơn
vị D61. Anh đọc cho anh em nghe bài thơ nói về họ trớc giờ xuất kích. Đ hết câu cuối cùng của bài thơ mà cảã
đơn vị còn lặng im, rồi phút chốc cùng vùng dậy, thoáng đ nhồi sau tay lái. Một khoảng rừng già rộ lên, nhữngã
cỗ xe dắt kín lá ngụy trang rùng rùng chuyển bánh đi về hớng Nam đ định"ã
Huy Cận "Đoàn thuyền đánh cá"
1.Tác giả:
cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh của ngày mới.
Về hoàn cảnh sáng tác, nhà thơ Huy Cân nhớ lại: "Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của tôi đợc viết ra trong
những tháng năm đất nớc bắt đầu xây dựng chủ nghĩa x hội. Không khí lúc này vui, cuộc đời phấn khởi, nhàã
thơ cũng rất phấn khởi. Cả tác phẩm vùng than, vùng biển đang hăng say lao động từ bình minh cho đến hoàng
hôn và cả từ hoàng hôn cho đến binh minh. Đoàn thuyền đánh cá lấy thời điểm xuất phát khác với lệ thờng,
lúc mặt trời lặn và trở về trong ánh bình minh chói lọi. Khung cảnh trên biển khi mặt trời tắt không nặng nề, tăm
tối mà mang vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật trong quy luật vận động tự nhiên của nó. ở đây tôi đ miêu tả khungã
cảnh tạo vật với cảm hứng vũ trụ. Nếu trớc cách mạng vũ trụ ta còn buồn thì bây giờ vui, trớc là cách biệt xa
cách với cuộc đời thì hôm nay lại gần gũi với con ngời. Bài thơ của tôi là một cuộc chạy đua giữa con ngời và
thiên nhiên và con ngời đ chiến thắng. Tôi coi đây là khúc tráng ca, ca ngợi con ngã ời trogn lao động với tinh
thần làm chủ với niềm vui. Bài thơ cũng là sự kết hợp giữa hiện thực và l ng mạn. Chất hiện thực của khungã
cảnh lao động trên biển cả khi vùng biển đ về ta. Và chất l ng mạn thì cũng không cần phải tã ã ởng tợng nhiều. ở
giữa cảnh biẻn cao rộng đó, với gió, với trăng, rồi bình minh và nắng hồng, và đặc biệt là sức ngời trong lao
động đều thực sự mang tính chất l ng mạn bay bổng "Thuyền ta lái gió với buồm trắng" ; "Đoàn thuyền chạyã
đua cùng mặt trời". Cảm hứng và hình ảnh ấy rất thích hợp với lạo động trên biển. Tôi nghĩ rằng trong khung
cảnh đó cũng không thể viết khác đi. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh đẹp của một ngày đẹp của một ngày mới
khi đoàn thuyền đang trở về, các khong thuyền đầy ắp cá. Mở đầu bài thơ là hình ảnh "Mặt trời xuống biển" và
kết thúc là hình ảnh "mặt trời đội biển" nhô lên giữa sông nớc.
Thiên nhiên đ vận động theo một vòng quay của mặt trời và con ngã ời đ hoàn thành trách nhiệm của mìnhã
trong lao động. Không có gì vui bằng lao động có hiệu quả.
Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá nằm trong cảm hứng chung của thơ tôi trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Tôi viết bài thơ tơng đối nhanh, chỉ vài một giờ của buổi chiều trên vùng biển Hạ Long. Bài thơ đợc viét liền
mạch và ít phải sửa chữa. Tôi nghĩ đó cũng không phải là chuyện ngẫu nhiên mà thực sự là cảm hứng đ đã ợc
tích tụ trên một đề tài quen thuộc của tôi và đợc viết ra trong không khí rất vui của những năm tháng đầu xây
dựng chủ
nghĩa x hội" (Huy Cận, Tác phẩm văn học, NXB Văn học, ã
Hà Nội, 2001).
Bằng Việt "Bếp lửa"
1. Tác giả:
Nhà thơ Bằng Việt (tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng), sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà
- Bài thơ gợi lại những kỉ niệm sâu sắc của ngời cháu về ngời bà vào tuổi ấu thơ đợc ở cùng bà.
Khúc hát ru những em bé trên lng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm
1. Tác giả:
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943, tại thôn Ưu Điềm, xà Phong
Hòa, huyện Phong Điềm, tỉnh Thừa Thiên Huế. Quê gốc: làng An Cựu, x Thủy An , thành phố Huế.Lúc nhỏ điã
học ở quê, năm 1955 ra miền Bắc học tại trờng học sinh miền Nam. Sau khi tốt nghiệp trờng Đại học S phạm
Hà Nội năm1964, vào miền Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên Huế, tham gia quân đội , xây
dựng cơ sở cách mạng, viết báo ,làm thơ, cho đến năm 1975. Ông thuộc thế hệ nhà thơ trởng thành trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc của dân tộc. Nguyễn Khoa Điềm từng là Tổng th Ký Hội nhà văn Việt Nam
(khóa V), Bộ trởng bộ Văn hóa thông tin. Từ năm 2001, ông là ủy viên Bộ ChínhTrị, Bí th Trung ơng Đảng, Tr-
ởng ban T tởng Văn hóa Trung ơng.
Nguyễn Khoa Điềm trởng thành trong giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Tập thơ Đất ngoại ô và Tr-
ờng ca Mặt đờng khát vọng nhanh chóng khẳng định sự đóng góp và tài thơNguyễn Khoa Điềm lúc bấy giờ. có
thể nói thơ Nguyễn Khoa Điềmlà thơ của một trí thức trẻ, giàu vốn sống thực tếvà vốn văn hóa,triết lý và trữ
tình, suy t và cảm xúc.
Các tác phẩm chính : Cửa thép (ký, 1972); Đất ngoại ô (thơ, 1973); Mặt đờng khát vọng (trờng ca, 1974);
Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ, 1986) ; Thơ Nguyễn Khoa Điềm (thơ, 1990) ;
Nhà thơ đ đã ợc nhận: Giải thởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập Ngôi nhà có ngọn lửa ấm.
