SKKN một số biên pháp phụ dao hoc sinh yeu lop 4 - Pdf 17

Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2009-2010
Một số biện pháp
nhằm nâng cao chất lợng phụ đạo học sinh yếu
của giáo viên chủ nhiệm lớp.
Phần 1: phần mở đầu
I/ Lý do chọn đề tài:
1. Cơ sở lý luận
Trong xu thế hội nhập quốc tế, sự phát triển nh vũ bão của KHCN, giáo dục
đóng vai trò quyết định để phát triển kinh tế - xã hội của mỗi một quốc gia. Vì lẽ
đó, nhiều quốc gia trên thế giới đã tập trung đầu t cho phát triển giáo dục nhằm
xây dựng đợc một nền giáo dục tốt nhất với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực
phục vụ sự phát triển đất nớc.
Nhận thức đợc tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nớc ta đã có nhiều chủ trơng
lớn về GD-ĐT với tinh thần: "GD & ĐT là quốc sách hàng đầu" (NQTW2 khoá
VIII). Mục tiêu GD-ĐT của Đảng và Nhà nớc ta là "Nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dỡng nhân tài" đợc cụ thể hoá trong hiến pháp nớc cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992(sữa đổi); trong luật giáo dục 2005; trong chiến l-
ợc phát triển giáo dục, đào tạo 2001 - 2010. Nâng cao dân trí vừa là động lực để
phát triển kinh tế, nâng cao dân trí cũng là điểu kiện để nâng cao chất lợng cuộc
sống. Mặt khác nâng cao dân trí cũng là động lực để nâng cao chất lợng giáo dục
toàn diện. Điều này đã đợc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X chỉ rõ:
"Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lợng dạy và học". Trong những năm
gần đây, Bộ giáo dục và đào tạo nói chung và các cơ sở giáo dục nói riêng đã có
nhiều nổ lực để nâng cao chất lợng. Cùng với sự nỗ lực đó: chất lợng đại trà đợc
nâng cao, chất lợng mũi nhọn luôn phát triển, ngành giáo dục đã thực sự đào tạo
cho nớc nhà một nguồn nhân lực quý báu.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tích lớn lao đó, trong tiến trình đi lên
không thể không tránh khỏi những thiếu sót mà chúng ta đã và đang mắc phải.
Đó là, hiện tợng chạy theo thành tích rất phổ biến trong ngành giáo dục; đó là,
một số nhà giáo không giữ đợc phẩm chất đạo đức trong nền kinh tế thị trờng; đó
là tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp đang tồn tại ở trong mỗi cơ sở giáo dục.

Tỉnh Quảng Trị.
2. Phạm vi, đối t ợng, ph ơng pháp nghiên cứu:
2.1. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số biện pháp
nhằm nâng cao chất lợng phụ đạo học sinh yếu ở lớp 4A Trờng Tiểu học Kim
Đồng.
2.2. Đối tợng nghiên cứu: Biện pháp nâng cao chất lợng phụ đạo học sinh
yếu của giáo viên chủ nhiệm lớp.
2.3. Phơng pháp nghiên cứu:
2.3.1. Nhóm phơng pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu văn bản, chỉ thị,
Nghị quyết của Đảng, Nhà nớc, của Bộ GD-ĐT về nhiệm vụ nâng cao chất lợng
nói chung và phụ đạo học sinh yếu nói riêng. Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu
giáo trình, sách báo, các chuyên đề dạy học có liên quan đến công tác phụ đạo
học sinh yếu, nghiên cứu báo cáo kế hoạch của trờng tiểu học Kim Đồng thị xã
Đông Hà, tỉnh Quảng Trị và các báo cáo về công tác phụ đạo học sinh yếu của
các trờng trên địa bàn thành phố.
2.3.2. Nhóm các phơng pháp nghiên cứu thực tiễn:
Giáo viên: Lê Văn Lực - Trờng Tiểu học Kim Đồng
2
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2009-2010
- Phơng pháp quan sát.
- Phơng pháp trắc nghiệm.
- Phơng pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động s phạm.
- Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phơng pháp lấy ý kiến chuyên gia, đồng nghiệp.
Phần thứ 2: nội dung
I. Khảo sát tình hình:
Năm học 2009-2010 tôi đợc phân công làm công tác chủ nhiệm lớp 4A, Tr-
ờng Tiểu học Kim Đồng. Qua khảo sát, nghiên cứu, tiếp xúc tôi nhận thấy tập
thể lớp này có những đặc điểm nh sau:
1. Thuận lợi:

