chuyên ngành phương pháp nhu cầu của học sinh thpt về sự quan tâm của giáo viên - Pdf 17

Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du
I. Lý do chọn đề tài
Với mỗi lứa tuổi khác nhau nhu cầu về sự quan tâm trong cuộc sống là khác
nhau, nhng luôn có một điểm chung là mong muốn đợc chia sẻ với ngời khác. Với
học sinh THPT ngời khác ở đây có thể là bạn bè, bố (mẹ), và không thể thiếu đợc
vai trò của thầy (cô). Không riêng gì học sinh THPT mà tất cả mọi ngời nói chung
khi gặp phải một vấn đề khó khăn trong cuộc sống hay một vấn đề thuận lợi ai
cũng muốn đợc chia sẻ, để làm vơi đi nỗi buồn hay tăng thêm niềm vui. Không chỉ
vậy khi đợc chia sẻ con ngời cảm thấy tự tin, vững vàng và thích nghi với cuộc sống
dễ dàng hơn, trở nên yêu cuộc sống hơn và làm đợc nhiều điều có ý nghĩa hơn.
Sự phát triển với tốc độ nhanh và đầy biến động của nền kinh tế xã hội,
các yêu cầu ngày càng cao của nhà trờng và cả những điều bất cập trong thực tiễn
giáo dục, thêm vào đó là sự kỳ vọng quá cao của cha mẹ thầy (cô) đang tạo ra
những áp lực rất lớn mà gây căng thẳng cho học sinh trong cuộc sống, trong học
tập và trong quá trình phát triển. Mặt khác, sự hiểu biết của học sinh về bản thân
mình cũng nh kỹ năng sống của các em vẫn còn hạn chế trớc những sức ép nói trên.
Hậu quả là ngày càng có nhiều học sinh gặp không ít khó khăn trong học tập, tu d-
ỡng, xây dựng lý tởng sống cho mình cũng nh xác định cách ứng xử phù hợp trong
những mối quan hệ xung quanh. Chính vì vậy học sinh rất cần đợc sự trợ giúp của
ngời lớn ( thầy (cô) giáo và cha (mẹ) ). Vấn đề đặt ra là để trợ giúp học sinh vợt qua
các khó khăn tâm lý, giải quyết nhu cầu cần đợc chia sẻ khó khăn trong cuộc sống
thì các nhà giáo dục cần phải biết các em đã và đang gặp những khó khăn gì, ở mức
độ nào, các em cần phải làm gì để giải quyết những khó khăn đó. Muốn vậy thì ng-
ời lớn phải quan tâm hơn nữa đến các em.
Đặc biệt là học sinh THPT đang ở tuổi mới lớn, đang ở giai đoạn chuyển từ
trẻ con sang ngời lớn thì nhu cầu về sự quan tâm càng thể hiện rõ nét hơn. Các em
cần đợc chia sẻ về các vấn đề mà các em gặp phải, hay đang diễn ra trong cuộc
sống để các em có cách giải quyết tốt nhất, giúp các em có một cái nhìn thiện cảm
với thế giới xung quanh, có động lực để vơn lên trong cuộc sống, có ý chí trong học
tập và rèn luyện.
Trong giai đoạn hiện nay do chạy theo kinh tế, bận bịu với cuộc sống nên

viên để từ đó đa ra những hớng giải quyết, những biện pháp nhằm đáp ứng đợc
nhu cầu tâm lý của học sinh THPT giúp các em hoàn thiện nhân cách và trở thành
công dân u tú của đất nớc.
III. Đối tợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của
đề tài
- Đối tợng nghiên cứu: Thực trạng nhu cầu của học sinh phổ thông về
sự quan tâm của giáo viên
- Khách thể: học sinh THPT
- Thời gian nghiên cứu: Thời gian đi thực tập cộng với 5 tháng trớc
đọc tài liệu và khảo sát sơ bộ thực tế
Khoa s pham-Vt lý 48
2
Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du
- Phạm vi nghiên cứu: 300 học sinh THPT Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn,
Việt Đức Hà Nội với nhu cầu về sự quan tâm của giáo viên.
IV. Giả thuyết khoa học
1. Nhu cầu về sự quan tâm của giáo viên ở HS THPT là khá cao nhng cha
đợc thoả mãn.
2. Nếu giáo viên thoả mãn nhu cầu đợc quan tâm của học sinh thì học
sinh sẽ có môi trờng tâm lý thuận lợi để học tập và tu dỡng.
V. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhu cầu của học sinh THPT
về sự quan tâm của giáo viên.
- Thực trạng sự quan tâm của giáo viên với học sinh
- Đề xuất giải pháp, hớng khắc phục về nhu cầu của học sinh về sự
quan tâm của giáo viên
- Kết thúc vấn đề
VI. Phơng pháp nghiên cứu
1. Phơng pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích tổng hợp lý thuyết về nghiên cứu tâm lý học sinh THPT