2 . Tác phẩm :
- Bài thơ Khuc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ đợc tác giả Nguyễn Khoa Điềm sáng tác năm 1971, khi
đang công tác ở chiến khu Thừa Thiên .
- Bài thơ đ thể hiện truyền thống yêu nã ớc thơng dân một cách đặc
sắc qua hình ảnh bà mẹ cõng con lên rẫy. những lời ngời mẹ ru con bộc lộ sâu sắc tinh thần yêu nớc cùng ý chí
quyết tâm đánh giặc đến cùng của đồng bào các dân tộc nói riêng và nhân dân ta nói chung.
Nguyễn Duy "ánh trăng"
1. Tác giả:
Nhà thơ Nguyễn Duy (tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ), sinh năm 1984, tại x Đông Vệ, thành phố Thanhã
Hóa.
Tham gia cong tác từ 1965, làm tiểu đội trởng dân quân trực chiến khu vực Hàm Rồng - Thanh Hóa. Năm 1966,
chung.
Nguyễn Thành Long "Lặng lẽ Sa Pa"
1. Tác giả:
Nhà văn Nguyễn Thành Long ( 1925-1991), quê ở huyện Duy Xuyệ tỉnh Quảng Nam, viết văn từ thời kì
kháng chiến chống thợc dân Pháp, Ông là cây bút chuyên về truyện ngắn,
Tập trung nhiệt thành ngợi ca những con ngời lao động mới, dám nghĩ dám làm, không sợ khó khăn gian khổ,
say mê trong lao động sáng tạo, nhn hậu và tha thiết yêu cuộc sống Truyện của Nguyễn Thành Long hấp dẫn
ngời đọc bằng văn trong sáng, giàu chất thơ, nhẹ nhàng thoải mái, cốt truyện tởng nh đơn giản mà giàu ý nghĩa
khái quát, Lặng lẽ Sa Pa là
truyện ngắn tiêu biểu nh thế. Truyện viết về một thị x nhỏ bé của tỉnh Lào Cai luôn chìm đắm trong sã ơng mù:
Sa Pa. Đén với nới ấy là những con ngời thật: một anh thanh niên làm công tác khí tợng thủy văn trên đỉnh Yên
Sơn cao 2600 mét, một cô kĩ sơ nộng nghiệp mới ra trờng, một bác lái xe già đ chạy suốt 30năm trên tuyến đã -
ờng Sa Pa, một họa sĩ đi thực tế chuyến cuối cùng - của cuộc đời công tác trớc khi nghỉ hu, bốn gơng mặt tiêu
biểu, bốn tính cách khác nhau: anh thanh niên đầy nhiệt huyết bộc trực, chân thành, cô kĩ s trẻ hồn nhiên nhng
kín đáo tế nhị, ông họa sĩ trầm tĩnh sâu lắng, còn bác lái xe thì sôi nổi, vui tính Họ tình cờ gặp nhau trên con đ-
ờng tới Sa Pa mà bỗng trở nên gần gũi và thân thiết nh một gia đình. Tuy tính tình và nghề nghiệp khác nhau,
nhng tất cả đều có chung một tâm hồn trong sáng, tinh tế, một suy nghĩ lành mạnh sâu sắc và nhất là họ có
chung một thái độ sống, lao động, lầm việc và cống hiiến hết mình cho Tổ quốc một cách vô t hồn nhiên, âm
thầm và lặng lẽ.Đó là một truyện ngăn hay tiêu biểu cho phong cách của Nguyễn Thành Long: nhẹ nhàng kín
đáo mà rất sâu sẵcvà thấm đẫm chất thơ (Từ điiển tác giả tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trờng ).
Các tác phẩm chính: Bát cơm cụ Hồ( 1953); Chuyện nhà chuyện xởng( 1962); những tiếng vỗ cánh(1967);
Giũa trong xanh(1972); Nửa đêm về sáng(1978); Lí Sơn mùa tỏi(1980); Sáng mai nào, xế chiều nào(1984)
2. Tác phẩm:
Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa đợc nhà văn Nguyễn Thành Long viết năm 1970 sau chuyến đi Lào Cat của tác
giả.
Thông qua một tình huống gặo gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già, cô kĩ s trẻ với anh thanh niên làm công tác ở
trạm khí tợng trên đỉnh Yên Sơn thuộc Sa Pa, tác giả khẳng định vẻ đẹp của con ngời lao động và ý nghĩa của
những công việc thầm lặng.
nhi Hội Nhà Văn (1985); Giải thởng thởng Hội Nhà Văn Việt Nam 1993; Huy chơng vàng Liên hoan phim toàn
quốc (1980); Huy chơng vàng Liên hoan phim ở Matxcơva (1981); Huy chơng bạc Liên hoan phim toàn quốc
(1980).
2. Tác phẩm:
Truyện chiếc lợc ngà đợc nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966 tại chiến Nam Bộ trong thời kì cuộc
kháng chiến chông đế quốc Mĩ của nhân dân ta đang diễn ra quyết liệt.
Đây là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng. Băng nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật đặc sắà xây dựng tình huống bất ngờ, tác giả đ thể hiện một cách cảm động tình cha con của ôngã
Sáu và bé Thu.
Chế Lan Viên "Con cò"
1. Tác giả:
Nhà thơ Chế Lan Viên (1920 - 1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ - Quảng trị. Trớc CM
tháng 8, Chế Lan Viên đ nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới qua tập Điêu tàn, Chế Lan Viên đ có những đóngã ã
góp lớn vào những thành tựu của văn học kháng chiến, ông là một trong những tên tuổi hành đầu ở nền thơ Viết
Nam thế kỉ XX .
"17 tuổi với tập thơ Điêu tàn, Chế lan Viên đ làm nên "một niềm tin kinh dị "trên thi đài của Việt Nam đầu thếã
kỉ. Bộc lộ bằng một cảm xúc khác thờng, quay lng lại với thực lại hiện hữu: "hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh -
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa - Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh - những u phiền đau khổ với buồn lo". Chế
Lan Viên tìm về quá khứ của dân tộc Chăm cũng là một cách diễn tả tâm trạng mình về hiện thực của dân tộc.