Toán
1 3.33 1 3.33 6 20 4 13.3 8 26.7 2 6.67 1 3.33 2 6.67 2 6.67 3 10
Số lợng học sinh điểm Tiếng Việt dới trung bình là: 18/30 em - 60%
Số lợng học sinh điểm toán dới trung bình là: 12/30 em - 40%
- Đa phần học sinh yếu kém đều rơi vào một số lí do tơng đối giống nhau đó
là:
Tố chất kém.
Hoàn cảnh gia đình khó khăn (cha mẹ li dị, không ngời đỡ đầu, điều
kiện kinh tế khó khăn,)
Không có ý thức chăm chỉ học tập dẫn đến hổng kiến thức từ lớp dới.
Tâm lí thất thờng, thiếu tập trung trong học tập.
Trong tất cả các lí do đó, một phần đều xuất phát từ sự ít quan tâm của gia
đình, phó thác cho nhà trờng và giáo viên chủ nhiệm.
- Trong các môn học học bắt buộc ở lớp 4 thì Toán và Tiếng Việt chiếm một
lợng lớn kiến thức (Tiếng Việt: 8 tiết/tuần; Toán: 5 tiết/tuần; và các môn học
khác: 10 tiết/tuần). Vì vậy không dễ dàng để học sinh yếu kém có thể tiếp thu l-
ợng kiến thức lớn đạt yêu cầu. Đặc biệt môn Tiếng Việt do quá trình đọc, viết
kém dẫn đến học yếu các môn học khác. Vì vậy các em dần dần mất đi sự hứng
thú trong học tập.
2.2. Về phía giáo viên:
- Phụ trách lớp học gồm đủ các đối tợng, việc phân chia kiến thức trong một
tiết học còn hạn chế vì bị sự chi phối của thời gian.
- Ngoài thời gian lên lớp, hoạt động tập thể, thời gian phụ đạo cho học sinh
học sinh yếu kém còn quá ít.
- Tâm lí giáo viên đôi khi còn nản chí, thiếu kiên nhẫn đối với những học
sinh yếu.
Dới đây là bảng danh sách học sinh yếu kém Lớp 4A qua khảo sát chất l-
ợng đầu năm và qua quan sát sau tháng học đầu tiên:
TT Họ và tên Học yếu môn Những biểu hiện Địa chỉ
1 Đào Văn Lộc Toán + T.Việt Đọc đánh vần chậm; Không