Chơng 2: Thực trạng về sự quan tâm của giáo viên dành cho học sinh
THPT
Chơng 3: Một số giải pháp để thoả mãn nhu cầu về sự quan tâm của học
sinh THPT
Phần 3: Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Khoa s pham-Vt lý 48
4
Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du
Chơng I: cơ sở lý luận
1.1 Sơ lợc lịch sử nghiên cứu về nhu cầu của học sinh về sự quan tâm
của giáo viên
Nhu cầu về sự quan tâm của giáo viên là một trong những nhu cầu về tâm lý.
Nó là một nhân tố của tâm lý học.
Tâm lý học có từ nhiều thế kỷ, nó xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI trớc công
nguyên trải qua một thời gian dài phát triển và hoàn thiện ngời ta phân thành hai
thời kỳ cơ bản nhất.
- Tri thức tâm lý học phát triển trong triết học và khoa học khác trớc
hết là khoa học tự nhiên từ thế kỷ VI trớc công nguyên đến giữa thế kỷ XIX. Thời
kỳ này khởi đầu là Platông (427- 347)
- Tâm lý phát triển nh một ngành khoa học độc lập từ giữa thế kỷ XIX
đến nay [6 ]
Lịch sử phát triển của nhu cầu tâm lý gắn liền với lịch sử phát triển của tâm
lý và gắn liền với tên tuổi các nhà nghiên cứu tâm lý học. Cùng với sự ra đời của
TLH là những nghiên cứu về nhu cầu của con ngời trong cuộc sống hàng ngày. Ra
đời từ rất sớm nhng nhu cầu ấy thực sự đợc quan tâm và đa ra hệ thống các quan
điểm khoa học thì bắt đầu vào đầu thế kỷ XVIII với các quan điểm khoa học nh
sau.
E.Côđinhắc (1715-1780) ngời Pháp cho rằng: khởi nguồn là khứu giác,

kịch vô thức tâm lý bên trong.[6]
K.Lêvin (1890-1947) cho rằng: nhu cầu là cơ sở của tính tích cực ở bất kỳ
hình thức hoạt động nào (t duy, trí nhớ hay hành vi).Nhu cầu là khát vọng, là xu h-
ớng thực thi một mục đích nào đó đặt ra trớc chủ thể. Để phân biệt khái niệm nhu
cầu của mình với khái niệm nhu cầu mang tính sinh học, mà trớc đó đợc các tác giả
khác đề cập đến, Lêvin gọi chúng là nhu cầu lợng tử. Nhu cầu này sẽ hình thành
trong nhân cách một hệ thống luôn có xu hớng phóng điện. Lúc phóng điện cũng là
lúc diễn ra sự thoả mãn nhu cầu Mỗi đồ vật, trong trờng hợp tâm lý không chỉ có
những đặc điểm vật lý, mà còn nằm trong những mối quan hệ nào đó với những
nhu cầu của chủ thể. Chính những nhu cầu quyết định đồ vật này có đặc điểm thúc
đẩy hành động, có giá trị dơng tính, còn đồ vật khác không thúc đẩy hành động, có
giá trị âm tính. Nh vậy trong trờng tâm lý có các đồ vật với giá trị âm - dơng tính
khác nhau theo quan hệ với nhu cầu.
Phrớt (1856-1939) thì cho rằng: Giấc mơ có cả trong ngời bình thờng lẫn
ngời bệnh, chúng là sự thoả hiệp giữa các nhu cầu của các xung đột bị đè nén (các
đam mê bị đè nén) với sự đối kháng của các lực lợng kiểm duyệt.[6]
G.Xaliven (1892-1949) bác sĩ tâm thần thực hành, nhà giáo và nhà biên tập
tạp chí tâm thần học, tác giả của quan điểm tâm thần học liên nhân cách cho rằng
đứa trẻ tham gia vào các quan hệ liên nhân cách ngay từ khi mới lọt lòng do ảnh
Khoa s pham-Vt lý 48
6
Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du
hởng của các nhu cầu thực thể, nhu cầu về sự dịu dàng, khát vọng tránh đợc sự
khiếp sợ nảy sinh từ các quan hệ không thiện chí.[6]
E.Phrom (1900-1980) là đại diện của chủ nghĩa Phrớt mới, là tác giả của
Phân tâm học nhân văn triệt để, Để vợt qua những cảm xúc nặng nề này (bất
lực, vô nghĩacủa cá thể), các xung- nhu cầu xuất hiện. Con đờng duy nhất để giải
quyết đợc công việc có hiệu quả, đó là những mối quan hệ tốt với thế giới, với tự
nhiên Con ngời chỉ có cách duy nhất là tự chiến thắng sự cô đơn bằng cách ngoan
ngoãn tuân thủ hoặc tham gia vào các quan hệ với nhiều ngời hay với thế giới, mà ở