Phần tích cực lẫn hạn chế trong hồn thơ Chế Lan Viên giao thao trên những nội buồn, giấc mơ, những dằn
vặt về sự tồn tại của chính mình. Khi những quan điểm Điêu tàn đến Vàng sao đ không còn phù hợp, Chế Lanã
Viên rơi vào thần bí, bế tắc. Chỉ còn một cách lựa chọn là hớng cảm xúc của chủ thể sáng tạo và yêu cầu mới,
Chế Lan Viên đ bắt gặp ngọn nguồn của sáng tạo sau CM tháng 8 1945.ã
Với Gửi các anh, tập thơ viết trong kháng chiến chống thực dân Pháp Chế
Lan Viên đ cố gắng tiếp cận với hiện thực cách mạng. Những ở đây, con ngã ời công dân và con ngời nghệ sĩ
vẫn cha gặp nhau, bản sắc thi sĩ cha kịp định hình. Chỉ đến ánh sáng và phù sa, Chế Lan Viên mới thực sự "từ
thung lũng đau thơng đến cánh đông vui", làm nên một gơng mặt thi nhân tài hoa vào độc đáo trong nền thơ ca
cách mạng Việt Nam. Từ đây cho những bài thơ cuối đời, cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên luôn vận động
vào phát triển, thống nhất trong đa dạng. Thơ Chế Lan Viên đ tạo đã ợc một sức mạnh ám ảnh đối với ngời đọc
trên cả hai phơng diện cảm xúc và trí tuệ. Với ý thức phục vụ cáh mạng, phục vụ cuộc sống bằng thi ca, thơ
Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ thể hiện niềm yêu mến thiết thavới cuộc sống, với đất nớcvà ớc nguyện chân
thành của tác giả về một cuộc sống hàng ngày càng tơi đẹp hơn.
Viễn Phơng "Viếng lăng Bác"
1. Tác giả:
Nhà thơ Viễn Phơng sinh năm 1928, quê ở tỉnh An Giang. Ông là một trong những cây bút ccó mặt sớm nhất
của lực lợng Văn nghệ Giải phóng ở miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nớc. Thơ Viễn Phơng còn nhỏ nhẹ, giàu
tình cảm, khá quen thuộc với bạn đọc thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ.
Các tác phẩm chính: Chiến thắng Hòa Bình (trờng ca, 1953); Anh hùng mìn gạt (tập truyện kí, 1968); Mắt
sáng học trò (tập thơ, 1970); Lời di chúc
(trờng ca, 1972); Nh mây màu xuân (tập thơ, 1978); Sắc lụa Trữ la (tập truyện, 1988); Phù sa quê mẹ (tập thơ,
1991); Quê hơng địa đạo (tập truyên và kí);
Tác giả đ đã ợc nhận: Giải Nhì Giải thởng Cửu Long Nam Bộ (1954); Giải Nhì Cuộc thi viết cho thiếu nhi do
Mặt trận tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức; Giải thởng Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh; Tăng thởng
ủy ban toàn quốc Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam.
2. Tác phẩm:
- Bài thơ Viếng lăng Bác đợc viết khi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đợc xây dựng xong, đất nớc thống nhất, đồng
bào miền Nam đ có thể thực hiện đã ợc mong ớc ra viếng Bác. Trong niềm xúc động vô bờ của đoàn ngời vào
lăng viếng Bác, Viễn Phơng đ viết bài thơ này.ã
Hữu Thỉnh "Sang thu"
1. Tác giả:
Nhà thơ Hữu Thỉnh sinh năm 1942, quê ở huyên Tam Dơng, tỉnh Vĩnh Phúc.Hữu Thỉnh sinh ra trong một gia
đình nông dân có truyền thống Nho
học. Đ trải qua tuổi ấu thơ không dễ dàng, chỉ thực sự đã ợc đi học từ sau hòa bình lập lại(1954). Tốt nghiệp phổ
thông (1963), sau đó vào bộ đội Tăng - thiết giáp và nhiều năm tham gia chiến đấu tại các chiến trờng Đờng 8-
Nam Lào (1970-1971) , Quảng Trị (1972), Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh.
Năm 1981, sau khi tốt nghiệp trờng viết văn Nguyễn Du( khóa 1), Hữu Thỉnh về làm phó tổng biên tập tạp chí
Văn nghệ Quân đội. ông đợc bầu vào Ban Chấp hành Hội nhà Văn Việt Nam từ khóa III(1983) đến nay. Hiện là
Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Phó Chủ t5ịch Hội liên hiệpVăn học - Nghệ thuậtViệt Nam, đại biểu Quốc hội
khóa X, XI.
"Trớc khi là nhà thơ, Hữu Thỉnh đ là một ngã ời lính, sống thậy sự cuộc sóng của mình giữa lòng cuộc chiến
Y Phơng nhập ngũ năm 1968, phục vụ trong quân đội đến năm 1981 chuyển về công tác tại Sở Văn hóa-
Thông tin Cao Bằng.
Thơ Y Phơng nh một bức tranh thổ cẩmđan dệt những màu sắc khác nhau, phong phú và đa dạng, nhng
trong có màu sắc chủ đạo, âm điệu chính là bản sắc dân tộc rất đậm nét và độc đáo. Nết độc đáo đó nằm ở cả
nội dung và hình thức. Với Y Phơng, thơ của dân tộc Tày nói riêng và thơ Việt nam nói chung, có thêm một
giọng điệu mới, một phong cach mới. (Từ điển tác giá tác phẩm văn học Việt Nam dùng trong nhà trờng).
Các tác phẩm chính: Ngời hoa núi(kịch bản sân khấu, 1982);Tiếng hát tháng giêng(thơ, 1986); Lửa hồng một
góc( thơ in chung, 1987);Lời chúc
(thơ,1991); Đàn then (thơ, 1996)
Tác giả đ nhận đã ợc: giải A cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ quân dội; Giải thởng loại A Giải thởng văn học 1987
của hội nhà văn Việt Nam
2. Tác phẩm:
Về hoàn cảnh ra đời bài thơ Nói với con, nhà thơ Y Phơng cho biết:
Những năm cuối bảy mơi đầu tám mơi của thế kỉ XX , đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân ta cả nớc
nói chung, nhân đan cả nớc nói chung, nhân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi nói riêng, vô cùng khó khăn
thiếu thốn. Bởi vì đất nớc ta vừa ra khỏi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ lâu dài và cục kì gian khổ. Hiện
thực x hội ấy đ tác động sâu sắc đến đời sống con ngã ã ời. Đại bộ phận nhân dân ta vẫn kiên trì khắc phục và
tìm mọi cách để vợi qua để duy trì đời sống. Họ vẫn tồn tại và không ngừng sinh trởng là không phải nhờ vào
phép màu của lợng siêu nhiên nào mà chỉ dựa vào sức mạnh tinh thần của truyền thống văn hóa từ ngàn đời
mà ông cha ta để lại.