- Toán + Tiếng Việt: 5 em
II. Những nội dung, giải pháp thực hiện:
1. Công tác khảo sát :
Ngay sau khi nhận lớp giáo viên tiến hành khảo sát phân loại đối tợng; kiện
toàn lại bộ máy ban cán sự lớp. Bố trí chỗ ngồi phù hợp với từng đối tợng. Tìm
hiểu hoàn cảnh gia đình của từng em qua tiếp xúc, qua thăm hỏi động viên.
Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh đầu năm học một cách kỹ lỡng. Xây dựng nội
quy của lớp cũng nh nền nếp tự quản.
- Lập danh sách học sinh yếu của lớp bao gồm học sinh yếu kém từng môn
học hoặc cả hai môn học Toán và Tiếng Việt.
- Tìm hiểu nguyên nhân gây yếu kém của từng em; Phân loại từng đối tợng:
Yếu do hoàn cảnh gia đình (Bố mẹ ly dị; Bố mẹ làm ăn xa,, Kinh tế khó khăn;
gia đình đông anh chị em); Yếu do thiểu năng trí tuệ
- Bố trí chỗ ngồi: Chỗ ngồi của học sinh đảm bảo để giáo viên có thể quán
xuyến và giúp đỡ kịp thời khi các em học sinh gặp khó khăn trong học tập. Bên
cạnh đó, chỗ ngồi cũng phải phù hợp để trong quá trình học tập các em có thể
giúp đỡ nhau. Nhng đồng thời, cũng hạn chế việc những em học sinh ỷ lại vào
bạn mình.
- Giáo viên phải thờng xuyên ân cần giúp đỡ các em trong học tập. Sự nhắc
nhở của giáo viên sẽ tạo cơ hội tốt cho các em. Nhng nếu giáo viên nhắc nhở
không đúng nơi, đúng lúc thì sẽ không tạo đợc hiệu quả tốt.
- Sau khi phân loại học sinh yếu từng môn, giáo viên phân công các học
sinh khá giỏi kèm cặp học sinh yếu trong một số môn học cụ thể là mục tiêu phụ
đạo môn Toán và Tiếng Việt.
2. Lập kế hoạch :
Lập kế hoạch là một khâu quan trong trong quá trình hoạch động. Để có đ-
ợc hiệu quả cao trong công tác phụ đạo học sinh yếu giáo viên cần lập kế hoạch
rõ ràng cụ thể khoa học. Kế hoach phải làm rõ đợc thực trạng của từng học sinh;
kiến thức cần phụ đạo; thời gian phụ đạo; hình thức phụ đạo Kế hoạch phải thể
hiện đợc từng tuần, từng tháng, từng học kỳ có sự kiểm tra đánh giá điều chỉnh

vấn đề về toán khi biết cách thực hiện cộng, trừ, nhân, chia. Chính vì vậy, khi
dạy toán lớp 4 giáo viên cần tập trung vào vấn đề này. Trong quá trình dạy học
các kiến thức về cộng trừ nhân chia giáo viên cần phải chậm, cho học sinh thực
hành nhiều.
+ Chẳng hạn khi dạy bài phép cộng khi giáo viên đa ra phép tính:
GV hớng dẫn cách tính: Cộng theo thứ tự từ phải sang trái
2 cộng 6 bằng 8, viết 8
5 cộng 2 bằng 7, viết 7
Giáo viên: Lê Văn Lực - Trờng Tiểu học Kim Đồng
6
21026
48352
+
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2009-2010
3 cộng 0 bằng 3, viết 3

Giáo viên cần hớng dẫn cụ thể từng bớc tính, tránh chủ quan các kiến thức
này các em đã đợc học ở lớp trên nên chỉ lớt qua. Nếu làm nh vậy số học sinh
khá giỏi sẽ tiếp thu đợc, còn những em học sinh vốn đã yếu sẽ khó tiếp thu, dẫn
đến mất đi sự hứng thú trong học tập ảnh hởng đến các môn học khác.
Sau khi hớng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức mới, giáo viên cần cho học
sinh thực hành các bài luyện tập. Cần chú ý đến các đối tợng học sinh yếu trong
quá trình luyện tập. Biện pháp phụ đạo ngay trong giờ học là cho cả lớp làm trên
giấy nháp. Giáo viên theo dõi hớng dẫn các em học sinh yếu theo từng bớc một
để các em có thể vận dụng kiến thức thành kỷ năng. Đối với học sinh quá yếu
không nắm đợc bảng cộng, bảng trừ, giáo viên dành thời gian vào giờ ra chơi,
đầu các tiết để các em học thuộc bảng cộng, bảng trừ.
Khi dạy bài phép chia cho số có một chữ số. Giáo viên hớng dẫn học sinh
đúng theo các bớc trong quy trình bài dạy. Nhng đối với các học sinh yếu, sự t
duy của các em còn chậm nên hớng dẫn cụ thể trong các bài luyện tập để các em

