Ôn thi đại học môn văn – Bình giảng bài thơ "Tràng giang" của Huy Cận - Pdf 17

Ôn thi đại học môn văn –phần 32

Bình giảng bài thơ "Tràng giang" của Huy Cận 1.Đời người không khỏi có những lúc bước chân lang thang đưa
ta đến những sông hồ, bờ bãi, biển cồn, núi cao, đèo dốc…
những không gian trời nước mênh mông. Nghĩa là ta sẽ phải đối
diện với cái vô cùng vô tận của không gian, cái vô thủy vô chung
của thời gian. Khi ấy, ngay cả những người vô tâm nhất cũng
không tránh khỏi cảm giác cô đơn. Bởi người ta thấy rõ hơn bao
giờ hết rằng con người thật là nhỏ nhoi, kiếp người chỉ là thoáng
chốc. Đời người sao quá phù du! Ta bỗng thấy mình như đang
bơ vơ lưu lạc giữa cái mênh mông của đất trời, trôi nổi trong cái
xa vắng, rợn ngợp của thời gian. Ta bỗng thấy cái chơi vơi giữa
thế gian này! … Ấy là lúc có thể đọc thơ Huy Cận. Bởi đó là thế
giới của Lửa thiêng, thế giới của Tràng giang. Thi sĩ đã cất lên
giùm ta cái cảm xúc, cái nỗi niềm nhân thế đó.

Ngày trước, để bênh vực cho bài Tràng giang (cũng là bênh vực
cho Thơ Mới), người ta đã phải viện ra cái kỉ niệm của một chiến
sĩ nào đó mà rằng: một người cách mạng như thế cũng rất yêu
hai câu đầu của bài Tràng giang, vậy bài thơ này là lành mạnh,
nỗi buồn ở đấy là trong sáng, chứ không có hại gì! Rồi ngay cả
Xuân Diệu cũng phải lập cả một hàng rào che quanh để bênh vực
cho lòng yêu thiên nhiên của bài thơ. Không, lòng yêu thiên nhiên
tạo vật tự nó là một giá trị, ngang hàng với những tình yêu khác.
Lòng yêu thiên nhiên là một cảm xúc thuộc về nhân tính. Tự nó
không cần bảo vệ!

Tràng giang không nhất thiết phải là sông Hồng, sông Cửu Long,


Có lẽ cái chất thơ của sông nước đã nhập vào những câu thơ thế
này để phô bày vẻ đẹp của nó. Câu thứ nhất tả sóng, câu thứ hai
tả những dòng trôi, những luồng nước trên mặt sông. Nếu câu
thứ nhất gợi được những vòng sóng đang loang ra, lan xa, gối
lên nhau, xô đuổi nhau đến tận chân trời, thì câu thứ hai lại vẽ ra
những luồng nước cứ song song, rong ruổi mãi về cuối trời.
Không gian vừa mở ra bề rộng, vừa vươn theo chiều dài. ĐÚng
là nó có thấp thoáng âm hưởng hai câu thơ cũng tả sông nước
trong bài Đăng cao nổi tiếng của Đỗ Phủ:

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
(Ngàn cây bát ngát, lá rụng xào xạc,
Dòng sông dằng dặc, nước cuồn cuộn trôi)

Cũng là đối xứng, nhưng Đỗ Phủ viết theo lối đối chọi, còn Huy
Cận- có cải biên, chỉ dùng tương xứng thôi. Cũng dùng những từ
láy nguyên để gợi tả, trong khi tác giả Đăng Cao đặt ở giữa câu,
thì tác giả Tràng giang lại đẩy xuống cuối câu. Nhờ thế hai từ láy
nguyên “điệp điệp”, “song song” tạo ra được dư ba. Nghĩa là lời
thơ đã ngừng mà Ý hướng và âm hưởng vẫn còn vang vọng như
dội mãi vào vô biên. Dòng sông lớn mang trong lòng một nỗi
buồn lớn!

Suốt dọc bài thơ, Huy Cận còn dày công khắc họa vẻ mênh mông
vô biên bằng biết bao chi tiết giàu tính nghệ thuật nữa. Vừa dùng
cái lớn lao để gợi sự mênh mông, vừa dùng cái hữu hạn để gợi
sự vô cùng. Ấy là hàng trăm ngả sông, những cồn đất, những bờ
xanh, bãi vàng, lớp lớp mây cao đùn núi bạc, ấy là một cành củi

Thế mới lạ, không có chữ nào lạ hóa, mà vẫn mới lạ. Thế mới
biết, chính cảm xúc mới lạ làm nên cái mới lạ chân chính cho
nghệ thuật.

3. Là một người thuộc lớp tây học, nhưng tâm hôn tác giả Lửa
thiêng lại thấm đẫm Đường thi, nên không gian Tràng giang cứ
lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc
diễn tả cái trạng thái tĩnh của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã
quan niệm, tĩnh là gốc của động, tĩnh là cội nguồn của thế giới.
Cùng với nó, tĩnh tại và thanh vắng cũng trở thành một tiêu chuẩn
mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về
thiên nhiên. Tái tạo cái tĩnh vắng mênh mông trong nghệ thuật
được xem là tái tạo hư không, một hư không chứa đầy âm nhạc,
chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như
thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa
được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của
Tràng giang được cảm nhận bằng nỗi cô đơn bơ vơ. Có lẽ vì thế
mà Tràng giang còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối
hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái Tôi ấy
đi tìm kiếm sự cảm thông của đồng loại. Nhưng con người hoàn
toàn vắng bóng.

Đúng ra con người cso thoáng xuất hiện trong hình bóng chiệc
thuyền ở đầu bài thơ. Một con thuyền “xuôi mái”, thụ động buông
trôi trên dòng nước luân lạc. Và nó cũng chỉ hiện ra thoáng chốc,
sau đó nép mình vào bờ bãi mà mất hút trên sông nước, trả lại
không gian cho sự ngự trị của muôn ngả sông, nghìn luồng sóng:

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả,
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai- Tản Đà dịch)

Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần khói
sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có
cần đến thứ khói nào để làm duyên đâu. Nhớ nhà như là để vượt
thoát, để trốn chạy nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

Lòng quê dợn dợn với con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Dòng sông chảy giữa mênh mang trời đất đến đây như bống dội
lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê. Hay chính
lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng
giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất.

Đứng trước những dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối
diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có
ta, nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau khi ta tan biến khỏi mặt
đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng
dưng không them biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ
của tràng giang là miên viễn. Đứng bên dòng sông lớn, hãy lắng
nghe nhịp triều miên viễn mênh mang. Nó là nhịp ca của vĩnh
hằng, nhịp của vũ trụ. Và hình như, Huy Cận đã chuyển dược
nhịp chảy trôi miên viễn ấy vaoaf trong bài thơ. Những từ láy,
nhất là láy nguyên “điệp điệp”, “song song”, “lớp lớp”, “dợn dợn”,
… ẩn hiện trong toàn bài không chỉ gợi được sự đường bệ mà
còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status