Cuối năm 1975, tôi cũng mới từ mắt trận trở về, sau tám năm đánh giặc xa
nhà nay trở về lấy vợ sinh con trong bối cảnh túng thiếu bần hàn chung của
toàn x hội. Nhìn cách con cầm bát cơm ăn không thịt cá mà lòng xót đau khôn tả. Bởi chúng tôi cũng nhã nhiều
gia đình cán bộ khác chỉ sống bằng đồng lơng quá ít ỏi. Hàng hoá khan hiếm, giá cả leo thang từng ngày đến
chóng mặt. Bên cạnh cái tốt của những ngời làm ăn lơng thiện, không ít những con ngời bị tha hóa biến chất.
Họ buôn bán lận, lợi dụng khẽ hở của nhà nớc móc lối làm ăn phi pháp. ở miền Nam, một bộ phận nhỏ công
chức dới thời ngụy quyền Sài Gòn không chịu đợc đ tìm mọi cách để vã ợt biên trốn ra nớc ngoài.
Từ hiện thực khó khăn ngày ấy, tôi làm bài thơ này để tâm sự với chính mình, động viên mình, đồng thời là để
nhắc nhở con cái sau này.
Nguyễn Minh Châu - "Bến quê"
bản Hội Nhà văn.
Là nhà văn sở trờng về truyện ngắn, từ sau năm 1975, sáng tác của Lê Minh Khuê đ bám sát những biếnã
chuyển của đời sống, đề cập đến nhiếu vấn đề bức xúc của x hội thời điểm mới. ã Ngòi bút miêu tả tâm lí của Lê
Minh Khuê khá sắc sảo, nhất là khi miêu tả tâm lí phụ nữ.
Các tác phẩm chính: Cao điểm mùa hạ ( 1978) ; Đoàn kết (1980) ; Thiếu nữ mặc áo dài xanh (1984) ; Một
chiều xa thành phố (1987) ; Em đã không quên (1990) ; Bi khịch nhỏ (1993) ; Trong làn gió heo may (1998) ;
Tác giả đ đã ợc nhận: Giải thởng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987 ( tập truyện ngắn: Mội chiều xa
thành phố).
2. Tác phẩm:
Truyện Những ngôi sao xa xôi viết về ba cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ phá bom ở một cao
điểm trong thời kì cuộc chiền tranh trống đế quốc Mĩ đang diễm ra khốc liệt. Miêu tả các cô gắi hằng ngày, hằng
giờ đối mặt với nguy hiểm nhng hấ dẫn của truyện không phải ở những chi tiết, sự kiện hòi hộp, nóng bỏng mà
ở khả năng miêu tả đời sống tâm hồn con ngời khá sinh động, sâu sắc của tác giả.
III- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP MỘT SỐ BÀI CỤ THỂ:
1. Cảnh ngày xuân
I/VỊ TRÍ ĐOẠN TRÍCH :
Đây là đoạn tiếp liền theo đoạn tả vẻ đẹp hai chị em Kiều.Đoạn này tả cảnh chị em Kiều du xuân trong tiết
Thanh minh. Cũng là một lễ hội ngày xuân theo phong tục Trung Quốc.
II/BỐ CỤC:
a/4 câu đầu : Tả cảnh ngày xuân.
b/ 8 câu kế : Khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh.
c/6 câu cuối : Chị em Kiều du xuân trở về.
III/ ĐỌC VÀ HIỂU VĂN BẢN :
1/ Khung cảnh ngày xuân :
Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân :
“Ngày xuân con én đưa thoi . Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh rợn chân trời. Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Ý câu đầu là ngày xuân qua đi nhanh như chiếc thoi dệt cửi do cái thoi thường làm giống như con chim én .
Nhưng cũng có thể hiểu là cảnh ngày xuân chim én bay lượn đầy trời như con thoi đưa ngụ ý tiếc nuối ngày
xuân qua nhanh quá. Như thế hai câu đầu vừa nói về thời gian mà còn gợi tả không gian mùa xuân.
Chỉ bằng vài nét phác họa, tác giả đã gợi được mối thiện cảm cho người đọc “ Mai cốt cách…vẹn mười” /
Đừng nghĩ rằng hễ bắt tay vào vẻ chân dung là người ta vẻ mặt, mắt, miệng …Ở Nguyễn Du, nhà thơ chú ý
trước hết đến “ cốt cách” và “ tinh thần”. Bằng biện pháp đảo ngữ, kết hợp tương trưng và ẩn dụ người đọc
hình dung vóc dáng thanh tao, mảnh dẻ duyên dáng và tâm hồn trong sáng tinh sạch của họ. vẻ đẹp của mỗi
người đều có những nét riêng và đều đạt đến độ hoàn mĩ “ mười phân vẹn mười”
Chân dung của Thúy Vân được nhà thơ miêu tả chỉ bốn câu “ Vân xem …màu da”
Ở bốn câu thơ người đọc thấy được sự miêu tả tinh tế và toàn vẹn từ khuôn mặt, nét mày, màu da, mái tóc
đến nụ cười , tiếng nói và phong thái ứng xử. Nàng có khuôn mặt xinh đẹp, đầy đặn tươi sáng như vầng trăng
tròn, lông mày thanh tú như nét mày ngài, miệng nàng cười tươi như đóa hoa mới nở, tiếng nàng thốt ra nhẹ
nhàng đằm thắm trong trẻo như viên ngọc qúy sáng lấp lánh , tóc nàng là làn mây bồng bềnh nhẹ tênh trên
nền trời xanh thắm, làn da mượt mà mịn màng tắng sáng. Bằng cách sử dụng sáng tạo những biện pháp có
tính ước lệ, tác giả đã khắc họa một Thúy Vân thùy mị đoan trang phúc hậu, khiêm nhường…Một vẻ đẹp
khiến cho mọi người kính nể, chấp nhận một cách êm đềm. Thật vậy, cười nói đoan trang trang là ngay thật,
đúng mực, không quanh co châm chọc làm người ta phật lòng, Từ những thông điệp nghệ thuật” mây thua” ,
“tuyết nhường” Thúy Vân tất sẽ có một tương lai hạnh phúc, một cuộc sống yên vui.