quán xuyến số học sinh đọc yếu lớn nh vậy nên giáo viên phải vận dụng việc dạy
học các phân môn khác để luyện đọc cho học sinh.
- Trong quá trình rèn đọc, nên phân cân một em đọc yếu ngồi cạnh một
em đọc khá. Trên cơ sở đó trong giờ tập đọc giáo viên cần chú trọng luyện đọc
trong nhóm đôi. Khi đó giáo viên giao nhiệm vụ em đọc khá kèm thêm em đọc
yếu. Nhng nh vậy sẽ ảnh hởng đến việc luyện đọc của những em này. Vì vậy
giáo viên cần phải thờng xuyên giao nhiệm vụ đọc diễn cảm trớc lớp cho những
học sinh này.
- Đối với học sinh không đọc viết đợc (Số học sinh này ít ở lớp 4A chỉ có 2
em): Số học sinh này rất khó để phụ đạo ngay trong tiết học kiến thức mới vì tốc
độ đọc các em quá chậm nếu giao bài cho các em đọc sẽ ảnh hởng đến những
học sinh khác thậm chí cả học sinh khá giỏi. Đối với những học sinh này, giáo
viên thờng gọi lên bảng trong những tiết cả lớp làm bài luyện tập, giao cho các
em đọc một số đoạn văn ngắn, dễ đọc để các em tự đọc giáo viên theo dõi sữa
lỗi. Mức độ đọc khó sẽ đợc tăng dần theo trình độ đọc của từng em. Bên cạnh đó,
giáo viên có thể tận dụng một số giờ học thuộc môn học ít tiết của giáo viên bộ
môn để hớng dẫn các em đọc thêm. Nhng đây chỉ là biện pháp tạm thời đối với
những học sinh cha đọc đợc. Khi phụ đạo những em này đòi hỏi sự kiên nhẫn, sự
quan tâm của giáo viên đối với mỗi em. Cần thể hiện những cử chỉ động viên
khuyến khích tránh những cử chỉ trách mắng, quát nạt. Khi đánh giá những học
sinh này ngời giáo viên cần rộng lợng hơn so với học sinh khác có nghĩa là giáo
viên cần đánh giá dựa trên quan điểm động viên khuyến khích để các em xoá
mặc cảm tự ti vơn lên trong học tập.
3. 2. Phụ đạo ngoài giờ học chính khoá :
- Việc phụ đạo học sinh yếu không diễn ra theo nội dung chơng trình của
Bộ nhng nó cũng không nên diễn ra một cách tùy tiện. Để thực sự phụ đạo có
hiệu quả, ngời giáo viên cần nắm rõ mạch kiến thức toán, Tiếng việt học sinh đó
yếu kiến thức nào, kĩ năng nào? từ đó giáo viên chỉ cần chú trọng luyện tập nội
dung đó, tránh trờng hợp do quá lo lắng giáo viên đã ôm đồm tất cả những kiến
thức trong chơng trình để nhồi nhét học sinh làm các em vốn đã tiếp thu chậm