mình. Nh vậy nhu cầu là nguyên nhân khởi đầu có các hành động khác nhau của
con ngời, là thuộc tính tâm lý của cá nhân, là một yếu tố trong nhóm xu hớng của
cấu trúc nhân cách. Nó có tác dụng xác định xu hớng của cá nhân, xác định thái độ
của con ngời đối với hiện thực đã là trách nhiệm của bản thân. Nó ảnh hởng mạnh
mẽ đến lối sống và hoạt động của cá nhân.
Nhu cầu thúc đẩy hoạt động tích cực của con ngời nhằm thoả mãn nhu cầu
của bản thân. Nếu mục đích là cái đích cuối cùng mà con ngời hớng tới thì nhân
cách là nguyên nhân thúc đẩy động cơ của con ngời. Nhu cầu là những mong
muốn, những đòi hỏi xuất phát từ bên trong cơ thể, trớc sự hiện diện của các yếu tố
khách quan từ môi trờng, hoàn cảnh, các điều kiện sống và làm việc.
Mặc dù nhu cầu là đòi hỏi khách quan của con ngời, những bản chất hoạt
động là hành động có ý thức, chính vì vậy mà nhân cách trở thành động cơ thúc đẩy
tính tích cực hoạt động của con ngời nó đã đợc phản ánh qua ý thức. Qua sự phản
ánh đó của ý thức mà nhu cầu khách quan trở thành chủ quan. Nó định hớng có suy
nghĩ ý thức, tình cảm của cá nhân, nó xác định xu hớng và kích thích con ngời hoạt
động để thoả mãn nhu cầu. Nói cách khác nhu cầu là nguồn gốc tính tích cực hoạt
động của con ngời.
Nhu cầu là lợi ích, là hạt nhân của đời sống tâm lý đợc biểu hiện rõ nhất ở
thái độ, tình trạng, lối sống của đời sống hàng ngày của con ngời nó tham gia thúc
đẩy hành vi của xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nhìn vào một
xã hội phát triển hay không phát triển, ổn định hay không ổn định ta căn cứ vào
nhu cầu và các quan hệ xã hội, quan hệ vật chất, tinh thần và lợi ích của con ngời
trong xã hội.
Con ngời trong xã hội muốn tồn tại và phát triển thì phải có các yếu tố nh thể
lực, trí tuệ. Tuy nhiên muốn đảm bảo sự phát triển của các yếu tố này thì phải có
điều kiện cần thiết đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con ngời đợc đáp ứng.
Nhu cầu quyết định và thúc đẩy toàn bộ hoạt động của con ngời. Nhu cầu
nếu đợc thoả mãn sẽ làm tăng tính tích cực của con ngời, không đợc thoả mãn sẽ
làm nảy sinh các âm tính, là nguyên nhân dẫn đến những hạn chế tiêu cực, tiêu chí
lệch lạc về nhu cầu và bệnh hoạn về tâm thần.

hoạt động nhằm tới đối tợng.
- Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phơng thức thoả mãn
nó quyết định.
- Nhu cầu của con ngời khác xa về chất so với NC của con vật. NC của
con ngời mang bản chất xã hội.
- Nhu cầu của con ngời rất dạng: Nhu cầu vật chất gắn liền với sự tồn
tại của cơ thể nh: Nhu cầu ăn, ở, mặc; Nhu cầu tinh thần bao gồm:
Nhu cầu nhận thức, thẩm mỹ, lao động, giao lu, hoạt động xã hội
Khoa s pham-Vt lý 48
9
Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du
- Nhu cầu có tính chu kỳ: Nhu cầu xuất hiện, đợc thoả mãn sau lại
xuất hiện rồi lại thoả mãnNgoài ra xuất hiện theo chu kỳ của thời gian, mùa, sự
phát triển của xã hội[12; 45]
Nhu cầu nảy sinh trong cuộc sống, con ngời càng hoạt động bao nhiêu thì
càng nảy sinh bấy nhiêu. Nh vậy cần phải đa học sinh vào những hoạt động lành
mạnh đặc biệt là hoạt động học tập để khơi gợi nhu cầu hoạt động thực sự của các
em.
1.2.2 Các loại nhu cầu
Có rất nhiều cách phân loại nhu cầu, sau đây là cách phân loại theo TLH ph-
ơng tây. Theo Henrry Murray thì tồn tại những loại nhu cầu sau:
1. Chiếm u thế: Kiểm soát, gây ảnh hởng, điều khiển hành vi
2. Gây hấn: Bằng lời nói làm nhục lên án, lăng mạ
3. Tìm kiếm các mối quan hệ bạn bè, hữu nghị, tình yêu, ý chí, thiện cảm
4. Bỏ rơi ngời khác: Khớc từ những cố gắng xích lại gần nhau, hay chỉ trích,
thô tục, biệt lập
5. Tự trị: nổi bật, sự vợt ra khỏi kìm kẹp, thoát khỏi sự bảo trợ
6. Phục tùng thụ động: Tuân thủ thụ động sức mạnh, chấp nhận, thừa nhận
7. Nhu cầu tôn trọng, ủng hộ, nguyện vọng muốn làm dới quyền ngời giỏi
hơn, trở thành ngời kế tục