Vân là vậy còn Kiều ? Bức chân dung của cô chị được nhà thơ khắc họa trong mười hai dòng thơ tiếp theo
trên hai bình diện tài và sắc . Với Kiều nhà thơ vẻ : “ Kiều càng …kém xanh” / Nàng có đôi mắt sáng trong
veo thăm thẳm như làn nước mùa thu . Cửa sổ tâm hồn Kiều là thế - là thăm thẳm những nỗi niềm chất chứa .
Nét mày của đôi mắt ấy xanh tươi nhẹ nhàng như dáng núi mùa xuân. Vẻ đẹp sắc sảo mặn mà của nàng làm
cho hoa, liễu phải ghen hờn, nước thành nghiêng đổ. Đẹp như thế là tuyệt thế giai nhân trên đời kh6ng ai
sánh bằng. rất khác và hơn hẳn vẻ đẹp đoan trang phúc hậu của Vân.
Có sắc, Kiều còn là một cô gái thông minh và rất mực tài hoa “ Thông minh…não nhân”/ Tài của Kiều được
giới thiệu lần lượt theo lối liệt kê: tài thơ, tài họa, tài đàn , tài hát ca…tài nào cũng cũng siêu tuyệt . Đáng chú
ý là các từ “vốn sẵn tính trời” , “ pha nghề, đủ mùi, ăn đứt”…làm cho tài nào cũng đầy đủ và trọn vẹn. Ngoài
ra Kiều còn sáng tác nhạc, một bài đàn ai oán “ Thiên bạc mệnh” ai nghe cũng buồn thảm đớn đau. Với sắc
đẹp “ chim sa cá lặn” , rồi tài hoa trí tuệ thiên bẩm, một tâm hồn đa sầu đa cảm của nàng làm sao tránh khỏi
sự hủy diệt của định mệnh nghiệt ngã . Cũng như đoạn tả Thúy Vân, đoạn tả Kiều chức năng dự báo còn
phong phú và rõ rệt hơn : dự báo tấn bi kịch “ hồng nhan bạc mệnh” không tránh khỏi suốt mười lăm năm
lưu lạc chìm nổi của nàng.
Bốn câu thơ cuối của đoạn trích, Nguyễn Du kết luận lại phẩm hạnh của họ : “ Phong lưu…mặc ai” / Tuổi
Khóa xuân là khóa kín tuổi xuân, ý nói là bị cấm cung. Hai chữ cấm cung cho thấy Kiều bị giam trong lầu
Ngưng Bích như co gái bị cấm cung . Nàng trơ trọi giữa một khung cảnh thiên nhiên vắng lặng, heo hút ,
không một bóng người :
“Vẻ non xa tấm trăng gần soi chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”.
Câu thơ "Bốn bề bát ngát xa trông” như mở ra trước mắt Kiều một không gian rợn ngợp. Từ lầu cao nhìn ra
là những dãy núi bát ngát điệp trùng xa mờ và mảnh trăng gần gũi như sắp chạm đầu. Trước mắt nàng là cảnh
vật bốn bề xa trông bát ngát, bên thì từng đụn cát vàng nhấp nhô như sóng lượn , bên thì những đám bụi hồng
trải khắp dặm xa.
Cảnh thiên nhiên mênh mông hoang vắng đó càng làm nổi bật hơn nỗi niềm cô đơn, buồn tủi của Kiều khiến
nàng thêm bẻ bàng chua xót :
“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya. Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”
Cụm từ “mây sớm đèn khuya” là từ thời gian khép kín. Khuya và sớm, đêm và ngày Kiều lẻ loi trơ trọi chỉ
biết làm bạn với mây và đèn . Có thể nói đây là lúc nàng cô đơn tuyệt đối.
2/ Tâm trạng Thúy Kiều :
a/ Buồn và nhớ:
Trong xúc cảm, trước hết, nàng nhớ đến Kim Trọng. Nàng hình dung ra người yêu đang sầu tư ngóng đợi. Có
lẽ hơn lúc nào hết, trong lúc này, Kiều thương Kim Trọng vô hạn. Trong tình thương ấy có một chút ân
hận ,nàng cảm thấy như mình có lỗi với chàng. Để chàng phải ngày đêm trông ngóng, đau khổ, mòn mõi “rày
trông mai chờ”, Kiều xót xa, ân hận như một kẻ phụ tình.
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng. Tin sương luống những rày trông mai chờ”.
Càng thương nhớ người yêu , càng tiếc nuối mối tình đầu không trọn vẹn, Kiều càng thấm thía tình cảnh bơ
vơ nơi đất khách quê người của mình và càng hiểu tấm lòng sắt son của mình đối với Kim sẽ không bao giờ
phai nhạt.
“Bên trời góc bểbơ vơ. Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”.
Ở bốn câu thơ còn lại , Kiều xót xa thương nhớ cha mẹ :
“Xót người tựa cửa hôm mai . Quạt nồng ấm lạnh những ai đó giờ ? Sân Lai cách mấy nắng mưa. Có khi gốc
tử đã vừa người ôm”
Với cha mẹ, nỗi nhớ thương của Kiều cũng ngập tràn xót xa, da diết . Tuy đã bán mình cứu cha và em khỏi
xuân, là tấm lòng tha thiết, gắn bó của Thanh Hải đối với đất nước, cách mạng.
Các em có thể dựa vào 3 ý sau để phân tích:
1/ Mùa xuân của thiên nhiên, đất trời:
- Miêu tả theo lối phác hoạ nhưng nhà thơ vẽ ra được cả không gian gợi cảm vô cùng, màu sắc tươi thắm, âm
thanh vang vọng rộn ràng, tươi vui.