Tiếng Việt
T
Tiếng Việt
T
Tiếng Việt
T
Tiếng Việt
Đ V C Đ V C Đ V C Đ V C
1 Đào Văn Lộc 1 4 4 4 3 5 2 4 5 5 4 5 5 6 3 5
2 Nguyễn Văn Khải 1 4 5 5 4 6 4 5 5 6 4 5 5 6 3 5
8 Nguyễn Văn Thành 4 4 5 5 4 5 3 4 5 5 5 5 7 7 5 6
3 Nguyễn Thị Láng 2 6 3 5 3 6 4 5 5 5 4 5 6 5 5 5
4 Võ Thị Kim Chi 3 3 3 3 3 5 5 5 5 6 5 6 6 5 5 5
5 Võ Văn Chờng 3 4 2 3 3 5 4 5 5 6 5 6 6 5 5 5
6 Võ Sĩ Đoài 2 1 1 1 1 5 4 5 6 6 5 6 5 6 5 6
7 Nguyễn Thị Anh 2 1 2 2 5 5 5 5 5 6 5 6 5 6 5 6
8 Trần Văn Linh 4 6 3 5 2 5 5 5 5 5 4 5 6 5 5 5
VI. Bài học kinh nghiệm :
Trong quá trình nghiên cứu, xuất phát từ cơ sở lý luận và từ thực tiễn lớp 4A
Trờng Tiểu học Kim Đồng tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
+ Phải tổ chức tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức trong tập thể
giáo viên và cha mẹ học sinh để bảo đảm kế hoạch đợc thực hiện có hiệu quả.
+ Lãnh đạo trờng cần phải quan tâm làm tốt hơn nữa chất lợng các lớp
đầu cấp đảm bảo sự phát triển chất lợng một cách vững chắc. Tăng cờng công tác
Giáo viên: Lê Văn Lực - Trờng Tiểu học Kim Đồng
9
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2009-2010
thanh kiểm tra để đảm bảo dạy thật- học thật- đánh giá thật trong các hoạt
động giáo dục. Chỉ đạo theo dõi các đối tợng học sinh khó khăn trong học tập
-RLĐĐ và học sinh có hoàn cảnh đặc biệt.

- Việc phụ đạo học sinh yếu đồi hỏi phải có sự đồng thuận, quan tâm đầu t
của tập thể cán bộ giáo viên trong nhà trờng, của gia đình và của toàn xã hội.
- Phụ đạo học sinh yếu cũng là cách để chúng ta hởng ứng tốt cuộc vận
động "hai không" của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Giáo viên: Lê Văn Lực - Trờng Tiểu học Kim Đồng
10
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2009-2010
Đề tài triển khai nghiên cứu tại lớp 4A Trờng Tiểu học Kim Đồng - Thành
phố Đông Hà - tỉnh Quảng Trị. Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, đề xuất
biện pháp, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự đóng
góp ý kiến của các đồng nghiệp để đề tài có hiệu quả sử dụng trong thực tế cao
hơn.
Đề tài chỉ tập trung giải quyết một số biện pháp trong những vấn đề đợc đặt
ra. Những vấn đề còn lại là định hớng nghiên cứu tiếp của đề tài ở một giai đoạn
và mức độ khác. Nhng tôi hy vọng đề tài có thể áp dụng đợc ở một số lớp có điều
kiện thực tế tơng tự nh ở lớp 4A, Trờng Tiểu học Kim Đồng.
Phần thứ IV: Kiến nghị đề xuất.
1. Về phía phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố: Cần có những chuyên đề
phụ đạo học sinh yếu triển khai từ đầu năm học, tạo mọi điều kiện để tất cả giáo
viên có thể tiếp cận chuyên đề này một cách cụ thể nhất.
2. Về phía nhà trờng: Cần làm tốt công tác khảo sát giao chất lợng đầu năm
học. Quán triệt một cách triệt để công tác phụ đạo học sinh yếu, tăng cờng công
tác dự giờ thăm lớp, kiểm tra đánh giá.
3. Về phía Chính quyền địa phơng và Hội cha mẹ học sinh: Cần tuyên
truyền sâu rộng trong toàn thể nhân dân và Hội cha mẹ học sinh về ích lợi của
việc học tập đó là: nâng cao dân trí chính là cải thiện điều kiện kinh tế cho mỗi
gia đình về lâu dài.
Đông Hà, tháng 04 năm 2010
Ngời viết
Lê Văn Lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status