đó thuộc thứ bậc nào để từ đó giải quyết vớng mắc của học sinh, các nhu cầu cơ
bản đợc giải quyết trớc tiên, sau đó giải quyết các nhu cầu bậc cao siêu.
1.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT
1.3.1 Đặc điểm nhận thức
Sự phát triển tự ý thức
- HS THPT cho rằng hình ảnh bên ngoài có thể tạo cho mình uy tín và
sự mến phục trong bạn bè cùng tuổi (nhiều em trở nên lo lắng nếu hình ảnh bên
ngoài không bình thờng)
- Phẩm chất cá nhân: so sánh mức độ kỳ vọng của mình với kết quả
đạt đợc. So sánh về mặt xã hội và đối chiếu với những ngời xung quanh về bản thân
mình
Khoa s pham-Vt lý 48
11
Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du
Sự hình thành thế giới quan
Thế giới quan là hệ thống những quan điểm về tự nhiên- xã hội, những
nguyên tắc và quy tắc c xử, định hớng giá trị con ngời
- Tính tích cực nhận thức: Phát triển những hứng thú và nhận thức về vấn đề
tự nhiên và xã hội, xây dựng quan điểm của riêng mình.
Nội dung của thế giới quan: Quan tâm đến con ngời, vai trò của con ngời
trong lịch sử, quan hệ giữa con ngời và xã hội, vấn đề ý nghĩa của cuộc sống Từ
đó tạo khuynh hớng cho các em về một cuộc sống tích cực vì xã hội, muốn mang
lại lợi ích cho ngời khác, quan tâm đến đời sống tinh thần hơn vật chất.
Tuổi thanh niên là một hiện tợng tâm lý xã hội: Sự trởng thành về mặt thể
chất, công dân (nhân cách), trí tuệ, năng lực lao động nên vị trí của thanh niên đã
có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trớc.
Hình dáng và bề ngoài đợc coi là ngời lớn đòi hỏi chúng phải độc lập, phải
có ý thức trách nhiệmcòn mặt khác thì lại không, mà ngời lớn thì đòi hỏi chúng
phải thích ứng với cha mẹ hay giáo viên nói riêng và những ngời lớn nói chung.
Điều này tạo ra vị trí không xác định với lứa tuổi này.

mà lí luận trừu tợng tỏ ra hay hơn, thú vị hơn hoạt động thực tiễn. Khi đó chúng ta
không nên ngăn cấm hay áp đặt mà hãy để trẻ nói lên suy nghĩ của mình và từ từ
giải thích những suy nghĩ sai, khuyến khích những ý tởng tốt, định hớng cho trẻ
những suy nghĩ độc lập .
1.3.2 Đặc điểm đời sống tình cảm
1.3.2.1 Tình cảm phát triển mạnh
Mọi loại tình cảm trong giai đoạn này đều phát triển: tình cảm trách nhiệm,
tình bạn thân thiết, tình yêu và cả tính hài hớc. Sự yêu ghét thể hiện rõ ràng, trẻ có
yêu cầu cao hơn đối với tình bạn (yêu cầu sự chân thật lòng vị tha, tin tởng, tôn
trọng nhau và sẵn sàng giúp đỡ nhau, hiểu biết lẫn nhau). Vì lẽ đó nếu nh gặp phải
sự không trung thực, sự thiếu tôn trọng, điều này sẽ ảnh hởng lớn đến tâm lý của
các em tạo một cái nhìn không thiện cảm với cuộc sống, ảnh hởng đến sự hình
thành nhân cách. Đặc biệt khi gặp phải những rắc rối này các em cần đợc chia sẻ
kịp thời.
1.3.2.2 Quan hệ xã hội phong phú
- Tình cảm đạo đức: Thái độ rõ ràng với các vấn đề, hiện tợng đặc
điểm xã hội. Các em có sự phê phán sự đánh giá với các vấn đề đó và biểu thị tình
cảm đạo đức này với ngời khác, với tập thể với bản thân nh tình bạn bè, tình đồng
chí, tình yêu tổ quốc
- Tình cảm trí tuệ: Các em say mê với môn học mà mình yêu thích,
tích cực nhận thức, sáng tạo, phê phán, các em có thái độ rõ ràng, các quan điểm ý
tởngđể thoả mãn nhu cầu trí tuệ của mình. Không nên quá căng thẳng hay áp đặt
Khoa s pham-Vt lý 48
13
Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du
với các em nếu môn học của bạn không đợc yêu thích mà phải nhẹ nhàng khuyên
giải các em để giữa giáo viên và học sinh có một sự đồng cảm tạo tâm lý tốt cho
môn học. Có thể nhận thức của các em cha đúng giáo viên phải chỉ ra đợc nhận
thức đó là sai từ đó các em có thái độ đúng với môn học.
- Tình cảm thẩm mĩ: liên quan đến nhu cầu thẩm mĩ, nhu cầu cái đẹp

Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du
*Sự phát triển tình yêu
Tình bạn khác giới có thể dẫn đến tình yêu (một tình cảm mới rất tự nhiên ở
tuổi thanh niên) trẻ ở tuổi 15, 16 rất khó khăn trong giao tiếp với bạn khác giới, các
em nam thờng căng thẳng hơn các em nữ vì các em nữ trởng thành sớm hơn.
Sự phát triển ở lứa tuổi này đã đặt ra trong công tác giáo dục nguyên tắc tế
nhị khéo léo. Nếu thấy xuất hiện tình cảm tình yêu ban đầu ở lứa tuổi thanh niên thì
nên coi đó là chuyện bình thờng và là sự phát triển tất yếu ở con ngời. Chúng ta
không nên có thái độ thô bạo với các em vì đó là tình yêu lành mạnh, tình cảm
trong sáng. Nhà giáo dục phải giúp đỡ các em một cách tế nhị để có một tình yêu
trong sáng, vì tình yêu trong sáng ở lứa tuổi này phụ thuộc vào công tác giáo dục.
Tình yêu của các em còn phụ thuộc vào trình độ đạo đức mà các em đợc giáo dục.
Nếu các em đợc giáo dục ngay từ nhỏ lòng tự trọng, tinh thần sẵn sàng giúp đỡ ng-
ời khác, thái độ tôn trọng ngời khác, khả năng kiềm chế mìnhthì các em thể hiện
phẩm chất đó với ngời mình yêu. Sự phát triển của tình yêu còn phụ thuộc vào khả
năng tiếp xúc với con ngời, khả năng hiểu con ngời một cách sâu sắc.
Các em đầu tuổi TN có tình yêu không lành mạnh sẽ làm cho các em sao
nhãng học tập, thu mình vào những rung động riêng của cá nhân vì vậy các nhà
giáo dục cần phải tạo điều kiện để tình yêu ấy mang tính chất khác hoặc lôi cuốn cá
nhân vào hoạt động hấp dẫn.
Những nhà giáo dục hãy quan tâm đến những nhu cầu tình cảm của các em
và những rắc rối mà các em gặp phải trong tình yêu cần đợc xan sẻ kịp thời tránh
để xảy ra những khủng hoảng tâm lý ở độ tuổi này. Sự thông cảm sẻ chia về nhu
cầu tâm lý lúc này là rất cần thiết vì các em cần một lời khuyên từ những ngời đi tr-
ớc có kinh nghiệm hơn.
1.2.3.4 Sự phát triển t duy
Trong giai đoạn này sự chặt chẽ hơn, có căn cứ hơn, nhất quán hơn, đồng
thời tính phê phán của t duy cũng phát triển. Đây là cơ sở để phát triển óc phê phán
giúp các em phân tích đợc mối quan hệ của sự vật hiện tợng trong thế giới khách
quan, là cơ sở để hình thành thế giới quan.