- Cảm xúc say sưa ngây ngất của nhà thơ được diễn tả đa dạng và tập trung nhiều ở chi tiết tạo hình
“Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”
2/ Mùa xuân của đất nước và cách mạng: Từ mùa xuân của thiên nhiên chuyển sang cảm nhận về mùa xuân
đất nước, cách mạng với hình ảnh “lộc non” gắn liền với hình ảnh người chiến sĩ và người nông dân đều trào
dâng sức sống mãnh liệt, tự tin với tương lai xán lạn rộng mở (Đất nước như vì sao )
3/ Tâm niệm của nhà thơ:
- Nhà thơ khéo chọn vẻ đẹp của thiên nhiên để thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, ước nguyện nung nấu của chính
mình. Đấy cũng là những hình ảnh đơn sơ, nhỏ bé (con chim hót, một nhành hoa, nốt trầm ) nhưng giàu sức
gợi, thể hiện vẻ đẹp cao quý của tâm hồn, lối sống của con người cách mạng. Và nghệ thuật điệp ngữ, sự
chuyển đổi đại từ “tôi” sang “ta” cũng góp phần làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa bài thơ.
-“Mùa xuân nho nhỏ” là một ý thơ hay, vừa thể hiện sự khiêm tốn đồng thời cũng là ý nguyện được sống có
ích được cống hiến một phần công sức nhiệt huyết của mình trong việc làm nên mùa xuân rộng lớn của đất
nước xã hội.
- Đoạn kết bài thơ nghe nhẹ nhàng lan tỏa mà sâu lắng bởi làn điệu dân ca xứ Huế, tỏ rõ niềm tin yêu lạc
quan của Thanh Hải - người con xứ Huế.
4. Phát biểu nhận thức, suy nghĩ của bản thân:
* Gợi ý:
- Lối sống đẹp là biết phục vụ, cống hiến, hy sinh vì người khác, vì đồng bào, vì quê hương đất nước thân
yêu.
- Sống có mục đích, ước mơ, lý tưởng cao đẹp.
- Luôn trau dồi tri thức, rèn luyện nhân cách, đạo đức để trở thành công dân tốt, có ích cho quê hương đất
nước.
- Tuổi trẻ cần tránh xa những tệ nạn xã hội, đến với những hoạt động vui chơi lành mạnh, bổ ích vv và vv
5. Anh thanh niên (Lặng lẽ Sa Pa)
giả Phạm Tiến Duật tham gia họat động ở tuyến đường Trường Sơn đã khắc họa thành công về đề tài người
lính.
- Về luận đề: hình tượng anh bộ đội được ghi lại trong hai bài thơ đã lưu giữ trong văn chương Việt Nam hai
gương mặt đẹp, đáng yêu của người lính trong hai thời kỳ lịch sử.
Ý 2: Phân tích lịch sử
1. Những điểm chung: Đây là người lính của nhân dân nên họ cùng mang những vẻ đẹp chung:
- Yêu nước, yêu quê hương yêu đồng chí:
+ Có thể phân tích các câu thơ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra trận” (Đồng chí) và “Xe vẫn chạy vì miền
nam phía trước” (Tiểu đội xe không kính).
+ Có thể phân tích cử chỉ nắm tay chất chứa bao tình cảm không lời trong cả hai bài thơ thể hiện sự gắn bó
đồng chí
- Vượt qua mọi khó khăn gian khổ để quyết tâm tiêu diệt giặc hoàn thành nhiệm vụ:
+ Tất cả những khó khăn gian khổ, thử thách được tái hiện bằng những chi tiết hết sức thật, không né tránh tô
vẽ trong cả hai bài thơ.
+ Thế mà, các chiến sĩ đều có một tư thế ngoan cường “chờ giặc tới”, “ung dung nhìn thẳng”.
- Lạc quan tin tưởng: Cả hai bài thơ đều thể hiện tinh thần lạc quan của người lính. Từ “miệng cười buốt giá”
của anh bộ đội kháng chiến chống Pháp đến “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” của anh lính lái xe thời chống
Mỹ đều thể hiện tinh thần lạc quan, khí phách anh hùng.
2. Những điểm riêng khác nhau
- Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu thể hiện người lính nông dân thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp
với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà sâu sắc. Tình đồng chí thiềng liêng hòa quyện với tình giao tiếp khi lý tưởng
chiến đấu đãa rực sáng trong tâm hồn.
“Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ
Đồng chí!”
- Bài thơ “Tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật thể hiện người lính lái xe trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ với vẻ đẹp trẻ trung, ngang tàng. Đây là thế hệ những người lính có học vấn, có bản lĩnh chiến
đấu, có tâm hồm nhạy cảm, có tính cách riêng mang chất “lính”đáng yêu. Họ tất cả vì miền Nam ruột thịt với
trái tim yêu nước cháy bỏng.
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
1. . Minh hoạ phần mở bài:
a.Ví dụ 1 : Phân tích bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm.
Bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm ra đời ngay tại chiến khu Trị –
Thiên, trong những ngày kháng chiến chống Mĩ đang dần đến thắng lợi nhưng vẫn còn vô cùng gian khổ.
Nhà thơ đã tận mắt chứng kiến hình ảnh những bà mẹ Tà-ôi giã gạo nuôi bộ đội đánh Mĩ, để cảm xúc từ hiện
thực thăng hoa thành những vần thơ có sức lay động mãnh liệt. Bài thơ “thể hiện tình yêu thương con gắn với
lòng yêu nước, với tinh thần chiến đấu của người mẹ miền tây Thừa Thiên bằng những khúc ru nhịp nhàng,
mang giọng điệu ngọt ngào trìu mến”.
b. Ví dụ 2: Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy
Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất
hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu như “ Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm
trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc
quan, phong thái ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài thớ “Ánh trăng” của
Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí “uống
nước nhớ nguồn”.