1.3.3 Nhu cầu cơ bản của học sinh THPT
1.3.3.1 Nhu cầu tham vấn:
Trong học tập và trong cuộc sống các em luôn gặp rất nhiều khó khăn nhng
không biết cách giải quyết. Các em cần có đợc sự hớng dẫn để tháo gỡ những vấn
đề đó một cách có hiệu quả nhất. Các em cần có ngời hiểu và chỉ đờng đi cho các
em, các em cần đợc biết việc mà mình gặp phải đang ở mức độ nào? có nghiêm
trọng không? và cụ thể là bây giờ các em phải làm gì? Và các em cần có ngời t
vấn cho các em, và khuyên các em phải làm gì, khi có khó khăn các em đã có một
nơi tin tởng để chia sẻ, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến học tập và hớng
nghiệp.
Các kết quả khảo sát về khó khăn tâm lý của học sinh THPT đã cho các t
liệu rất đáng ngại. Vấn đề đặt ra tiếp theo là các em đã giải quyết khó khăn của
Khoa s pham-Vt lý 48
16
Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du
mình nh thế nào? có nhu cầu trợ giúp từ phía các nhà tham vấn (có thể là thầy (cô)
giáo hoặc bố (mẹ), anh, chị ) ?
+ Cách thức giải quyết khó khăn tâm lý ở học sinh THPT. Trớc các khó
khăn tâm lý học sinh có nhiều cách giải quyết khác nhau. Sau đây là những số liệu
mà các tác giả (trờng ĐH s phạm) của bài viết về vấn đề này nêu ra [10]. Với
những số liệu về học sinh THPT trong khu vực thủ đô Hà Nội.
Bảng 1: Cách thức giải quyết khó khăn tâm lý ở HS THPT
Cách
giải
Quyết

âm
thầm
chịu
đựng

tâm sự với bạn bè (66.6%), thậm chí âm thầm chịu đựng lên tới (42,6%), còn với
thầy (cô) giáo, cha (mẹ) là rất ít điều đó cho thấy các em cha tìm đợc nơi để chia sẻ
và gửi gắm tâm sự.
Thứ 2: Chỉ có 20,4% học sinh đợc khảo sát khẳng định, cách giải quyết nh
hiện tại của các em là có hiệu quả. Số còn lại 79.6% có hiệu quả nhng không cao.
Khi các em âm thầm chịu đựng hay tâm sự với bạn bè chỉ là hình thức để giải
quyết những bức xúc lúc đó (nh nói ra cho nhẹ ngời ) chứ vẫn cha tìm đợc hớng đi
cho vấn đề, và nó vẫn luôn tồn tại.
+ Nhu cầu của học sinh về hình thức tổ chức tham vấn: để tìm hiểu rõ
nhu cầu này chúng ta sẽ tham khảo bảng số liệu sau.
Bảng 2: Nhu cầu của học sinh về hình thức tổ chức tham vấn
Các hình
thức
Tham vấn
trực tiếp
Tham vấn
trực tiếp
Tham vấn
qua điện
Tham vấn
tại khu dân
Tham vấn
qua th từ
Khoa s pham-Vt lý 48
17
Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du
tại nhà tại trờng thoại c
Số l-
ợng(%)
26.7 59.2 50.1 39.8 66.4

sở phát triển của Khoa học Tâm lý Giáo dục. Hiện nay công tác giáo dục nh giao
Khoa s pham-Vt lý 48
18
Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du
khoán cho giáo viên chủ nhiệm. Nhng giáo viên chủ nhiệm không đợc trang bị đầy
đủ cả lý thuyết lẫn kỹ năng để ra trờng có thể hành nghề.
Thứ t: những thành tựu khoa học Tâm lý Giáo dục của các trờng s phạm,
các viện nghiên cứu hỗ trợ cho sự phát triển các khoa học tâm lý giáo dục trong các
nhà trờng phổ thông hiện nay.[16]
1.3.3.3 Nhu cầu giao tiếp:
Giao tiếp là hình thức đặc trng cho mối quan hệ ngời ngời, là nhân tố
cơ bản của việc hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách. [4;181-183]
Trong cuộc sống giao tiếp là sự giao lu của các đối tợng trong giao tiếp,
thông qua hoạt động giao tiếp các em có thể học hỏi, khẳng định mình, mở rộng
mối quan hệ, hiểu đối tợng giao tiếp Tất cả những điều đó làm cho các em trởng
thành hơn trong suy nghĩ khi các em đợc tham gia những hoạt động giao tiếp bổ
ích. Hơn nữa nhu cầu về tình bạn của các em rất lớn mà tình bạn hình thành trong
các hoạt động giao tiếp, chính vì vậy mà đây là hoạt động không thể thiếu, là một
nhu cầu thiết yếu với lứa học sinh THPT.
Sự giao tiếp giáo viên- học sinh cũng ảnh hởng lớn đến sự hình thành nhân
cách. Học sinh thờng học theo thầy (cô) giáo và coi thầy (cô) là chuẩn mực chính vì
thế ngôn ngữ, cử chỉ, hành vi của giáo viên ảnh hởng rất lớn đến sự hình thành nhân
cách của học sinh. Mà chúng ta đã biết cái tốt đôi khi không ảnh hởng lớn nhng cái
xấu thì ảnh hởng rất lớn và rất nhanh.
Giao tiếp không chỉ để thoả mãn câu trả lời cho câu hỏi đặt ra mà thông qua
giao tiếp còn cho ta thấy đợc tính cách, suy nghĩ của ngời đó hay cũng có thể là
nhu cầu tâm lý của đối tợng giao tiếp. Trong giao tiếp của giáo viên và học sinh con
tạo thên sự gần gũi gắn bó tình cảm thầy trò, qua đó có thể tạo cho học sinh một
điểm tựa vũng chắc, một nơi tin tởng để dốc bầu tâm sự.
1.3.3.4 Nhu cầu tự khẳng định mình:

Một nhu cầu không thể thiếu vì nó cũng góp phần trong đáp ứng một số
nhu cầu khác của các em, đặc biệt là nhu cầu thẩm mĩ và vui chơi giải trí. Nếu
không đợc đáp ứng thì có thể các em luôn cảm thấy tự ti trớc bạn bè, đôi khi còn là
nguyên nhân gây xung đột với gia đình vì đã không đáp ứng nhu cầu này cho các
em. Nhng nếu nhu cầu này đợc các gia đình đáp ứng quá mức sẽ gây cho các em
cảm giác không biết quý trọng những vật chất mà các em đang có, ngoài ra nó còn
ảnh hởng không tốt đến suy nghĩ của các em, không biết coi trọng những giá trị vật
chất mang lai giá trị tinh thần trong cuộc sống. Nguy hiểm hơn cả là có những em
suy nghĩ có tiền có thể mua đợc tất cả hoặc làm mọi cách để kiếm tiền kể cả vi
phạm pháp luật. Nhu cầu vật chất của các em có thể bị ảnh hởng rất nhiều từ gia
đình, bởi đây là nguồn cung cấp vật chất chủ yếu của các em, đồng thời suy nghĩ
của bố (mẹ) cũng gây ảnh hởng lớn đến suy nghĩ của các em. Vì vậy nhu cầu vật
chất của học sinh THPT cần phải có sự kết hợp giáo dục chặt chẽ trong nhà trờng
và gia đình cộng với sự hợp tác của các tổ chức xã hội.
1.4 Đặc điểm nhân cách của ngời giáo viên
Khoa s pham-Vt lý 48
20
Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du
1.4.1 Vai trò, nhiệm vụ của ngời giáo viên
1.4.1.1 Vai trò và trách nhiệm của ngời giáo viên
- Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lợng giáo
dục
- Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gơng tốt cho ngời
học
- Nhà nớc tổ chức đào tạo, bồi dỡng nhà giáo: có chính sách sử dụng,
đãi ngộ, đảm bảo các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực
hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng
nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học. [3]
1.4.1.2 Nhiệm vụ của ngời giáo viên
- Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện

1.4.2.2 Phẩm chất của ngời thầy giáo
- Thế giới quan khoa học. Là trình độ học vấn của ngời thầy giáo, là
việc nghiên cứu nội dung giảng dạy, là ảnh hởng của thực tế đất nớc, là do việc
nghiên cứu triết học.
- Lý tởng đào tạo thế hệ trẻ. Niềm say mê nghề nghiệp, lòng yêu trẻ, l-
ơng tâm nghề nghiệp, tận tuỵ hy sinh với công việc, tác phong làm việc cần cù,
trách nhiệm, lối sống giản dị và thân tình. Nếu trờng s phạm không giáo dục lý t-
ởng nghề ghiệp cho giáo sinh thì cũng nh A.X.Mâcrencô đánh giá là không giáo
dục gì hết.
- Lòng yêu trẻ. Yêu trẻ là một trong những phẩm chất đạo đức cao quý
của con ngời, là một phẩn chất đặc trng trong nhân cách ngời thầy giáo, vì lòng th-
ơng ngời đó là đạo lý của cuộc sống. Bí quyết thành công của ngời thầy giáo xuất
sắc là bắt nguồn từ một thứ tình cảm vô cùng sâu xắc- đó là tình yêu trẻ. Khẩu hiệu
của các trờng học hiện nay ở nớc ta tất cả vì học sinh thân yêu cũng là xuất phát
từ thứ tình cảm đó.
- Lòng yêu nghề (yêu lao động s phạm) càng yêu ngời bao nhiêu,
càng yêu nghề bấy nhiêu. Để đạt đợc thành tích trong công tác, ngời thầy giáo
phải có một phẩm chất- đó là tình yêu. Ngời thầy giáo có tình yêu trong công việc
là đủ cho họ trở thành ngời giáo viên tốt.
[1; 342 ]
- Một số phẩm chất đạo đức và phẩm chất ý trí của ngời thầy giáo. Ng-
ời thầy giáo giáo dục học sinh không những bằng những hành động trực tiếp của
mình mà còn bằng tấm gơng của cá nhân mình, bằng thái độ và hành vi của chính
mình đối với hiện thực.
[2; 202-208]
Phẩm chất của giáo viên nh một tấm gơng để học sinh soi mình vào đó phấn
đấu rèn luyện hoàn thiện mình. Những gì mà giáo viên dành cho học sinh sẽ là
Khoa s pham-Vt lý 48
22
Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du