2. Minh họa phân tích một phần trong thân bài
Ví dụ: Không phải ngẫu nhiên khi phổ nhạc bài thơ này, nhạc sĩ Trần Hoàn đã đặt lại tựa đề là Lời ru trên
nương, bởi lẽ chính những lời ru đã làm thành cấu tứ của bài thơ, dẫn dắt ta vào một thế giới mang đậm bản
sắc riêng của người Tà-ôi. Bài thơ như là minh chứng của tấm lòng đồng bào dân tộc một lòng tin theo Đảng,
, thương con thương bộ đội, thương yêu núi rừng nương rẫy làng bản, thương đất nước. Tình thương thành
điệp khúc xuyên suốt theo nhịp chày của mẹ :
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
Có lẽ đây là lời của nhà thơ, hàm chứa bao trìu mến dành cho chú bé Tà-ôi như muốn góp thêm bao thương
mến hoà cùng khúc ru của mẹ. Hình ảnh ấy khiến người đọc bồi hồi nhớ lại những câu thơ viết về người mẹ
Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp của nhà thơ Tố Hữu :
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
Người mẹ chống Pháp và người mẹ chống Mĩ có những điểm tương đồng trong công việc. Nhưng ở Nguyễn
Khoa Điềm, hình ảnh thơ này không xuất phát từ nỗi nhớ mà được cất lên ngay giữa hiện thực chống Mĩ. Nét
đem lại hạt mẩy hạt chắc. Mặt trời của mẹ – em cu Tai là hạnh phúc, nguồn sống của mẹ. Những chú bé Tà-
ôi được tắm trong ánh sáng sẽ trở nên vạm vỡ săn chắc, ánh mặt trời hào phóng ban tặng cho mẹ những đứa
con khoẻ mạnh của núi rừng. Hình tượng sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm đã đem lại những rung cảm thẩm
mĩ đặc biệt.
3. Minh họa phần kết bài
Ví dụ : Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm đã tạo được những cảm xúc đồng
điệu với bao người con miền Nam anh dũng thời chống Mĩ, nói lên trọn vẹn vẻ đẹp và tâm tư của người dân tộc miền
tây Thừa Thiên trung dũng kiên cường, thủy chung với cách mạng. Cảm xúc bình dị trong sáng với hình tượng người
mẹ đã làm nên sức hấp dẫn riêng của tác phẩm. Từ ngôn ngữ đến hình ảnh thơ đều đậm chất dân tộc, đem đến cho
người đọc những cảm nhận đặc biệt thương mến cùng hoà theo lời ru cho giấc ngủ thanh bình của em bé Tà-ôi. Bài thơ
toát lên tinh thần lạc quan cách mạng, kết đọng những ân tình sâu lắng của nhà thơ về nhân dân đất nước cũng như
niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mĩ.
Niềm tin ngày ấy giờ đây đã thành hiện thực. Em cu Tai ngày ấy giờ đây cũng đã trưởng thành và sống làm người Tự
do như niềm mong mỏi ngày nào thiết tha trong lời ru của mẹ. Nhưng lời ru ngày ấy mãi còn sức vang ngân trong lòng
bao thế hệ, bồi đắp tình yêu quê hương đất nước, con người Việt Nam
II- Cách làm bài thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn:
* Cấu tạo đề thi và cách làm bài:
Cấu trúc đề thi thường có 2 phần trắc nghiệm và tự luận
I. Phần trắc nghiệm thường có từ 4 đến 8 câu mối câu có giá trị điểm từ 0,25 đến 0,5 điểm.
Khi làm bài các em đừng vội vàng mà nên tiến hành theo các bước sau:
- Đọc kĩ yêu cầu của từng câu hỏi ( phải dành khoảng 5à 7 phút).
- Đọc xem các câu hỏi có nội dung liên đới bắc cầu giữa câu nọ với câu kia không?
- Xác định ý đúng bước 1 bằng cách dùng bút chì khoang nhẹ vào các ý đó.
- Dùng phương pháp phân tích loại trừ tình huống để loại các ý trả lời gây nhiễu.
- Khi thấy chắc chắn thìquyết định lựa chọn.
- Nếu thấy chưa chắc chắn thì tạm dừng và chuyển xang phần tự luận để làm, làm song phần tự
luận quay lại làm tiếp sẽ có quyết định khách quan hơn.
* Khi đã qua các bước trên, thấy hoàn toàn yên tâm thì mới khoanh hoặc ghi ý lựa chọn tránh
tẩy xoá hoặc đánh dấu gây nhiễu.
II. Phần tự luận thường có từ 3 đến 4 câu liên quan tới các kiến thức về Tiếng Việt, Tập làm văn và
(Chị em Thuý Kiều-Truyện Kiều-Nguyễn Du)
Ví dụ 3: Hãy chép thuộc lòng 6 câu thơ cuối trong bài thơ tiếng gà trưa của nhà thơ Xuân Quỳnh.
- Ta khẳng định đây là đoạn cuối cùng của bài thơ tiếng gà trưa vì vậy ta phải chép như sau:
“Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi cũng vì Bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ”
(Tiếng gà trưa - Xuân Quỳnh)
1,2. Với câu hỏi thuộc dạng tóm tắt tiểu sử tác giả hoặc tóm tắt nội dung tác phẩm văn xuôi
Khi làm các câu hỏi thuộc dạng này các em cần viết thành một đoạn văn hoàn chỉnh, có câu chủ đề
và các ý triển khai.
Về tiểu sử tác giả nên theo các bước sau:
-Tên thật, tên hiệu, tên chữ, các bút danh khác (nếu có)
-Năm sinh, năm mất (nếu có)
-Khái quát sự nghiệp văn chương theo từng chặng
-Khái quát phong cách nghệ thuật độc đáo hoặc nét riêng đặc sắc
-Các tác phẩm chính (kể tên ít nhất 2 tác phẩm)
Ví dụ: Tóm tắt tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên
Chế Lan Viên (1920-1989) tên thật là Phan Ngọc Hoan, quê ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị
nhưng lớn lên ở Bình Định.
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Chế Lan Viên đã nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với
một hồn thơ “kỳ dị” (Hoài Thanh).
Sau Cách mạng ông tiếp tục có nhiều tìm tòi sáng tạo, trở thành một trong những tên tuổi hàng
đầu của nền thơ Việt Nam thế kỷ XX.
Thơ Chế Lan Viên mang tính trí tuệ và triết lý sâu sắc.
Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Các tập thơ chính: Điêu tàn (1937), Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967)…
Lưu ý, khi làm bài, nếu không nhớ tác giả quê ở huyện, xã nào thì chỉ viết tên tỉnh cũng được.
tận và mỗi giây mỗi phút trôi qua là bao tri thức mới được ra đời. Nếu không liên tục học hỏi thì
chúng ta sẽ nhanh chóng bị lạc hậu. Học phải đi đôi với hỏi để hiểu sâu sắc kiến thức, biến tri thức
thành của mình chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động. Câu nói của Bác ra đời đã lâu nhưng đến
nay vẫn còn nguyên giá trị. Mỗi người Việt Nam phải học theo lời dạy của Người để không ngừng
tiến bộ. Và bản thân Hồ Chủ Tịch cũng là tấm gương sáng ngời của một con người suốt đời học hỏi.
Sau đó phải ghi rõ:
vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam: là thành phần biệt lập, thành phần phụ chú
có lẽ: thành phần biệt lập, thành phần tình thái
và: phép liên kết, phép nối
2,2. Phân tich giá trị sử dụng của các phép tu từ, từ loại trong đoạn văn hoặc đoạn thơ.
Khi làm đề này các em cần:
- Đọc kĩ đoạn thơ đó, nhớ, và ghi vào bài làm: Đoạn thơ đó năm ở bài thơ nào? của tác giả nảo?
nội dung của bài thơ đó nói về vấn đề gì? nghệ thuật chủ đạo của bài thơ là gì?
- Ghi ra nháp các tín hiệu nghệ thuật sử dụng trong các câu thơ đó, xác định xem phép tu từ hoặc
từ loại nào là chủ công làm toát lên nội dung của đoạn thơ đó.
- Ghi rõ các từ ngữ biểu hiện các phép tu từ đó
- Tác dụng của các phép tu từ, từ loại, cách hiệp vần trong các câu thơ đó là gì đối với cảnh,
nhân vật trữ tình và với toàn bộ bài thơ và trong việc thể hiện cảm xúc của tác giả
- Đọc lại nháp nếu thấy yên tâm và tin tưởng thì chép vào bài làm. Còn nếu chưa yên tâm thì tạm
dừng ở mức làm nháp. chuyển sang làm các phần tiếp theo và sẽ làm tiếp sau khi đã hoàn thành các
phần khác của bài làm.
VÍ DỤ: Nêu tác dụng của việc sử dụng từ láy trong những câu thơ sau:
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Sè sè nấm đất bên đường,
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Chúng ta phải làm như sau:
- đây là 4 câu thơ trong đoạn “Cảnh ngày xuân” trích truyện Kiều của Nguyễn Du. 4 câu thơ đã
sử dụng các từ láy như: nao nao, nho nhỏ, sè sè, rầu rầu. trong đó các từ láy “nao nao, rầu rầu” là
thời gian cho câu ít điểm, đến khi làm câu nhiều điểm hơn lại không còn thời gian.
Tránh tình trạng làm bài “đầu voi, đuôi chuột” sự phân bố thời gian không hợp lý.
Sự cẩu thả trong một bài văn rất dễ đem lại sự phản cảm cho người chấm, dù bài làm tốt.
Vì vậy, chữ các em có thể không đẹp nhưng phải dễ nhìn và trình bày sạch sẽ.
Nên làm dàn ý trước khi viết bài để bài làm không bị lộn xộn, thiếu ý.
Hãy viết văn giản dị, trong sáng. Tránh diễn đạt quá cầu kỳ, hoa mỹ bởi rất dễ sa vào sáo rỗng.
Phõn thu hai
PHN TIấNG VIấT
I- MễT Sễ NễI DUNG ễN TP TIấNG VIấT:
Tên bài Lí thuyết Thực hành
I- PCHT:
1. Phơng châm
về lợng
2. Phơng châm
về chất
3. Phơng châm
quan hệ
4. Phơng châm
cách thức
5. Phơng châm
lịch sự
- Giao tiếp cõn noi co nụi dung ,
Noi đúng yêu cầu : Không thiếu,
không thừa
- Đừng nói những điều mà mình
không tin là đúng hay không có
bằng chứng xác thực
- Nói đúng vao đề tài, tránh lạc đề
- Nói ngắn gọn, rành mạch, tránh
noi mơ hồ.
gốc của chúng.
- 2 phơng thức : ẩn dụ, hoán dụ
2. Tạo từ ngữ mới
3. M ợn từ ngữ của n ớc ngoài
( Mợn tiếng Hán nhiều nhất)
Ví dụ 1 : Từ Ăn ( có 13 nghĩa). Từ
Chân, Đầu (có nhiều nghĩa)
Ví dụ 2 : O Sin, in ter net, điện thoại di
động
Ví dụ 3 : Ti vi, Gacđbu, quốc kỳ, quốc
ca, giáo viên , học sinh
V. Thuật ngữ
Thuật ngữ : 2 đặc điểm:
- Mỗi thuật ngữ biểu thị một khái
niệm và ngợc lại.
- Không có tính biểu cảm
Ví dụ : Trờng từ vựng, ẩn dụ, hoán dụ
,đơn chất, mẫu hệ thị tộc, d chỉ
VI. Tổng kết
từ vựng
1. Từ đơn và phức
2. Thành ngữ
3. Nghĩa của từ
4. Từ nhiều nghĩa và hiện t ợng
chuyển nghĩa của.
5.Từ đồng âm
6. Từ đồng nghĩa
7. Từ trái nghĩa
8. Cấp độ khái quát của nghĩa từ
b.Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
c. Sóng đã cài then đêm sập cửa
d. Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi
e. Thuyền ta lái gió biển bằng
g.Con ở Miền Nam ra thăm lăngBác
h. Buồn trông ghế ngồi
i. Chữ tài liền với chữ tai một vần
Ví dụ 12 : Ngã- Bổ- Té
VII- Khởi ngữ
- Đứng trớc chủ ngữ nêu đề tài đợc
nói đến trong câu
- Có thể thêm quan hệ từ từ đằng tr-
ớc: Về, đối với
Ví dụ : Giàu, thì tôi cũng giàu rồi.
Sang, thì tôi cũng sang rồi.
VIII- Các
thành phần biệt
lập
1. Tình thái:
- Cách nhìn của ngời nói đối với sự
việc đợc nói đến ở trong câu.
- Gắn với ý kiến của ngời nói:
- Thái độ ngời nói đối với ngời
nghe.
2. Cảm thán: Biểu lộ tâm lí ngời
nói:
Ví dụ : Tin cậy cao : Chắc chắn, chắc