tình cảm của mình bằng lời nói cũng nh nét mặt và điệu bộ. Nó là công cụ còn đảm
bảo cho ngời thầy giáo thực hiện chức năng dạy học và giáo dục của mình. Thông
qua ngôn ngữ có thể diễn tả đợc một số suy nghĩ của đối tợng giao tiếp. Ngôn ngữ
Khoa s pham-Vt lý 48
23
Khoỏ lun tt mghip Nguyn Th Du
càng mềm mỏng càng thu hút đợc sự chú ý, sự linh hoạt nhạy bén của ngôn ngữ có
thể mang lại sự thích thú, sự tập chung của ngời nghe và giao tiếp đạt kết quả tốt.
1.4.3.2 Năng lực giáo dục
- Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh: Mọi hoạt động s
phạm phải nhằm hình thành lên những chất liệu, phẩm chất và năng lực để dệt
lên nhân cách của học sinh. Dựa vào mục đích giáo dục, yêu cầu đào tạo hình dung
trớc cần phải giáo dục cho từng học sinh những phẩm chất nhân cách nào và hớng
hoạt động của mình để đạt tới hình mẫu chọn vẹn của con ngời mới.
- Năng lực giao tiếp s phạm: Hình thức chủ yếu của công tác giáo dục và
học tập diễn ra trong điều kiện giao tiếp: giảng bài, phụ đạo, thi cử, công tác cá
biệt, lao động, vui chơiKhông có giao tiếp thì hoạt động của giáo viên - học sinh
không thể diễn ra.
Là năng lực nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những
tâm lý bên trong của học sinh và bản thân, đồng thời biết sử dụng hợp lý các phơng
tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều chỉnh quá trình giao tiếp
nhằm đạt mục đích giáo dục.
[2; 215-230]
Thông qua giao tiếp giáo viên có thể hiểu học sinh nhiều hơn sâu sắc hơn.
Việc giáo viên thờng xuyên giao tiếp với học sinh nó cũng thể hiện sự gần giũ quan
tâm hơn của giáo viên dành cho học sinh của mình. Đôi khi chỉ là những câu hỏi rất
bình thờng nh: Gặp học sinh thì mỉm cời hay thấy một học sinh mặt đang nhăn nhó
thì hỏi làm sao vậy em? hoặc một học sinh hôm trớc bị ốm nghỉ học hôm nay đã
đến lớp thì hỏi em ốm đã đỡ nhiều cha? có gắng giữ gìn sức khoẻ nhé!những
câu rất đơn giản hay những cử chỉ mang tính xã giao nhng nó cũng tạo đợc sự gần

- Năng lực khéo léo đối xử s phạm: Theo I.V.Xtrakhốp cái chủ yếu trong
sự khéo léo đối sử s phạm là kỹ năng tìm ra những phơng thức tác động đến học
sinh một cách hiệu quả nhất, là sự cân nhắc đúng đắn những nhiệm vụ s phạm cụ
thể phù hợp với đặc điểm khả năng của các nhân cũng nh tập thể học sinh trong
từng tình huống s phạm cụ thể
Nó đợc biểu hiện dới nhiều khía cạnh: Sự nhạy bén về mức độ sử dụng bất
kỳ mọi tác động s phạm nào (khuyến khích, trách phạt, hay ra lệnhnhững tác
động này quá lời quá mức có thể dẫn đến phản s phạm). Nhanh chóng xác định
đợc vấn đề vấn đề xảy ra và kịp thời áp dụng những biện pháp thích hợp, không
thô bạo, nóng vội, chủ động, giải quyết một cách mau lẹ những vấn đề phức tạp
đặt ra trong công tác dạy học và giáo dục .
Tài ứng xử s phạm không gì khác hơn là một bộ phận của nghệ thuật s
phạm. Cơ sở hình thành nên nó cũng là do lơng tâm nghề nghiệp, niềm tin yêu và
lòng tôn trọng ngời mà mình dạy dỗ, tinh thông nghề nghiệp
[2; 189-200]
Khả năng ứng sử của giáo viên trong các tình huống xảy ra tại trờng học
cũng nh ngoài trờng học giúp cho học sinh tự cảm nhận đợc hành vi và thay đổi
Khoa s pham-Vt lý 48
25

Trích đoạn Thực trạng về sự quan tâm của giáo viên chủ nhiệm Chơng 3: Một số giải pháp nhằm thoả mãn nhu cầu về sự quan tâm của giáo viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status